Tại hội thảo, các đại biểu đã được đã được các chuyên gia của UNDP thông tin về một số phát hiện, đề xuất chính từ Báo cáo giữa kỳ Chương trình Mục tiêu quốc gia giảm nghèo (CTMTQGGN) và Chương trình 135 Giai đoạn II (CT 135-2) ; Báo cáo kết quả nghiên cứu lập bản đồ chính sách giảm nghèo. Theo ông Peter Chaudhry, Cố vấn kỹ thuật cao cấp của UNDP, về mức độ phù hợp trong thiết kế, cả hai CTMTQGGN và CT 135-2 đều gắn liền với mục tiêu ưu tiên của quốc gia; đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau và đa chiều của đói nghèo; có hướng tới nhu cầu của đối tượng. Tuy nhiên thiết kế của hai chương trình vẫn chưa tập trung vào các loại cây trồng ngoài cây lương thực và chưa xử lý mức độ phụ thuộc lớn vào việc làm trong lĩnh vực nông nghiệp). CT 135-2 vẫn bị nặng về cơ sở hạ tầng. Hệ thống cung cấp chính sách theo ngành dọc nên không thể lồng ghép giữa các hợp phần trong chương trình. Cơ chế cung cấp chính sách từ trên xuống và các giải pháp áp dụng đồng loạt không phù hợp trong bối cảnh mới. Có rất nhiều điểm chồng chéo giữa hai chương trình giảm nghèo này và với Nghị quyết 30a mới ban hành dẫn tới khó khăn trong điều phối và mơ hồ trong chỉ đạo thực hiện. Về hiệu quả hoàn thành mục tiêu đặt ra, mục tiêu giảm nghèo chung thì đạt được, song khó đo lường được đóng góp của hai chương trình giảm nghèo vào việc hoàn thành mục tiêu này. CT 135-2 có tỷ lệ giải ngân tốt (75% trong giai đoạn 2006 -2008), trong khi CTMTQGGN có tỷ lệ thấp (33% so với kế hoạch giải ngân tính đến cuối năm 2008), so với mục tiêu 60% đã đặt ra. CTMTQGGN giai đoạn 2006-2008 có mức bao phủ cao hơn nhiều so với giai đoạn trước 2006. Tính liên kết giữa mục tiêu đề ra và lập kế hoạch ngân sách còn yếu. Sự tham gia của đối tượng hưởng lợi vào chương trình còn thấp. Tác động của lạm phát đến đói nghèo là đáng kể. Đã có một số cải tiến trong quá trình thực hiện hệ thống giám sát đánh giá của CT 135-2.
Về tính kinh tế và hiệu quả trong quản lý và thực hiện, các hợp phần của CTMTQGGN do các Bộ, ngành chức năng quản lý với các cơ chế khác nhau. Có rất ít điểm có thể lồng ghép để tăng mức độ hiệu quả qui mô, đồng thời lại cực kỳ phức tạp, khó quản lý. 3 hợp phần của CTMTQGGN nằm ngoài khung ngân sách thường xuyên, ngân sách không ổn định qua từng năm, gây khó khăn trong lập kế hoạch dài hạn. Mức độ đóng góp của địa phương rất thấp. Ban chỉ đạo giảm nghèo của địa phương luôn trong tình trạng quá tải, năng lực cán bộ còn nhiều hạn chế. Mới có 10% xã làm chủ đầu tư cho CTMTQGGN và 59% trong CT-1352, xong chỉ có 10% thực hiện đấu thầu công khai. Xét về mức độ hiệu quả trong xác định đối tượng, mức độ xác định đối tượng trong hợp phần cơ sở hạ tầng ở CT 135-2 nhìn chung tốt, nhưng cần cải thiện trong hợp phần sản xuất và nâng cao năng lực. ở CTMTQGGN, hệ thống xác định và rà soát hộ nghèo chậm và khó ứng dụng. Về mức độ nhận thức của đối tượng thụ hưởng đối với chất lượng các dịch vụ. Mức độ hài lòng đối với CT 135-2 cao, nhiều sáng kiến cần phát huy trog tương lai. Đối với CTMTQGGN, mức độ bao phủ trong các dự án y tế và giáo dục cao, mức độ hài lòng nhìn chung cao mặc dù các hoạt động truyền thông còn nghèo nàn. Từ những đánh giá nói trên, các chuyên gia UNDP đưa ra khuyến nghị: Trong ngắn hạn cần từng bước thực hiện quản lý trên kết quả và theo cách tiếp cận quản lý theo kết quả phát triển; Tăng cường phối hợp giữa các chương trình giảm nghèo; Tăng hiệu quả xác định đối tượng; Xây dựng và thực hiện kế hoạch tăng cường năng lực tổng thể cho các cơ quan phụ trách các chương trình giảm nghèo cả ở cấp trung ương và địa phương; Tăng cường đối thoại chính sách về cải cách khu vực Nhà nước cho giai đoạn sau 2010. Về trung và dài hạn, từng bước mở rộng thực hiện hệ thống các chính sách bảo trợ xã hội tổng thể và toàn dân cho các đối tượng dễ tổn thương; Tập trung các chương trình mục tiêu giảm nghèo cho các vùng nghèo nhất và xây dựng các gói hỗ trợ thiết kế theo nhu cầu được xác định tại địa phương, kết hợp các dự án hỗ trợ cơ sở hạ tầng và các chương trình hỗ trợ tiền mặt. Loại bỏ các điểm trùng lắp trong các chương trình và lý tưởng nhất là gói trọn các chương trình giảm nghèo lại dưới một khung “chương trình tổng thể”; Tiếp tục thực hiện tốt quản lý trên kết quả. Báo cáo về kết quả nghiên cứu lập bản đồ chính sách giảm nghèo điểm lại tất cả các dự án, các ngành, cơ quan thực hiện, ngân sách và đối tượng hưởng lợi, so sánh mục tiêu của tất cả cá dự án, chương trình giảm nghèo lúc thiết kế với khi triển khai thực hiện để xác định những hoạt động bổ sung cho nhau, những trùng lắp, khả năng phát huy sức mạnh tổng hợp, ông Richard Jones, Trưởng nhóm chuyên gia UNDP cho rằng trong 36 chính sách và dự án giảm nghèo có 75 hợp phần và tiểu hợp phần; 100 nghị định, quyết định, hướng dẫn và quy chế từ năm 2005. Hệ thống qui định phức tạp, có rất nhiều lĩnh vực can thiệp bị chồng chéo về đối tượng thụ hưởng, công tác điều hành, phối hợp lồng ghép. Về ngân sách dành cho giảm nghèo cũng có sự trùng lắp trong số liệu báo cáo.
Từ phân tích trên, các chuyên gia quốc tế đưa ra khuyến nghị: Cần tăng cường cho Chương trình giảm nghèo tại Việt Nam; Hoàn thiện hệ thống hiện hành thông qua kết hợp các dự án có mục tiêu giống nhau hoặc trong cùng lĩnh vực; Các Bộ hướng dẫn và theo dõi các tỉnh; Cấp ngân sách cho các tỉnh tự thiết kế hoạt động trên cơ sở nhu cầu thiết yếu trong các lĩnh vực giảm nghèo; Hỗ trợ tiền mặt cho người nghèo; Chuyển sang cách tiếp cận lồng ghép yếu tố giảm nghèo vào các chính sách chứ không nên bổ sung hoạt động vào các chính sách. Các chuyên gia cũng kiến nghị các nghiên cứu tiếp theo cần phân tích sâu hơn về các dự án giảm nghèo theo ngành như giáo dục và nông nghiệp; ngân sách cho giảm nghèo và chuẩn hoá báo cáo về các chương trình giảm nghèo; đánh giá các văn bản pháp qui liên quan đến các chương trình giảm nghèo để khắc phục tình trạng chồng chéo và nhầm lẫn ./.