Websites liên kết
Thống kê truy cập

Trực tuyến  :

15346

Đã truy cập :

48290210
Tình hình kinh tế xã hội

Chương trình hành động của BCH Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng

5 năm qua, trong bối cảnh còn nhiều khó khăn, thách thức, nhưng được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, sự phối hợp, giúp đỡ của các bộ, ban, ngành Trung ương, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã đoàn kết, nỗ lực phấn đấu thực hiện t

Tuy nhiên, tỉnh ta cũng đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức lớn, đan xen nhau, trong đó ngoài những nhân tố khách quan xuất phát từ những yêu cầu, đòi hỏi của quá trình hội nhập quốc tế, còn có những nhân tố chủ quan từ chính những tồn tại, yếu kém của tỉnh như Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII đã chỉ ra. Nhiệm vụ của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong tỉnh lúc này là phải tranh thủ cơ hội, vượt qua thách thức, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ, để đưa tỉnh ta phát triển với tốc độ nhanh và bền vững hơn.

Quán triệt tinh thần Nghị quyết Đại hội X của Đảng và xuất phát từ tình hình thực tế, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đề ra Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết trong giai đoạn 2006 - 2010 gồm những nội dung chủ yếu sau:

1- Tổ chức tốt việc triển khai nghiên cứu, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng:

Cấp uỷ, tổ chức Đảng ở tất cả các cấp, các ngành, các địa phương, cơ quan, đơn vị phải tổ chức tốt việc triển khai nghiên cứu, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, tạo sự thống nhất cao trong nhận thức, tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân về các quan điểm, chủ trương, đường lối, mục tiêu, nhiệm vụ nêu trong Nghị quyết, xây dựng chương trình hành động cụ thể và tạo phong trào thi đua sôi nổi, rộng khắp, mạnh mẽ trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết.

Việc tổ chức nghiên cứu, quán triệt Nghị quyết trong cán bộ, đảng viên phải thực sự đổi mới, thiết thực và thực hiện tuyên truyền Nghị quyết sâu rộng trong nhân dân dưới nhiều hình thức đa dạng, sát với từng đối tượng, tập trung vào những nội dung cơ bản, đặc biệt là những vấn đề mới trong Nghị quyết, không dàn trải, chung chung.

2- Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tạo bước phát triển mạnh mẽ, đồng bộ các ngành, các lĩnh vực kinh tế theo hướng bền vững:

Nhiệm vụ trung tâm của toàn Đảng bộ là lãnh đạo thực hiện đạt và vượt các chỉ tiêu phát triển kinh tế mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII đã đề ra. Việc tổ chức triển khai thực hiện phải khoa học, chặt chẽ, có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào các nội dung:

- Tích cực huy động mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển, khuyến khích đầu tư trực tiếp vào sản xuất kinh doanh; tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, phát huy có hiệu quả các tiềm năng và lợi thế của tỉnh; phấn đấu nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao (GDP tăng bình quân 13-14%/năm), có chất lượng và bền vững.

Chủ động, tích cực triển khai xây dựng Khu Kinh tế Vân Đồn và các công trình hạ tầng có ý nghĩa chiến lược cho sự phát triển đã được xác định tại Nghị quyết số 54-NQ/TW ngày 14/9/2005 của Bộ Chính trị và Quyết định số 145/2004/QĐ-TTg ngày 13/8/2004 của Thủ tướng Chính phủ. Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan Trung ương, các Tập đoàn kinh tế lập, trình Chính phủ phê duyệt Đề án Khu Tổ hợp cảng và công nghiệp tại huyện Hải Hà và có kế hoạch triển khai thực hiện. Xây dựng chương trình thực hiện Chiến lược về biển phù hợp với đặc thù biển, đảo của tỉnh.

- Duy trì tốc độ phát triển cao đi đôi với nâng cao chất lượng, hiệu quả sản xuất công nghiệp. Phấn đấu giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 19 - 20%/năm, để Quảng Ninh không những là trung tâm sản xuất than mà còn là trung tâm nhiệt điện chạy than, xi măng, đóng tàu lớn hàng đầu của cả nước. Phát triển sản xuất than đảm bảo nhu cầu của nền kinh tế đất nước là chính, xuất khẩu để đáp ứng nhu cầu đầu tư, đổi mới thiết bị hiện đại của ngành, phấn đấu đến năm 2010 sản lượng than sạch đạt 40 - 45 triệu tấn. Phối hợp với ngành điện hoàn thành việc cải tạo, mở rộng và đẩy nhanh tiến độ thi công các nhà máy nhiệt điện, phấn đấu đến năm 2010, tổng công suất điện đạt 2.000 - 2.200 MW. Đẩy nhanh tiến độ đầu tư các nhà máy xi măng, phấn đấu đến năm 2010 sản lượng xi măng đạt trên 6 triệu tấn. Hoàn thiện việc đầu tư xây dựng cơ sở công nghiệp đóng tàu tại Cái Lân, đồng thời phát triển, mở rộng các dịch vụ sửa chữa tàu biển. Đẩy mạnh đầu tư hạ tầng các khu công nghiệp đã được Chính phủ phê duyệt. Việc phát triển các ngành công nghiệp phải tuân thủ quy hoạch được duyệt và đảm bảo yếu tố phát triển bền vững, hạn chế, giảm thiểu những tác động xấu đến các ngành kinh tế khác và ô nhiễm môi trường trên địa bàn.

- Phát triển đa dạng các lĩnh vực dịch vụ, khuyến khích đầu tư phát triển các dịch vụ mới, chất lượng cao, tạo điều kiện thúc đẩy các ngành kinh tế khác; phấn đấu tốc độ tăng trưởng khu vực dịch vụ đạt 15-16%/năm. Đẩy mạnh công tác đầu tư, quảng bá, xúc tiến, hợp tác du lịch, phát triển nhiều sản phẩm du lịch mới, phấn đấu đến năm 2010 đón 5 triệu lượt khách, trong đó có 2,2 triệu lượt khách quốc tế. Phát triển và nâng cao chất lượng các hoạt động thương mại; tiếp tục huy động và khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư, quản lý các cơ sở vật chất phục vụ hoạt động thương mại, phấn đấu tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá bình quân đạt 15%/năm. Tiếp tục đầu tư củng cố, nâng cấp và phát triển hệ thống hạ tầng giao thông - vận tải; phối hợp, tạo điều kiện để hoàn thành một số công trình giao thông trọng điểm; đề nghị Trung ương có cơ chế để triển khai xây dựng tuyến đường cao tốc Nội Bài - Hạ Long - Móng Cái, xây dựng sân bay Vân Đồn, cầu Vân Tiên và các trục giao thông chính của Khu Kinh tế Vân Đồn; quan tâm phát triển mạng lưới giao thông nông thôn, giao thông miền núi; hoàn thiện và khai thác tốt hạ tầng các cảng biển hiện có (nhất là Cảng Cái Lân), xây dựng, hiện đại hóa các cảng biển và mở rộng các loại hình dịch vụ hàng hải. Mở rộng và đa dạng hóa các dịch vụ tài chính. Khuyến khích đấu thầu một số dịch vụ công ích.

- Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chương trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn. Phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá, phấn đấu giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp tăng bình quân 5,3-5,5%/năm. Có chương trình cụ thể để tạo sự chuyển biến rõ nét việc chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi; khai thác, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên đất đai, lao động và các nguồn vốn phục vụ phát triển sản xuất nông nghiệp. Đổi mới cơ cấu và nâng cao chất lượng đàn gia súc, gia cầm; khuyến khích phát triển chăn nuôi theo quy mô công nghiệp. Khẩn trương phân loại rừng để sử dụng hiệu quả vốn rừng; khuyến khích phát triển rừng sản xuất, từng bước hình thành vùng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến gỗ, chế biến bột giấy; tiếp tục phát triển vùng cây đặc sản (chè, hồi, quế); tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng, phấn đấu đến 2010 nâng tỷ lệ che phủ rừng lên 50%. Phát triển thuỷ sản đồng bộ trên cơ sở điều chỉnh lại quy hoạch và tích cực áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào lĩnh vực nuôi trồng, có các biện pháp bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, quan tâm thoả đáng đến chế biến và dịch vụ hậu cần nghề cá; phấn đấu đến năm 2010 đạt sản lượng trên 70 ngàn tấn, giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 70-80 triệu USD. Quan tâm đầu tư cải thiện và phát triển hạ tầng khu vực nông thôn, nhất là những vùng khó khăn để giảm khoảng cách vùng, miền. Thường xuyên tuyên truyền, hướng dẫn nông dân tổ chức cuộc sống theo hướng văn minh, hiện đại.

- Phát triển các lĩnh vực kinh tế phải đi đôi với bảo vệ môi trường. Trong những năm tới phải quan tâm đặc biệt đến việc bảo vệ môi trường sinh thái Vịnh Hạ Long, Vịnh Bái Tử Long và đầu tư cải thiện cảnh quan môi trường tự nhiên, tạo sự chuyển biến tích cực và đồng bộ trong công tác gìn giữ, bảo vệ môi trường. Tập trung khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường ở các khu công nghiệp, khu vực khai thác khoáng sản, khu đô thị, khu du lịch và một số vùng nông thôn gần khu công nghiệp, cụm công nghiệp. Tiếp tục cải tạo, nâng cấp hệ thống cấp, thoát nước; xây dựng các nhà máy xử lý nước thải, chất thải và các khu vực chứa chất thải của các đô thị, các khu công nghiệp. Các cơ sở sản xuất mới phải xây dựng, áp dụng công nghệ sạch hoặc được trang bị các thiết bị đảm bảo xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn bảo vệ môi trường. Đẩy mạnh chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường khu vực nông thôn. Tăng cường công tác quản lý Nhà nước về môi trường; thường xuyên kiểm soát ô nhiễm và ứng cứu sự cố môi trường kịp thời.

3- Hoàn thiện đồng bộ hệ thống cơ chế, chính sách, huy động tốt các nguồn lực cho đầu tư phát triển.

- Thực hiện việc rà soát, bổ sung các cơ chế chính sách một cách đồng bộ nhằm cải thiện năng lực cạnh tranh, tạo môi trường thuận lợi, bình đẳng, công khai và minh bạch, có trật tự, kỷ cương để thu hút các nhà đầu tư và huy động nguồn lực từ các khu vực, các thành phần kinh tế cho đầu tư phát triển, thực hiện tốt mục tiêu tăng trưởng kinh tế gắn với phát triển các lĩnh vực văn hoá - xã hội.

- Thực hiện có kết quả các chính sách về tài chính, tín dụng nhằm đáp ứng cao nhất cho nhu cầu phát triển. Động viên hợp lý và khai thác triệt để các nguồn thu cho ngân sách trên cơ sở tiếp tục đẩy mạnh phân cấp nhưng đảm bảo nguyên tắc ngân sách tỉnh giữ vai trò chủ đạo, điều tiết vĩ mô trong quản lý tài chính địa phương. Nâng cao hiệu quả tài chính công, hiệu quả sử dụng vốn Nhà nước. áp dụng rộng rãi cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính trong các đơn vị hành chính, sự nghiệp. Triệt để thực hành tiết kiệm trong chi ngân sách, chống lãng phí, ưu tiên dành vốn đầu tư cho các công trình, dự án kinh tế - xã hội trọng điểm. Khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn tín dụng, mở rộng màng lưới và phát triển mạnh các dịch vụ ngân hàng hiện đại.

- Chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả, chống thất thoát và lãng phí trong đầu tư, nhất là những lĩnh vực, những công trình, dự án đầu tư từ ngân sách, từ các nguồn vốn tài trợ, hỗ trợ. Thực hiện tốt việc bố trí cơ cấu đầu tư trên cơ sở thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đáp ứng cho phát triển các vấn đề về xã hội. Chủ động tranh thủ sự hỗ trợ của Trung ương và phối hợp chặt chẽ với nhà đầu tư sớm triển khai một số dự án trọng điểm.

4- Mở rộng quan hệ hợp tác và đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài.

- Tăng cường liên kết hợp tác song phương và đa phương trong phát triển kinh tế giữa Quảng Ninh với các tỉnh trong Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và với các vùng kinh tế trong nước. Chủ động, tích cực tham gia chương trình “2 hành lang, 1 vành đai kinh tế” trong quan hệ hợp tác Việt Nam - Trung Quốc.

- Tiếp tục mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại. Khuyến khích đầu tư vào các khu công nghiệp, vào các ngành công nghệ cao, các sản phẩm dịch vụ cao cấp; tạo điều kiện thuận lợi để các dự án đầu tư trong và ngoài nướcđã được cấp phép triển khai hoạt động. Khai thác, sử dụng có hiệu quả cácnguồn vốn tài trợ, nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)… để xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển sự nghiệp y tế, giáo dục, khoa học công nghệ và bảo vệ môi trường.

- Tích cực tham gia hội nhập kinh tế quốc tế theo tinh thần Nghị quyết 07 của Bộ Chính trị. Nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp để chủ động tham gia tiến trình hội nhập.

5- Phát triển tương xứng, đồng bộ các lĩnh vực văn hoá - xã hội.

- Nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo một cách toàn diện để đáp ứng nhu cầu học tập, nâng cao dân trí của nhân dân và góp phần đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đẩy mạnh đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục, xây dựng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục đáp ứng yêu cầu. Đến năm 2010 hoàn thành mục tiêu kiên cố hoá các trường học trong toàn tỉnh và nâng tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia lên 45%. Đẩy mạnh xã hội hoá trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo; phát triển các cơ sở ngoài công lập, chuyển một số cơ sở công lập sang loại hình ngoài công lập. Xây dựng 1-2 trường đại học đa ngành, củng cố và hiện đại hoá cơ sở vật chất các trường dạy nghề, trung học, cao đẳng hiện có. Tăng cường công tác quản lý Nhà nước về giáo dục, chỉ đạo tổ chức thực hiện có hiệu quả cuộc vận động “nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”, đảm bảo sự phát triển lành mạnh về giáo dục - đào tạo trên địa bàn.

- Tiếp thu, làm chủ tiến bộ khoa học và công nghệ mới. Ưu tiên phát triển công nghệ ứng dụng phục vụ sản xuất; đổi mới và tăng cường công tác quản lý khoa học, công nghệ. Tập trung nghiên cứu, điều tra cơ bản các nguồn tài nguyên, điều kiện tự nhiên... đảm bảo yêu cầu khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên trong thời gian tới. Đẩy mạnh chương trình ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin trong quản lý và các lĩnh vực của đời sống xã hội.

- Nâng cao chất lượng công tác y tế và các dịch vụ chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân. Tiếp tục củng cố và hoàn thiện mạng y tế cơ sở. Hoàn thành nâng cấp một số bệnh viện địa phương thành bệnh viện đa khoa khu vực; nâng cấp, cải tạo, mở rộng một số bệnh viện tuyến tỉnh. Duy trì 100% trạm y tế xã có đủ điều kiện hoạt động, có bác sĩ và nữ hộ sinh trong biên chế. Đến năm 2010, trên 70% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế. Đẩy mạnh xã hội hoá công tác y tế và các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân. Đến năm 2010, chuyển phần lớn các bệnh viện công lập sang hoạt động theo cơ chế cung ứng dịch vụ ở những địa phương có đủ điều kiện.

- Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đi đôi với phát triển kinh tế - xã hội. Tập trung xây dựng các thiết chế văn hoá, phát huy các giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể. Đổi mới và nâng cao chất lượng các hoạt động văn hoá, văn học nghệ thuật, thông tin tuyên truyền, báo chí, phát thanh - truyền hình; chú trọng phát triển mạng lưới ở cơ sở phục vụ cho công tác tuyên truyền, góp phần nâng cao dân trí. Đẩy mạnh phong trào thể dục thể thao để góp phần nâng cao sức khoẻ nhân dân, phát triển các môn thể thao dân tộc, duy trì và phát huy các môn thể thao có thế mạnh của tỉnh. Khuyến khích phát triển các cơ sở thể dục thể thao ngoài công lập, các tổ chức xã hội về thể dục thể thao. Phấn đấu xây dựng và đưa vào sử dụng Nhà hát Hạ Long, Sân vận động trung tâm tại thành phố Hạ Long. Đến 2010, chuyển phần lớn các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc ngành văn hoá thông tin, thể dục thể thao sang hoạt động theo cơ chế cung ứng dịch vụ.

- Phát triển các lĩnh vực xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Tiếp tục thực hiện chương trình phát triển kinh tế - xã hội miền núi, hải đảo. Có các giải pháp phù hợp để thực hiện quy hoạch phát triển nhà ở. Thực hiện hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia và đẩy mạnh công tác xã hội hoá trong xoá đói giảm nghèo. Phấn đấu đến năm 2010 giảm số hộ nghèo xuống dưới 5%. Thực hiện có kết quả chương trình giải quyết việc làm, tạo nhiều việc làm mới. Chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu lao động theo hướng tăng nhanh lao động ở khu vực phi nông nghiệp. Tăng cường công tác an toàn lao động để giảm tai nạn lao động; tập trung phòng ngừa và giải quyết các tệ nạn xã hội, nhất là ma túy, cờ bạc, mại dâm, phòng chống buôn bán phụ nữ và trẻ em qua biên giới.

6- Thực hiện tốt nhiệm vụ quốc phòng - an ninh và chiến lược cải cách tư pháp.

- Tập trung xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vững mạnh toàn diện. Thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 8 (khoá IX) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa phát triển kinh tế với đảm bảo quốc phòng, an ninh. Từng bước củng cố, tăng cường tiềm lực của khu vực phòng thủ. Chỉ đạo chặt chẽ và thực hiện nghiêm việc phân giới, cắm mốc biên giới. Xây dựng mối quan hệ láng giềng, xây dựng đường biên giới hoà bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ quốc gia.

- Kiên quyết đấu tranh trấn áp các loại tội phạm và tệ nạn xã hội, làm giảm trọng án, không để hình thành các tụ điểm, các băng, ổ nhóm tội phạm nguy hiểm, đảm bảo môi trường an toàn, an ninh, trật tự, tuân thủ pháp luật, phục vụ cho sự phát triển. Tăng cường các biện pháp đảm bảo an toàn giao thông để chủ động phòng ngừa và giảm tai nạn giao thông.

- Tiếp tục thực hiện tốt nhiệm vụ cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết 08 và Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị, xây dựng các cơ quan bảo vệ pháp luật trong sạch, vững mạnh. Phối kết hợp chặt chẽ trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm và những vấn đề có liên quan đến an ninh quốc gia, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội; hạn chế đến mức thấp nhất những vi phạm, tiêu cực và sai sót trong thi hành pháp luật.

7- Nâng cao vai trò và hiệu lực của bộ máy chính quyền các cấp; đẩy mạnh cải cách hành chính; phát huy dân chủ trong đời sống xã hội.

- Chú trọng đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp thông qua việc quyết định những vấn đề lớn, quan trọng của địa phương và các hoạt động giám sát việc thực hiện nghị quyết của hội đồng nhân dân, việc thực thi pháp luật trên địa bàn. Đổi mới công tác tiếp xúc cử tri, kịp thời chuyển tải và theo dõi, đôn đốc việc giải quyết kiến nghị của nhân dân.

- Thực hiện có hiệu quả chương trình cải cách hành chính, thực hiện nghiêm quy trình và công khai các thủ tục hành chính trong giải quyết công việc của cơ quan Nhà nước để nhân dân biết, thực hiện và giám sát việc thực hiện.

- Đề cao vai trò, hiệu lực quản lý Nhà nước ở các cấp, các ngành, trong đó phải đặc biệt coi trọng và tập trung làm tốt việc định hướng phát triển bằng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch. Nâng cao chất lượng quy hoạch và thực hiện nghiêm quy hoạch được duyệt. Tăng cường công tác quản lý quy hoạch; chủ động rà soát, kịp thời điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu phát triển. Từng bước hiện đại hoá bộ máy hành chính theo hướng áp dụng công nghệ quản lý tiên tiến và tin học hoá. Tăng cường công tác quản lý Nhà nước và nâng cao chất lượng tham mưu trên các lĩnh vực. Tiếp tục sắp xếp, kiện toàn bộ máy, quy định rõ chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan quản lý Nhà nước. Chú trọng bồi dưỡng, trang bị kiến thức cho cán bộ quản lý và doanh nghiệp; đổi mới, điều chỉnh chính sách thu hút nhân tài về công tác tại tỉnh. Đề cao kỷ luật, kỷ cương hành chính và trách nhiệm người đứng đầu trong tổ chức, thực thi nhiệm vụ. Xử lý nghiêm và kiên quyết đưa ra khỏi bộ máy công quyền những cán bộ, công chức tham nhũng, thoái hoá, biến chất, sách nhiễu nhân dân, đồng thời thay thế những người không đáp ứng được yêu cầu công việc được giao.

- Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thanh tra; phát huy trách nhiệm của cả hệ thống chính trị trong việc giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của nhân dân. Đẩy mạnh thực hiện quy chế dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, nâng cao ý thức tự giác chấp hành của nhân dân trong thực thi pháp luật.

8- Tích cực phòng ngừa và kiên quyết chống tham nhũng, lãng phí.

- Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí là một nhiệm vụ trọng tâm, trực tiếp, thường xuyên của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Các cấp uỷ và tổ chức Đảng phải tổ chức triển khai có hiệu quả Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 (khoá X) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí; thực hiện nghiêm Luật Phòng, chống tham nhũng và Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, nhằm khắc phục và đẩy lùi tình trạng tham nhũng, lãng phí trong các lĩnh vực của đời sống. Có các biện pháp, cơ chế huy động cả hệ thống chính trị, toàn xã hội và hệ thống các cơ quan báo chí tham gia đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, làm trong sạch bộ máy chính quyền các cấp. Làm rõ trách nhiệm của người đứng đầu khi để xảy ra tình trạng tham nhũng, lãng phí trong cơ quan, đơn vị mình; xử lý nghiêm những người cố tình bao che, ngăn cản việc chống tham nhũng, lãng phí; bảo vệ, biểu dương những người có thành tích đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí.

- Tăng cường và nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát của các cơ quan bảo vệ và thực thi pháp luật, cơ quan kiểm tra của Đảng; phát huy vai trò của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể nhân dân, các phương tiện thông tin đại chúng và nhân dân trong việc giám sát cán bộ và cơ quan công quyền trong thực thi nhiệm vụ.

9- Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.

- Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân phải đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, vận động để giúp cho người dân hiểu rõ, hiểu sâu và thực hiện có kết quả chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tích cực tham gia phong trào thi đua yêu nước, qua đó tạo được phong trào quần chúng trong việc thực hiện nghị quyết, đưa nghị quyết vào cuộc sống; tập hợp được những đề xuất, kiến nghị của các tầng lớp nhân dân trong xây dựng Đảng, chính quyền và những tâm tư, nguyện vọng, những khó khăn vướng mắc, bức xúc trong nhân dân. Thực hiện tốt vai trò tư vấn, phản biện xã hội và chức năng giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và giám sát của nhân dân trong việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, trong thực hiện quy chế dân chủ. Phát huy tốt vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong xây dựng Đảng, chính quyền.

- Thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước; chú trọng chăm lo đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện mức sống dân cư vùng đồng bào dân tộc thiểu số; thực hiện các giải pháp nhằm thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng dân cư, giữa các dân tộc.

 

- Tôn trọng tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của công dân; tạo điều kiện cho các tôn giáo được Nhà nước công nhận hoạt động theo đúng chính sách, pháp luật và đồng bào có đạo sống “tốt đời, đẹp đạo”, cùng nhau xây dựng, phát triển quê hương. Đấu tranh làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc, nhân quyền để phá hoại khối đoàn kết dân tộc.

10- Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.

Nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn hiện nay là phải tiếp tục tự đổi mới, tự chỉnh đốn Đảng, tăng cường bản chất giai cấp công nhân và tính tiền phong, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, đoàn kết nhất trí cao, gắn bó mật thiết với nhân dân, có phương thức lãnh đạo khoa học, có đội ngũ cán bộ, đảng viên đủ phẩm chất và năng lực, trong đó tập trung vào các nhiệm vụ chủ yếu sau đây:

- Đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức về quan điểm, đường lối của Đảng và việc quán triệt, vận dụng ở địa phương. Tiếp tục đổi mới phương pháp để nâng cao tính thiết thực, tính hiệu quả, tính chiến đấu và sức thuyết phục của công tác tư tưởng.

- Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) và cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí. Củng cố, kiện toàn hệ thống tổ chức Đảng; giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ; đổi mới nội dung và hình thức sinh hoạt Đảng; tăng cường quản lý cán bộ, đảng viên; phát huy dân chủ, sự đoàn kết thống nhất, đề cao ý thức tự phê bình và phê bình, giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương trong Đảng. Làm tốt công tác phát triển Đảng và công tác bảo vệ chính trị nội bộ Đảng.

- Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra Đảng. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, tập trung vào kiểm tra, giám sát việc chấp hành chỉ thị, nghị quyết của Đảng và kiểm tra tổ chức Đảng, đảng viên có dấu hiệu vi phạm. Kết luận làm rõ và xử lý kịp thời, nghiêm minh những tổ chức Đảng, đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng.

- Mở rộng và phát huy dân chủ trong Đảng một cách thiết thực, đi đôi với việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ. Các cấp lãnh đạo và cán bộ lãnh đạo phải sâu sát cơ sở, thật sự lắng nghe ý kiến của cấp dưới, của đảng viên và của nhân dân trong giải quyết công việc của Đảng và của xã hội.

- Tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp, quy trình công tác cán bộ theo hướng thật sự dân chủ, khoa học, nhằm tạo bước chuyển biến cơ bản trong công tác cán bộ. Thực hiện có chất lượng, hiệu quả công tác quy hoạch cán bộ theo tinh thần Nghị quyết 42 của Bộ Chính trị (khoá IX). Xây dựng đội ngũ cán bộ năng động, có bản lĩnh chính trị, đạo đức, trí tuệ và năng lực lãnh đạo, đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo kế tiếp và người đứng đầu tổ chức các cấp, các ngành của cả hệ thống chính trị có bản lĩnh vững vàng, có năng lực ngang tầm nhiệm vụ trong thời kỳ mới.

- Đổi mới phương thức, nội dung, lề lối làm việc của cấp uỷ theo hướng thiết thực, hiệu quả, phát huy cao nhất vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu; thực hiện nghiêm quy chế làm việc trong các hoạt động của cấp uỷ. Chăm lo xây dựng, củng cố các cơ quan xây dựng Đảng, nâng cao chất lượng nghiên cứu, đề xuất, tham mưu, hướng dẫn, kiểm tra của các cơ quan tham mưu cho cấp uỷ. Cải tiến việc ban hành các văn bản của cấp uỷ, các chỉ thị, nghị quyết, quyết định của cấp uỷ phải xuất phát từ thực tiễn, chọn lọc những vấn đề thiết yếu, để khi ban hành có tính khả thi cao. Cấp uỷ các cấp phải xây dựng cụ thể chương trình công tác, tổ chức thực hiện khoa học để việc lãnh đạo, chỉ đạo đạt hiệu quả cao.

Tổ chức thực hiện: Trên cơ sở Chương trình hành động của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X và căn cứ nhiệm vụ chính trị của đơn vị mình, các cấp uỷ Đảng, các ban cán sự Đảng, Đảng đoàn, thủ trưởng các cơ quan, ban, ngành, các đơn vị trong tỉnh xây dựng chương trình, kế hoạch và có giải pháp tổ chức thực hiện cụ thể trong từng thời gian và cả nhiệm kỳ; đồng thời thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc triển khai chương trình hành động thực hiện Nghị quyết nhằm tạo chuyển biến tích cực, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII.

Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh giao cho Ban Thường vụ Tỉnh uỷ chỉ đạo, tổ chức việc thực hiện chương trình hành động và định kỳ kiểm tra, báo cáo kết quả với Ban Chấp hành.


Số 06 - CTr/TƯ ngày 25 - 9 - 2006


CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH QUẢNG NINH
© Cơ quan chủ quản: Ủy ban nhân dân Tỉnh Quảng Ninh
Giấy phép xuất bản: số 68/GP-TTĐT ngày 22/08/2008
Chịu trách nhiệm chính: Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Quảng Ninh
Địa chỉ: Tầng 8, Trụ sở Liên cơ quan số 2, Nguyễn Văn Cừ, Phường Hồng Hà, TP. Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
Email: banbientap@quangninh.gov.vn