Phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ: Những vấn đề của Việt Nam

26/08/2011 15:00

    Một đất nước trở thành nước công nghiệp là do có đầy đủ các ngành nghề thuộc lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ (CNHT). 
     
“Muốn làm được như vậy chính phủ phải tạo ra môi trường kinh doanh tốt, chính sách phát triển hợp lý, các doanh nghiệp (DN) phải thường xuyên cải thiện sản xuất, kỹ thuật, cung cấp những sản phẩm được thị trường chấp nhận”, ông Yonemura Noriyuki, chuyên gia chính sách công nghiệp - Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản tham vấn.

    Công nghiệp hỗ trợ là gì ?

    Câu hỏi tưởng chừng giản đơn, nhưng “cần xác định rõ, bởi đây là nền tảng cho phát triển ngành công nghiệp phụ trợ của Việt Nam”, theo các nhà quản lý, các chuyên gia dự Hội thảo "Chính sách công nghiệp và công nghiệp hỗ trợ - kinh nghiệm của Nhật Bản và những vấn đề của Việt Nam" tổ chức mới đây.

    Các chuyên gia Nhật Bản cho rằng, không có định nghĩa chính xác tuyệt đối về ngành CNHT. Một chiếc xe ô tô cấu thành từ 2 vạn linh kiện, còn máy điện thoại di động cao cấp cấu thành bởi 1.500 linh kiện khác nhau. Ngoài ra, cần phải có nhiều nguyên vật liệu khác như sắt, thép, sản phẩm hóa học… và không thể thiếu nhóm các công ty kỹ thuật cơ bản như khuôn, đúc, nhiệt luyện, hàn… để sản xuất linh kiện.

    Ngắn gọn hơn, các chuyên gia Hàn Quốc khái niệm, CNHT là ngành công nghiệp vật liệu và phụ tùng. “Đây là khái niệm rộng và chính xác”, nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại Trương Đình Tuyển tán thành. Song ông nói thêm: “Chính xác hơn, đây là ngành công nghiệp sản xuất chi tiết, bộ phận để lắp ráp một sản phẩm trong một ngành công nghiệp chế tạo”.

    Vấn đề của Việt Nam

    Việt Nam phấn đấu đến năm 2020, cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nhưng đến nay, ngành công nghiệp VN cơ bản là gia công, lắp ráp. Nguyên liệu, phụ tùng từ ngành dệt may đến đóng tàu, chủ yếu phải nhập khẩu. Theo ông Trương Đình Tuyển, giá trị nhập khẩu các sản phẩm công nghiệp, sản phẩm công nghiệp VN xuất khẩu rất lớn, tỷ lệ nhập siêu trong công nghiệp lại càng lớn hơn, nhưng chúng ta vẫn phải xuất siêu sản phẩm công nghiệp. Nếu tỷ lệ nhập siêu trong toàn bộ kim ngạch xuất khẩu chiếm 20% thì tỷ lệ nhập siêu ngành công nghiệp chiếm tới khoảng 70%. “Quá trình này dẫn đến giá trị gia tăng thấp, năng lực cạnh tranh kém”, ông Tuyển nói.

    Thực tế, có rất ít nhà sản xuất phụ tùng, linh kiện của VN có thể đáp ứng được tiêu chuẩn chất lượng của các DN Nhật Bản. Theo GS. Tsuboi, Đại học Waseda - Nhật Bản, Việt Nam chưa tiến kịp các nước ASEAN khác như Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Singapore... bởi CNHT của các nước này đã phát triển dựa vào chiến lược, chính sách và cả những quy định cụ thể khác.

    Xu hướng tất yếu của sản xuất trong một nền kinh tế thị trường là không ngừng nâng cao năng suất, tạo nhiều giá trị gia tăng, giảm giá thành để tồn tại, phát triển trong cạnh tranh khốc liệt. Theo Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược & Chính sách Công nghiệp (Bộ Công Thương) Phan Đăng Tuất, tại các nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, Thái Lan và Đài Loan, nền CNHT được phát động từ phía Chính phủ. Nhưng ở Việt Nam thì ngược lại, CNHT được phát động từ giới nghiên cứu và doanh nghiệp.

    Nền công nghiệp của Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên và lao động gia công giá rẻ. Theo ông Tuất, hội nhập kinh tế quốc tế, phải từ thượng nguồn, có nghĩa là bắt đầu bằng việc tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu sản xuất chi tiết linh kiện. Nhưng thực tế, chúng ta đã làm ngược lại, hầu hết sản phẩm xuất khẩu dầu, than, nông sản… đều ở dạng thô. Trong khi mỗi năm Cục Xúc tiến Thương mại có mấy trăm tỷ để đẩy mạnh việc bán hàng hóa, còn ngành CNHT không có đồng nào để tổ chức sản xuất linh kiện. Trung tâm Hỗ trợ Doanh nghiệp Công nghiệp thành lập đã 2 năm, nhưng đến nay vẫn không xin được đồng kinh phí nào…

    Việt Nam đã có Chương trình hợp tác về phát triển công nghiệp hỗ trợ với các tổ chức Nhật Bản, trong đó có JICA. Nhưng theo Viện trưởng Phan Đăng Tuất, hầu hết nội dung hợp tác mới chỉ ra những bất cập, nội hàm, thống kê về mặt lý thuyết. Thời điểm Viện Nghiên cứu Chiến lược - Chính sách công nghiệp làm lại bản qui hoạch tổng thể cho giai đoạn 2011-2020, nhờ Nhật Bản giúp đỡ về kỹ thuật, nhưng họ chỉ quan tâm đến kế hoạch hành động - điều mà Việt Nam chưa thể đưa ra được.

    Trên thực tế, ngành lắp ráp, chi phí linh phụ kiện chiếm tới 70-90% giá thành, còn nhân công lao động chỉ chiếm dưới 10%. Nhưng các nhà quản lý công nghiệp chưa mấy chú ý đến hàm lượng giá trị gia tăng mà CNHT có thể mang lại. Bên cạnh đó, hành lang pháp lý cho phát triển ngành CNHT chưa đáp ứng được điều kiện cần, chứ đừng nói là đủ. Ngoài bản Qui hoạch tổng thể về phát triển công nghiệp hỗ trợ, ban hành cuối tháng 7/2007, gần đây mới có thêm một bản Dự thảo Nghị định về phát triển CNHT (dự kiến sẽ được ban hành trong năm nay). Đó là chưa kể đến chuyện bản quy hoạch năm 2007, không còn phù hợp với bối cảnh hiện nay. “Yêu CNHT nhưng tôi sợ sự ghẻ lạnh của những người cầm cân nảy mực", ông Tuất tâm sự.

    Ông Trương Đình Tuyển cảnh báo, CNHT chưa phát triển, thậm chí là phát triển kém dẫn đến nguy cơ, các cơ sở sản xuất, lắp ráp sản phẩm cuối cùng có thể phải rút khỏi thị trường VN do không tìm được nguồn cung cấp linh kiện, chi tiết, nhất là trong điều kiện sức ép về tiền lương tăng lên, lợi thế nhân công rẻ mất đi. “Phát triển ngành CNHT, thực sự đã trở nên cấp bách”, nguyên Bộ trưởng nói.

    Các Văn bản liên quan đến chính sách phát triển CNHT - File đính kèm

Phòng Quản lý công nghiệp - Sưu tầm


Tìm kiếm theo chuyên mục - nội dung - ngày tháng

Tin Nóng
Tin tiêu điểm

Lịch công tác trống

Website liên kết
Thống kê truy cập
Hôm nay: 51
Đã truy cập: 464760