I. ĐẢNG CỘNG SẢN
VIỆT NAM RA ĐỜI NĂM 1930 MỞ RA BƯỚC NGOẶT LỊCH SỬ CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM
1. Bối cảnh lịch
sử ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam
a. Bối cảnh
quốc tế cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
- Chủ nghĩa tư bản
chuyển từ tự do cạnh tranh sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa.Các nước tư
bản đế quốc vừa tăng cường bóc lột nhân dân lao động trong nước vừa xâm
lược và áp bức nhân dân các dân tộc thuộc địa. Sự thống trị của chủ
nghĩa đế quốc làm cho đời sống nhân dân lao động các nước trở nên cùng
cực. Mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa thực dân ngày
càng gay gắt. Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc diễn ra mạnh mẽ ở
các nước thuộc địa.
- Với thắng lợi của
Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, chủ nghĩa Mác-Lênin từ lý luận đã trở
thành hiện thực, mở ra một thời đại mới - thời đại cách mạng chống đế
quốc, thời đại giải phóng dân tộc. Đối với các dân tộc thuộc địa, Cách
mạng Tháng Mười Nga nêu tấm gương sáng trong việc giải phóng các dân tộc
bị áp bức.
- Sự ra đời của Quốc
tế Cộng sản (Quốc tế III) vào tháng 3-1919 đã thúc đẩy sự phát triển
mạnh mẽ phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Đối với Việt Nam, Quốc
tế Cộng sản có vai trò quan trọng trong việc truyền bá chủ nghĩa
Mác-Lênin và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
b. Bối cảnh
trong nước
* Năm 1858, thực dân
Pháp nổ súng tấn công xâm lược và từng bước thiết lập bộ máy thống trị ở
Việt Nam, biến một quốc gia phong kiến thành thuộc địa nửa phong kiến.
- Về chính trị: thực
dân Pháp áp đặt chính sách cai trị thực dân, tước bỏ quyền lực đối nội
và đối ngoại của chính quyền phong kiến nhà Nguyễn; chia Việt Nam thành
ba xứ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ và thực hiện ở mỗi kỳ một chế độ cai trị
riêng. Thực dân Pháp câu kết với giai cấp địa chủ trong việc bóc lột
kinh tế và áp bức chính trị đối với nhân dân Việt Nam.
- Về kinh tế: thực
dân Pháp thực hiện chính sách bóc lột, cướp đoạt ruộng đất để lập đồn
điền; đầu tư khai thác tài nguyên; xây dựng một số cơ sở công nghiệp, hệ
thống đường giao thông, bến cảng phục vụ chính sách khai thác thuộc
địa.
- Về văn hoá: thực
dân Pháp thực hiện chính sách giáo dục thực dân và dung túng, duy trì
các hủ tục lạc hậu.
* Tình hình giai cấp
và mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam.
- Dưới tác động của
chính sách cai trị và chính sách kinh tế, văn hoá, giáo dục thực dân, xã
hội Việt Nam diễn ra quá trình phân hoá sâu sắc. Giai cấp địa chủ câu
kết với thực dân Pháp tăng cường bóc lột, áp bức nông dân. Tuy nhiên,
trong nội bộ địa chủ Việt Nam lúc này có sự phân hoá, một bộ phận địa
chủ có lòng yêu nước, căm ghét chế độ thực dân đã tham gia đấu tranh
chống Pháp dưới các hình thức và mức độ khác nhau. Giai cấp nông dân là
lực lượng đông đảo nhất trong xã hội Việt Nam, bị thực dân và phong kiến
áp bức, bóc lột nặng nề. Tình cảnh bần cùng khốn khổ của giai cấp nông
dân Việt Nam đã làm tăng thêm lòng căm thù đế quốc và phong kiến tay
sai, tăng thêm ý chí cách mạng của họ trong cuộc đấu tranh giành lại
ruộng đất và quyền sống tự do. Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời từ
cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp, đa số xuất thân
từ giai cấp nông dân, có quan hệ trực tiếp và chặt chẽ với giai cấp
nông dân, bị đế quốc, phong kiến áp bức bóc lột. Giai cấp tư sản Việt
Nam bị tư sản Pháp và tư sản người Hoa cạnh tranh chèn ép, do đó thế lực
kinh tế và địa vị chính trị nhỏ bé và yếu ớt, có tinh thần dân tộc và
yêu nước ở mức độ nhất định. Tầng lớp tiểu tư sản Việt Nam bao gồm học
sinh, trí thức, những người làm nghề tự do v.v. đời sống bấp bênh, dễ bị
phá sản trở thành người vô sản, có lòng yêu nước, căm thù đế quốc thực
dân, có khả năng tiếp thu những tư tưởng tiến bộ từ bên ngoài truyền
vào.
- Các giai cấp, tầng
lớp trong xã hội Việt Nam lúc này đều mang thân phận người dân mất nước
và ở những mức độ khác nhau, đều bị thực dân áp bức, bóc lột. Vì vậy,
trong xã hội Việt Nam, ngoài mâu thuẫn cơ bản giữa nhân dân, chủ yếu là
nông dân với giai cấp địa chủ và phong kiến, đã nảy sinh mâu thuẫn vừa
cơ bản vừa chủ yếu và ngày càng gay gắt trong đời sống dân tộc, đó là
mâu thuẫn giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược.
Tính chất của xã hội Việt Nam là xã hội thuộc địa nửa phong kiến đang
đặt ra hai yêu cầu: một là, phải đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược, giành
độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân; hai là, xoá bỏ chế độ phong
kiến, giành quyền dân chủ cho nhân dân, chủ yếu là ruộng đất cho nông
dân. Trong đó, chống đế quốc, giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu.
* Phong trào yêu nước
theo khuynh hướng phong kiến và tư sản cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
- Trước sự xâm lược
của thực dân Pháp, các phong trào yêu nước của nhân dân ta chống thực
dân Pháp diễn ra liên tục và sôi nổi nhưng đều không mang lại kết quả.
Phong trào Cần Vương (phong trào yêu nước theo ý thức hệ phong kiến, do
giai cấp phong kiến lãnh đạo) đã chấm dứt ở cuối thế kỷ XIX với cuộc
khởi nghĩa của Phan Đình Phùng (1896). Sang đầu thế kỷ XX khuynh hướng
này không còn là khuynh hướng tiêu biểu nữa. Phong trào nông dân, tiêu
biểu là cuộc khởi nghĩa Yên Thế của Hoàng Hoa Thám kéo dài mấy chục năm
cũng thất bại vào năm 1913. Phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân
chủ tư sản do các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh lãnh đạo cũng rơi vào
bế tắc. Cuộc khởi nghĩa Yên Bái do Nguyễn Thái Học lãnh đạo cũng bị
thất bại.
- Các phong trào yêu
nước trong khoảng thời gian từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là sự tiếp
nối truyền thống yêu nước, bất khuất của dân tộc ta được hun đúc qua
hàng ngàn năm lịch sử. Nhưng do thiếu đường lối đúng đắn, thiếu tổ chức
và lực lượng cần thiết nên các phong trào đó đã lần lượt thất bại. Cách
mạng Việt Nam chìm trong cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước.
2. Nguyễn Ái Quốc
thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
- Giữa lúc dân tộc ta
đứng trước cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước, nhiều nhà yêu nước
đương thời tiếp tục con đường cứu nước theo lối cũ thì ngày 5-6-1911
người thanh niên Nguyễn Tất Thành (tức là Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh
sau này) ra đi tìm đường cứu nước theo phương hướng mới. Người đã đi qua
nhiều nước của Châu Âu, Châu Phi, Châu Mỹ và đã phát hiện ra chân lý:
chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc thực dân là cội nguồn mọi đau khổ
của công nhân và nhân dân lao động ở chính quốc cũng như ở các thuộc
địa.
- Năm 1917, Người trở
lại nước Pháp, đến Pari và năm 1919 gia nhập Đảng Xã hội Pháp.
- Tháng 6/1919, thay
mặt những người yêu nước Việt Nam, với tên gọi mới là Nguyễn Ái Quốc,
Người gửi bản yêu sách 8 điểm tới Hội nghị Vécxây.
- Tháng 7/1920,
Nguyễn Ái Quốc được đọc “Đề cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của
Lênin và từ tư tưởng đó, Người đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho
dân tộc Việt Nam.
- Tại Đại hội Đảng Xã
hội Pháp (tháng 12-1920), Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành việc gia
nhập Quốc tế III (Quốc tế Cộng sản do Lênin sáng lập) và tham gia thành
lập Đảng Cộng sản Pháp, trở thành người Cộng sản đầu tiên của Việt Nam.
Đó là một sự kiện lịch sử trọng đại, không những Nguyễn Ái Quốc từ chủ
nghĩa yêu nước đến với lý luận cách mạng của thời đại là chủ nghĩa
Mác-Lênin, mà còn đánh dấu bước chuyển quan trọng của con đường giải
phóng dân tộc Việt Nam: muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con
đường nào khác con đường cách mạng vô sản.
- Từ đây, cùng với
việc thực hiện nhiệm vụ đối với phong trào cộng sản quốc tế, Nguyễn Ái
Quốc xúc tiến truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin, vạch phương hướng chiến
lược cách mạng Việt Nam và chuẩn bị điều kiện để thành lập Đảng Cộng sản
Việt Nam.
- Từ năm 1921 đến năm
1930, Nguyễn Ái Quốc ra sức truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong
trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, chuẩn bị về lý luận cho
sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Người nhấn mạnh: cách mạng muốn
thành công phải có đảng cách mạng chân chính lãnh đạo; đảng phải có hệ
tư tưởng tiên tiến, cách mạng và khoa học dẫn đường, đó là hệ tư tưởng
Mác-Lênin.
- Người đã viết nhiều
bài báo, nhiều tham luận tại các đại hội, hội nghị quốc tế, viết tác
phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” và tổ chức ra các tờ báo Thanh niên,
Công nông, Lính cách mệnh, Tiền phong, nhằm truyền bá chủ nghĩa
Mác-Lênin vào Việt Nam. Năm 1927, Bộ Tuyên truyền của Hội Liên hiệp các
dân tộc bị áp bức xuất bản tác phẩm “Đường cách mệnh” (tập hợp các bài
giảng của Nguyễn Ái Quốc ở lớp huấn luyện chính trị của Hội Việt Nam
cách mạng thanh niên). Đó là sự chuẩn bị về đường lối chính trị tiến tới
thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Người khẳng định, muốn thắng lợi thì
cách mạng phải có một đảng lãnh đạo, Đảng có vững, cách mạng mới thành
công cũng như người cầm lái có vững thì thuyền mới chạy.
- Trong thời gian
này, Người cũng tập trung cho việc chuẩn bị về tổ chức và cán bộ. Người
lập ra Hội Việt Nam cách mạng thanh niên (1925), tổ chức nhiều lớp đào
tạo cán bộ tại Quảng Châu, Trung Quốc và gửi đi học tại trường Đại học
Phương Đông (ở Liên Xô cũ) và trường Lục quân Hoàng Phố (Trung Quốc)
nhằm đào tạo cán bộ cho cách mạng Việt Nam. Nhờ hoạt động không mệt mỏi
của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và nhiều đồng chí cách mạng tiền bối mà những
điều kiện thành lập Đảng ngày càng chín muồi.
- Cuối năm 1929,
những người cách mạng Việt Nam trong các tổ chức cộng sản đã nhận thức
được sự cần thiết và cấp bách phải thành lập một Đảng Cộng sản thống
nhất, chấm dứt tình trạng chia rẽ phong trào cộng sản ở Việt Nam. Nguyễn
Ái Quốc đã chủ động tổ chức và chủ trì Hội nghị hợp nhất Đảng tại Hương
Cảng, Trung Quốc từ ngày 6-1 đến ngày 7-2-1930. Hội nghị đã quyết định
hợp nhất 3 tổ chức Đảng (Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng,
Đông Dương Cộng sản Liên đoàn) thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị
thảo luận và thông qua các văn kiện: Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn
tắt, Chương trình tóm tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản. Những
văn kiện đó do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, được Hội nghị hợp nhất Đảng
thông qua là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ
thể của cách mạng Việt Nam. Hội nghị thông qua lời kêu gọi của Nguyễn Ái
Quốc thay mặt Quốc tế Cộng sản và Đảng Cộng sản Việt Nam gửi đến đồng
bào, đồng chí trong cả nước nhân dịp thành lập Đảng.
- Hội nghị hợp nhất
các tổ chức Cộng sản có ý nghĩa như là một Đại hội thành lập Đảng. Chánh
cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt của Đảng Cộng
sản Việt Nam được thông qua tại Hội nghị hợp nhất do Nguyễn Ái Quốc chủ
trì chính là Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng.
- Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ III của Đảng đã quyết nghị lấy ngày 3-2 dương lịch
hằng năm làm ngày kỷ niệm thành lập Đảng.
3. Ý nghĩa lịch sử
sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam và Cương lĩnh chính trị đầu tiên của
Đảng
- Hội nghị hợp nhất
các tổ chức đảng cộng sản ở Việt Nam thành một Đảng Cộng sản duy nhất -
Đảng Cộng sản Việt Nam - theo một đường lối chính trị đúng đắn, tạo nên
sự thống nhất về tư tưởng, chính trị và hành động của phong trào cách
mạng cả nước, hướng tới mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
- Đảng Cộng sản Việt
Nam ra đời là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh dân tộc và đấu tranh
giai cấp, là sự khẳng định vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân Việt
Nam và hệ tư tưởng Mác-Lênin đối với cách mạng Việt Nam. Sự kiện Đảng
Cộng sản Việt Nam ra đời là sự kiện lịch sử cực kỳ trọng đại, một bước
ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam, đánh dấu một
mốc son chói lọi trên con đường phát triển của dân tộc ta.
- Sự ra đời của Đảng
là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân
và phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh là
hiện thân trọn vẹn nhất cho sự kết hợp đó, là tiêu biểu sáng ngời cho sự
kết hợp giai cấp và dân tộc, dân tộc và quốc tế, độc lập dân tộc với
chủ nghĩa xã hội.
- Sự kiện thành lập
Đảng Cộng sản Việt Nam và việc ngay từ khi ra đời, Đảng đã có Cương lĩnh
chính trị xác định đúng đắn con đường cách mạng là giải phóng dân tộc
theo phương hướng cách mạng vô sản, chính là cơ sở để Đảng Cộng sản Việt
Nam vừa ra đời đã nắm được ngọn cờ lãnh đạo phong trào cách mạng Việt
Nam; giải quyết được tình trạng khủng hoảng về đường lối cách mạng, về
giai cấp lãnh đạo cách mạng diễn ra đầu thế kỷ XX, mở ra con đường và
phương hướng phát triển mới cho đất nước Việt Nam. Chính đường lối này
là cơ sở đảm bảo cho sự tập hợp lực lượng và sự đoàn kết, thống nhất của
toàn dân tộc cùng chung tư tưởng và hành động để tiến hành cuộc cách
mạng vĩ đại giành những thắng lợi to lớn sau này. Đây cũng là điều kiện
cơ bản quyết định phương hướng phát triển, bước đi của cách mạng Việt
Nam trong suốt 80 năm qua.
- Đảng Cộng sản Việt
Nam ra đời và việc Đảng chủ trương cách mạng Việt Nam là một bộ phận của
phong trào cách mạng thế giới, đã tranh thủ được sự ủng hộ to lớn của
cách mạng thế giới, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại
làm nên những thắng lợi vẻ vang. Đồng thời cách mạng Việt Nam cũng góp
phần tích cực vào sự nghiệp đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà
bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội.
II. 80 NĂM XÂY
DỰNG VÀ TRƯỞNG THÀNH-CHẶNG ĐƯỜNG VINH QUANG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN
VIỆT NAM
1. Thời kỳ đấu
tranh giành chính quyền (1930 - 1945)
- Đặc điểm của thời
kỳ này là cách mạng Việt Nam đã có đội tiên phong lãnh đạo là Đảng Cộng
sản với Cương lĩnh chính trị đúng đắn, đưa cách mạng nước ta phát triển
theo xu thế của thời đại đã được mở ra từ cách mạng xã hội chủ nghĩa
Tháng Mười Nga năm 1917.
- Quá trình đấu tranh
giải phóng dân tộc, giành chính quyền đã diễn ra với 3 cao trào cách
mạng có ý nghĩa như 3 cuộc tổng diễn tập chuẩn bị cho cuộc Cách mạng
Tháng Tám giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân: Cao trào cách mạng
1930 - 1931 mà đỉnh cao là Xô Viết Nghệ - Tĩnh, cao trào đấu tranh đòi
dân sinh, dân chủ (1936 - 1939) và cao trào giải phóng dân tộc dẫn tới
Cách mạng Tháng Tám 1945 (1939 - 1945). Đó là quá trình đấu tranh cách
mạng vô cùng khó khăn gian khổ với những hy sinh to lớn của Đảng và dân
tộc ta. Từ thực tiễn đấu tranh cách mạng, Đảng ta đã trưởng thành và
phát triển về mọi mặt: chính trị, tư tưởng, tổ chức, về năng lực lãnh
đạo và sức chiến đấu. Đường lối cách mạng giải phóng dân tộc, chống đế
quốc và chống phong kiến không ngừng được bổ sung và làm rõ hơn, đặt
nhiệm vụ chống đế quốc giải phóng dân tộc lên hàng đầu, vận dụng đúng
đắn và có sự phát triển sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin về cách
mạng thuộc địa.
- Thực tiễn 15 năm
đấu tranh cách mạng giành chính quyền, Đảng và nhân dân ta đã đặt ra và
giải quyết thành công nhiều vấn đề, nhiều mối quan hệ cơ bản trong đường
lối chiến lược và sách lược, bảo đảm cho phong trào cách mạng phát
triển đúng hướng, phát huy sức mạnh của cả dân tộc, đó là:
+ Quan hệ giữa nhiệm
vụ chống đế quốc và chống phong kiến, giữa mục tiêu dân tộc và mục tiêu
dân chủ, giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp.
+ Quan hệ giữa các
mục tiêu chiến lược lâu dài và mục tiêu cụ thể trước mắt, giữa giành
thắng lợi từng bước, khởi nghĩa từng phần đến tổng khởi nghĩa giành
thắng lợi hoàn toàn.
+ Quan hệ giữa chiến
lược và sách lược, phương pháp cách mạng, sử dụng đúng đắn các hình
thức, phương pháp đấu tranh phù hợp với từng điều kiện lịch sử cụ thể.
+ Quan hệ giữa Đảng
và nhân dân, giữa xây dựng đảng và xây dựng phát triển lực lượng cách
mạng của quần chúng được tập hợp trong Mặt trận Dân tộc thống nhất.
+ Quan hệ giữa sức
mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, giữa xây dựng lực lượng cách mạng,
phát huy sức mạnh bên trong, nêu cao ý chí tự lực, tự cường, độc lập, tự
chủ và sáng tạo với tranh thủ những điều kiện và thời cơ thuận lợi do
tình hình quốc tế đem lại.
+ Quan hệ giữa chủ
động chớp thời cơ và đẩy lùi nguy cơ, tổ chức và sử dụng các lực lượng
cách mạng…
- Thắng lợi của cuộc
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã chấm dứt sự thống trị của thực dân Pháp
và phát xít Nhật, xóa bỏ chế độ thực dân và phong kiến, mở ra kỷ nguyên
mới trong lịch sử dân tộc - kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội, mở ra thời đại mới - thời đại Hồ Chí Minh.
Cách mạng Tháng Tám
dẫn đến sự ra đời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam) - Nhà nước công nông đầu tiên ở Châu Á. Đó là sự
kiện quan trọng bậc nhất trong lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc
ta. Đó cũng là thắng lợi đầu tiên của chủ nghĩa Mác-Lênin ở một nước
thuộc địa, nửa phong kiến, thắng lợi của tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là
cuộc cách mạng giải phóng dân tộc điển hình của thế kỷ XX. Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã khẳng định: Do sự lãnh đạo sáng suốt và kiên quyết của Đảng,
do sức đoàn kết và hăng hái của toàn dân trong và ngoài mặt trận Việt
Minh, cuộc Cách mạng Tháng Tám đã thắng lợi. Người nhấn mạnh: Chẳng
những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai
cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào
rằng: lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc
thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng
thành công, nắm chính quyền toàn quốc.
2. Thời kỳ bảo vệ
và phát triển thành quả Cách mạng Tháng Tám, tiến hành 2 cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945 - 1975)
- Những năm 1945 -
1946, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo toàn dân vượt qua những khó
khăn, thách thức nặng nề, chống thù trong, giặc ngoài, vừa kháng chiến
vừa kiến quốc: xây dựng và củng cố vững chắc chính quyền nhân dân; bầu
cử Quốc hội (6/1/1946); xây dựng Hiến pháp dân chủ đầu tiên (9/11/1946);
chăm lo xây dựng chế độ mới, đời sống mới của nhân dân; chống giặc đói,
giặc dốt, giặc ngoại xâm; tổ chức kháng chiến chống thực dân Pháp ở Nam
Bộ và Nam Trung Bộ với sự ủng hộ và chi viện của cả nước; kiên quyết
trấn áp các thế lực phản cách mạng, bảo vệ chính quyền và thành quả Cách
mạng Tháng Tám; thực hành sách lược khôn khéo, lúc thì tạm hòa hoãn với
Tưởng để đánh thực dân Pháp, lúc thì hoà với Pháp để đuổi Tưởng, thực
hiện nhân nhượng có nguyên tắc để triệt để lợi dụng mâu thuẫn trong hàng
ngũ kẻ thù, đưa cách mạng vượt qua những thử thách hiểm nghèo. Chúng ta
đã chủ động chuẩn bị những điều kiện cần thiết để đối phó với cuộc
chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp trên phạm vi cả nước. Thành công
nổi bật của hơn 1 năm xây dựng chính quyền non trẻ là đã tăng cường được
sức mạnh của cách mạng để có thể tự bảo vệ khi chưa có sự giúp đỡ trực
tiếp từ bên ngoài.
- Tháng 12/1946,
trước dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa của thực dân Pháp, Đảng và Chủ
tịch Hồ Chi Minh đã phát động toàn quốc kháng chiến với quyết tâm:
Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không
chịu làm nô lệ. Với đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ
kháng chiến; vừa kiến quốc vừa kháng chiến dựa vào sức mình là chính,
đồng thời tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của bạn bè quốc tế, Đảng đã
lãnh đạo nhân dân ta lần lượt đánh bại các kế hoạch chiến tranh của thực
dân Pháp mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ lừng lẫy năm
châu, trấn động địa cầu ngày 7/5/1954. Thắng lợi của chiến dịch lịch sử
Điện Biên Phủ và việc ký kết Hiệp định Giơnevơ năm 1954 đã chấm dứt sự
thống trị của thực dân Pháp ở nước ta, mở đầu sự sụp đổ của chủ nghĩa
thực dân cũ trên thế giới, giải phóng hoàn toàn miền Bắc, đưa miền Bắc
tiến lên chủ nghĩa xã hội, làm hậu phương vững chắc cho cuộc đấu tranh
giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
- Từ năm 1954 đến năm
1975, Đảng ta lãnh đạo nhân dân ta tiến hành đồng thời hai chiến lược
cách mạng: Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng xã
hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Đây là đặc điểm mang tính đặc thù của cách
mạng Việt Nam, cùng với mục tiêu độc lập dân tộc, mục tiêu xã hội chủ
nghĩa được đặt ra trực tiếp.
+ Đế quốc Mỹ phá hoại
hiệp định Gơnevơ, hất chân thực dân Pháp, độc chiếm miền Nam, biến miền
Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của chúng. Dân tộc ta
lại phải đương đầu với chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ. Đảng ta đã
lãnh đạo toàn dân nêu cao quyết tâm đánh Mỹ, bảo vệ nền độc lập dân tộc
và thống nhất Tổ quốc, thực hiện đường lối chiến tranh nhân dân được
nâng lên tầm cao khoa học và nghệ thuật. Đương đầu với một đế quốc hùng
mạnh bậc nhất thế giới, chúng ta chủ trương đánh lâu dài; kết hợp đấu
tranh chính trị với đấu tranh vũ trang và hoạt động binh vận; kết hợp
tiến công và nổi dậy, tiến hành đấu tranh trên cả ba vùng (đồng bằng,
thành thị và miền núi); kết hợp mặt trận quân sự, chính trị với mặt trận
ngoại giao; phát huy cao độ chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng
cách mạng; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và sức mạnh thời
đại, quyết tâm giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa.
Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta lần lượt đánh bại các chiến lược chiến
tranh tàn bạo của đế quốc Mỹ, giành nhiều thắng lợi vẻ vang mà đỉnh cao
là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, kết thúc 30 năm chiến tranh giải
phóng dân tộc, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Thắng
lợi của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là một
trong những trang chói lọi nhất của lịch sử dân tộc và là một sự kiện có
tầm quốc tế và có tính chất thời đại sâu sắc.
+ Xây dựng chủ nghĩa
xã hội trên miền Bắc trong điều kiện hai miền thực hiện hai nhiệm vụ
chiến lược khác nhau nhưng có quan hệ mật thiết với nhau, trong điều
kiện từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội bỏ
qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, đòi hỏi Đảng ta phải vận dụng
sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh và
kinh nghiệm các nước xã hội chủ nghĩa. Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta tập
trung giải quyết tốt các mối quan hệ cơ bản: giữa tiến hành chiến tranh
cách mạng với xây dựng chủ nghĩa xã hội; giữa hậu phương lớn với tiền
tuyến lớn; giữa thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội;
giữa quy luật chiến tranh và quy luật xây dựng phát triển kinh tế; giữa
đẩy mạnh chiến tranh cách mạng ở nước ta với bảo vệ hòa bình thế giới;
giữa lợi ích dân tộc với thực hiện nghĩa vụ quốc tế…
Công cuộc xây dựng
chủ nghĩa xã hội trên miền Bắc đã thu được những thành tựu quan trọng.
Vừa sản xuất, vừa chiến đấu và chi viện sức người, sức của cho tiền
tuyến, miền Bắc đã nhanh chóng khôi phục và phát triển kinh tế, văn hóa,
xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh, đánh thắng hai cuộc chiến tranh phá
hoại của đế quốc Mỹ; xây dựng hậu phương vững mạnh, trở thành căn cứ
địa cách mạng của cả nước, bảo đảm mọi mặt cho tiền tuyến đánh thắng; mở
rộng quan hệ đối ngoại, tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của bè bạn
trên thế giới; tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu
nước; tạo những cơ sở vật chất và những kinh nghiệm quý báu trong sự vận
dụng và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam sau này.
3. Thời kỳ tiến
hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trên cả nước, thực hiện công cuộc đổi
mới đất nước từ 1975 đến nay
Miền Nam hoàn toàn
giải phóng, đất nước thống nhất, cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội với
hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam
xã hội chủ nghĩa. Thời kỳ này bao gồm hai giai đoạn chủ yếu:
- Từ 1975 đến 1986:
+ Sau chiến tranh,
đất nước ta gặp muôn vàn khó khăn. Đảng đã lãnh đạo nhân dân vừa ra sức
khôi phục kinh tế vừa tiến hành hai cuộc chiến tranh chống xâm lược biên
giới phía Bắc và Tây Nam, bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ
quốc gia.
- Đảng đã tập trung
lãnh đạo xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội, từng bước hình
thành cơ cấu kinh tế mới trong cả nước, cải thiện đời sống vật chất,
tinh thần của nhân dân lao động. Tuy nhiên, trước yêu cầu và nhiệm vụ
cách mạng trong thời kỳ mới, việc duy trì lâu dài mô hình, cơ chế tập
trung bao cấp không còn phù hợp và đã bộc lộ những hạn chế, nhược điểm.
Trong việc hoạch định và thực hiện đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa,
có lúc, có nơi đã mắc sai lầm khuyết điểm chủ quan, duy ý chí. Đó cũng
là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự trì trệ, khủng hoảng kinh tế -
xã hội trong những năm đầu cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
- Trước những thách
thức của thời kỳ mới, Đảng ta đã tổng kết sáng kiến từ thực tiễn của
nhân dân, tìm tòi, hoạch định đường lối đổi mới, thể hiện qua các mốc
sau: Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 6, khoá IV (tháng 8/1979);
Chỉ thị 100-CT/TW ngày 13/1/1981 của Ban Bí thư về khoán sản phẩm trong
nông nghiệp; Quyết định 25/CP ngày 21/1/1981 của Chính phủ về đổi mới
quản lý kinh tế quốc doanh; Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 8,
khoá V (tháng 6/1985) thừa nhận sản xuất hàng hoá và những quy luật của
sản xuất hàng hoá; Kết luận của Bộ Chính trị (tháng 9/1986) về 3 quan
điểm kinh tế trong tình hình mới. Đại hội VI của Đảng (tháng 12/1986) đã
đưa ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, mở ra bước ngoặt quan
trọng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
- Từ 1986 đến nay:
+ Trước bối cảnh mô
hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, hệ thống xã hội chủ
nghĩa thế giới tạm thời lâm vào thoái trào, Đại hội VII của Đảng (tháng
6/1991) khẳng định tiếp tục đổi mới đồng bộ, triệt để trên các lĩnh vực
với những bước đi, cách làm phù hợp và giữ vững định hướng xã hội chủ
nghĩa. Đại hội đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội, xác định những quan điểm và phương hướng
phát triển đất nước, khẳng định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng.
+ Từ đó đến nay, Đảng
ta tiếp tục phát triển tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường
đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Hệ thống quan điểm lý luận về công
cuộc đổi mới, về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, về xây dựng
và chỉnh đốn Đảng trong tình hình mới được bổ sung và phát triển ngày
càng hoàn thiện.
+ Dưới sự lãnh đạo
của Đảng, qua hơn hai mươi năm đổi mới, đất nước ta đã giành được những
thắng lợi to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục phát triển. Đất nước thoát khỏi khủng
hoảng kinh tế - xã hội (1996); vượt qua khủng hoảng tài chính tiền tệ
khu vực (1997-1998); khắc phục có hiệu quả ảnh hưởng của khủng hoảng tài
chính và suy thoái kinh tế toàn cầu hiện nay; thực hiện các Kết luận
của Bộ Chính trị, nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ, bước đầu thực
hiện được mục tiêu: kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an
sinh xã hội, duy trì tăng trưởng ở mức hợp lý; chủ động và tích cực hội
nhập kinh tế quốc tế. Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được
cải thiện rõ rệt. Thu nhập bình quân đầu người năm 2008 đạt trên 1000
USD, vượt qua ngưỡng nước nghèo chậm phát triển. Hệ thống chính trị và
khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Chính trị, xã
hội ổn định, an ninh, quốc phòng được giữ vững. Vai trò và vị thế của
nước ta trên trường quốc tế ngày càng nâng cao.
III. NHỮNG THẮNG
LỢI VĨ ĐẠI CỦA NHÂN DÂN VIỆT NAM DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT
NAM TRONG SUỐT 80 NĂM QUA VÀ NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM
1. Những thành tựu
vĩ đại
80 năm xây dựng và
trưởng thành, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền
tảng tư tưởng, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta giương cao ngọn cờ độc lập
dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vượt qua muôn ngàn khó khăn, thử thách, làm
nên những thành tựu vĩ đại, đó là:
Thứ nhất:
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và việc thành lập Nhà nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (nay là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam) đã
xoá bỏ chế độ thực dân, nửa phong kiến, mở ra kỷ nguyên mới, kỷ nguyên
độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Thứ hai: Thắng
lợi của các cuộc kháng chiến oanh liệt giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ
quốc, đánh thắng chủ nghĩa thực dân cũ và mới, hoàn thành cách mạng dân
tộc dân chủ nhân dân, thực hiện thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên
chủ nghĩa xã hội, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh của nhân dân
thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Thứ ba: Thắng
lợi của sự nghiệp đổi mới, từng bước đưa đất nước quá độ lên chủ nghĩa
xã hội; xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa phù
hợp với thực tiễn Việt Nam.
Với những thắng lợi
đó, Việt Nam từ một nước thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc
gia độc lập tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa, có quan
hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và
trên thế giới. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ
đất nước, làm chủ xã hội. Đất nước ta từ một nền kinh tế nghèo nàn lạc
hậu, đã bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội
nhập quốc tế.
2. Những bài học
kinh nghiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam
Một là
:
Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng
chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Hai là
:
Phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng mặt trận dân
tộc thống nhất, nòng cốt là liên minh vững chắc giai cấp công nhân với
giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.
Ba là
:
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và hệ
thống chính trị, xây dựng Nhà nước cách mạng thật sự của dân, do dân,
vì dân.
Bốn là
:
Nêu cao chủ nghĩa quốc tế trong sáng, kết hợp sức mạnh của dân tộc với
sức mạnh của thời đại.
Năm là
:
Chú trọng xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức,
nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.
3.
Một số
kinh nghiệm trong công tác xây dựng Đảng
Là Đảng cầm quyền duy
nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam trong suốt 80 năm qua, Đảng ta đã rút
ra những kinh nghiệm quý báu trong công tác xây dựng Đảng sau đây:
- Thường xuyên tự đổi
mới, chỉnh đốn và không ngừng nâng cao tầm tư tưởng và trí tuệ để đáp
ứng yêu cầu ngày càng cao của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thực
hiện tốt phương châm nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng
Đảng là then chốt, phát triển văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội.
- Kiên định chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của
Đảng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, không đa
nguyên, đa đảng.
- Đảng phải được xây
dựng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, đổi mới công tác xây
dựng Đảng, phát huy dân chủ, thực hiện đúng nguyên tắc, tập trung dân
chủ và các nguyên tắc khác, giữ vững kỷ cương, kỷ luật.
- Chăm lo xây dựng,
rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên có đủ bản lĩnh, chính trị, phẩm chất
trí tuệ và năng lực hoạt động thực tiễn.
- Đảng phải gắn bó
mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân
dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng.
- Đảng phải tăng
cường và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát.
- Đảng phải đổi mới
và hoàn thiện phương thức lãnh đạo, nhất là phương thức lãnh đạo Nhà
nước, bảo đảm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.
* * *
Chủ tịch Hồ Chí Minh
kính yêu, lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, Người đã sáng lập và rèn luyện
Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh. Thực tiễn 80 năm qua đã khẳng định:
sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng
lợi của cách mạng Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam thật sự là đội tiên
phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân
lao động và toàn dân tộc Việt Nam.
Kỷ niệm 80 năm Ngày
thành lập Đảng, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vô cùng tự hào vì đất
nước ta có một Đảng Cộng sản kiên cường, trung thành với chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lãnh đạo nhân dân ta đi từ thắng lợi
này đến thắng lợi khác, làm nên những kỳ tích vĩ đại trong lịch sử dân
tộc, đóng góp xứng đáng vào phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, vì
hoà bình và tiến bộ của nhân loại.
Tự hào về Đảng quang
vinh, về Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người
dân Việt Nam ở trong nước và nước ngoài càng thấy rõ hơn trách nhiệm
của mình, nguyện đi theo Đảng, xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững
mạnh, tiếp tục lãnh đạo nhân dân ta đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế, thực hiện thắng lợi mục tiêu:
“Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh,
người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam !
Đảng Cộng sản Việt
Nam quang vinh muôn năm !
Nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam muôn năm !