BẢN TIN KHOA HỌC VÀ PHÁT TRIỂN SỐ 01 NĂM 2020

30/03/2020 16:41

BẢN TIN KHOA HỌC VÀ PHÁT TRIỂN SỐ 01 NĂM 2020

 Trong số này:

 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG.. 

Những chuyển biến tích cực trong hoạt động KH&CN tỉnh Quảng Ninh. 

Lan tỏa Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. 

Bước tiến mới trong hoạt động đo lường. 

 HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ.. 8

Quảng Ninh làm tốt công tác Diễn tập ứng phó sự cố bức xạ và hạt nhân. 

Thị xã Quảng Yên: Cụ thể hóa một Nghị quyết 07/NQ-TU vào cuộc sống. 

Ngành Than:  Làm chủ công nghệ tiên tiến, nâng giá trị hòn than. 

Đẩy mạnh các phong trào sáng tạo, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa quy trình sản xuất 

Hiệu quả tích cực từ ứng dụng KHCN trong sản xuất nông nghiệp. 

 PHỔ BIẾN KIẾN THỨC.. 

Ứng dụng Công nghệ sinh học trong ngành nông nghiệp Quảng Ninh. 

6 kỹ thuật trồng rau thủy canh được ứng dụng phổ biến hiện nay. 

Cách xử lý khi bị điện giật 

 TIN HOẠT ĐỘNG.. 

Thành phố Cẩm Phả dành nguồn lực cho  KH&CN.. 

Huyện Tiên Yên tích cực thực hiện Nghị quyết 07-NQ/TU.. 

 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

Những chuyển biến tích cực trong hoạt động KH&CN tỉnh Quảng Ninh

          Năm 2019, Sở KH&CN đã bám sát chủ đề công tác  năm của tỉnh về Nâng cao chất lượng và hiệu quả dịch vụ; cụ thể hóa các nhóm giải pháp, chủ động tham mưu cho UBND tỉnh chỉ đạo triển khai các chương trình, kế hoạch, góp phần tạo bước chuyển mới về hoạt động KH&CN của tỉnh trong năm.

 Quang cảnh Hội nghị tổng kết hoạt động KH&CN năm 2019, triển khai nhiệm vụ hoạt động khoa học và công nghệ năm 2020

Trong năm 2019, việc thực hiện Nghị quyết số 07-NQ/TU của Tỉnh ủy QN về phát triển KH&CN là điểm nhấn quan trọng, gồm các nội dung chính như:  Duy trì và phát triển thương hiệu sản phẩm; Hỗ trợ xác lập quyền sở hữu trí tuệ: xây dựng các thương hiệu sản phẩm nông nghiệp. Hiện nay, toàn tỉnh có 30 thương hiệu sản phẩm nông nghiệp đang được duy trì và phát triển, được người tiêu dùng trong và ngoài tỉnh đánh giá cao về chất lượng, mẫu mã sản phẩm. Đã có 410 tổ chức, doanh nghiệp áp dụng hệ thống quản lý chất lượng, công cụ tiên tiến, 100% các Sở, ban, ngành và 14/14 cấp huyện; 186 xã phường đã chuyển đổi xong Hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến ISO 9001:2015; Thực hiện tốt việc quản lý các sản phẩm, hàng hóa nhóm 2 bằng quy chuẩn kỹ thuật  góp phần quan trọng trong việc đồng bộ quản lý, tích cực tham gia cải cách hành chính.

Tỉnh Quảng Ninh đã triển khai  nhiệm vụ khoa học trên các lĩnh vực kinh tế xã hội, quốc phòng an ninh.... Các nhiệm vụ đều được thực hiện có trọng tâm, trọng điểm; đề xuất theo chủ đề công tác năm “ Nâng cao chất lượng và hiệu quả dịch vụ”. Về lĩnh vực nông nghiệp chiếm 348% tổng số nhiệm vụ; Y dược chiếm gần 20%; Khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ chiếm 10%; khoa học xã hội, nhân văn chiếm 35,2% nhiệm vụ. Trong lĩnh vực nông nghiệp đã tập trung triển khai các nhiệm vụ khoa học và công nghệ vào nghiên cứu sản xuất giống các đối tượng có giá trị kinh tế như: sá sùng, ngao giá, giống lúa mới, dòng na mới, nấm thượng hoàng…Dự Hội nghị tổng kết hoạt động khoa học và công nghệ năm 2019, triển khai nhiệm vụ hoạt động khoa học và công nghệ năm 2020, Bà Trần Thị Hồng, Giám đốc Công ty CP giống cây trồng Quảng Ninh cho biết: “Năm 2019, Công ty CP giống cây trồng Quảng Ninh đã hoàn thành và được nghiệm thu 2 nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh: giống lúa ĐT 120 đã được Bộ NN&PTNT công nhận sản xuất thử năm 2019. Đây là giống lúa đặc sản, chất lượng thơm ngon, đạt giá trị cao trong tiêu dùng nội địa và xuất khẩu. Cùng với đó là phục tráng thành công giống lúa Bao thai lùn tại các huyện miền Đông trong tỉnh. Đây là thành công và là niềm tự hào của những người làm công tác nghiên cứu khoa học. Năm 2020, Công ty dự kiến sản xuất kinh doanh 1000-1500 tấn giống lúa để phục vụ sản xuất; tiếp tục tham gia và làm tốt các nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh được giao”.

Hoạt động KH&CN của các sở, ban, ngành và các địa phương trong năm 2019 đã có sự chuyển biến tích cực: 12/14 địa phương bố trí kinh phí dành riêng cho hoạt động ứng dụng tiến bộ KH&CN với tổng kinh phí gần 23,000 tỷ đồng. Ông Nguyễn Mạnh Tuấn, Phó Giám đốc Sở Y tế Quảng Ninh cũng cho biết: “Ngành Y tế đã tập trung nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao, đào tạo nhân lực về công nghệ mới trong y tế dự phòng, công tác khám chữa bệnh, góp phần giảm tải cho bệnh viện tuyến trên. Ngành Y tế đã chủ động áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật mới trong chẩn đoán và điều trị, sử dụng có hiệu quả trang thiết bị hiện đại, ứng dụng hệ thống quản lý sự cố y khoa tại Bệnh viện. Trong năm, các đơn vị Y tế của ngành đã đăng ký thực hiện tổng cộng 375 đề  tài nghiên cứu khoa học, trong đó có 5 đề tài cấp tỉnh, 370 đề tài cấp cơ sở, trong đó có nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật mang lại nhiều lợi ích cho công tác chuyên môn, đặc biệt là trong lĩnh vực khám chữa bệnh…Phải nói rằng, năm 2019 là một năm thành công của ngành Y tế trong việc đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng KH&CN”.

Công tác quản lý nhà nước về KH&CN tiếp tục được đẩy mạnh. Hoạt động KH&CN của tỉnh luôn bám sát định hướng của Trung Ương, của Tỉnh với sự vào cuộc tích cực của các cấp, ngành, địa phương; Đầu tư có trọng tâm, trọng điểm và lồng ghép nhiều nguồn vốn để thực hiện nhiệm vụ chuyển giao, ứng dụng các tiến bộ KH&CN vào các lĩnh vực có thế mạnh của tỉnh, hướng đến lấy doanh nghiệp làm trung tâm, tạo sự liên kết chặt chẽ giữa các tổ chức nghiên cứu KH&CN với doanh nghiệp. Nỗ lực triển khai tổ chức thành công các sự kiện KH&CN lớn, nổi bật (Ngày hội khởi nghiệp đổi mới sáng tạo Việt Nam (Techfest) năm 2019; Hội nghị thường niên Diễn đàn Đo lường Pháp định châu Á – Thái Bình Dương lần thứ 26; Hội nghị về sở hữu trí tuệ năm 2019;…).

 Tại Hội nghị tổng kết hoạt động khoa học và công nghệ năm 2019, triển khai nhiệm vụ hoạt động khoa học và công nghệ năm 2020; đồng chí Hoàng Bá Nam, Giám đốc Sở KH&CN đã khẳng định quyết tâm của ngành trong việc thực hiện chủ đề năm công tác 2020 “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức, viên chức và bảo đảm tăng trưởng kinh tế bền vững" , tập trung chủ yếu vào những nội dung sau: Tham mưu tổ chức tổng kết thực hiện Nghị quyết 07-NQ/TU, tiếp tục đề ra một Nghị quyết mới mang tính chiến lược, tổng thể, toàn diện, là nền tảng thúc đẩy hoạt động KH&CN Quảng Ninh phát triển lên tầm cao mới; Bám sát chỉ đạo của Trung ương và của Tỉnh về KH&CN để triển khai thực hiện các Đề án, trong đó có nhiệm vụ thực hiện thí điểm quản lý ISO điện tử gắn với Chính quyền điện tử; Tập trung nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức, viên chức trong linh vực KH&CN toàn tỉnh; Triển khai các hoạt động thúc đẩy khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, trong đó chú trọng kết nối các nguồn lực, cung cấp các dịch vụ tư vấn và đào tạo khởi nghiệp, tạo ra các doanh nghiệp KH&CN sản xuất sản phẩm mới, giá trị gia tăng cao. Tập trung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; Tăng cường hoạt động quản lý nhà nước về Khoa học công nghệ đảm bảo thực hiện tốt quy định của Luật Khoa học và Công nghệ và các quy định khác về KH&CN từ cấp tỉnh đến các huyện, thị xã, thành phố; Tập trung tháo gỡ cơ chế chính sách, tham mưu sửa đổi, hoàn thiện, xây dựng cơ chế chính sách trong hoạt động khoa học và công nghệ. Tiếp tục triển khai thực hiện cơ chế đặt hàng đối với các đơn vị sự nghiệp công lập; Tăng cường các hoạt động hợp tác về KH&CN: Hợp tác trong nước và Hợp tác Quốc tế; Tăng cường Công tác truyền thông về hoạt động KH&CN.

Những kết quả mà ngành KH&CN Quảng Ninh đạt được trong năm 2019 là nhờ sự đồng tâm, nỗ lực cố gắng của các cấp, các ngành, sự đồng tình ủng hộ của người dân và doanh nghiệp trong toàn tỉnh. Với sự quyết tâm, quyết liệt của ngành trong việc thực hiện chủ đề năm công tác 2020 “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức, viên chức và bảo đảm tăng trưởng kinh tế bền vững", tập trung vào những nhiệm vụ trọng tâm nêu trên, hoạt động KH&CN Quảng Ninh sẽ tiếp tục có sự chuyển biến mới, thực sự trở thành động lực thúc đẩy KTXH của tỉnh phát triển mãnh mẽ.

                                                           Bài, ảnh:  Thu Hương

Lan tỏa Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo

Hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại Quảng Ninh đã và đang được lan tỏa rộng rãi đến mọi tầng lớp nhân dân, doanh nghiệp và lực lượng thanh niên trong toàn tỉnh.

Ngay sau khi có Quyết định số 844/QĐ-TTg năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ V/v phê duyệt Đề án “Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025”, UBND tỉnh Quảng Ninh đã ban hành Kế hoạch số 56/KH-UBND về việc hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo giai đoạn 2017-2020. HĐND tỉnh cũng ban hành Nghị quyết 148/2018/NQ-HĐND ngày 17/12/2018 về chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo với những cơ chế rõ ràng như: Hỗ trợ về đổi mới công nghệ, hỗ trợ truyền thông quảng bá hình ảnh, sản phẩm... Việc tạo lập hệ sinh thái khởi nghiệp trong thời gian qua được chú trọng, với mong muốn phát triển hạ tầng vườn ươm doanh nghiệp, kết nối nguồn lực; phát triển tư duy đổi mới sáng tạo, ý tưởng kinh doanh và tinh thần khởi nghiệp trong giới trẻ; xây dựng văn hóa khởi nghiệp trong cộng đồng.

  Quang cảnh Hội thảo - Café Công nghệ “Nâng cao năng lực hỗ trợ ươm tạo công nghệ và doanh nghiệp KHCN lĩnh vực dược liệu tại tỉnh Quảng Ninh”.

Sở KH&CN đã tham mưu cho tỉnh triển khai phù hợp với điều kiện và tình hình thực tiễn của tỉnh Quảng Ninh; tạo lập môi trường thuận lợi cho khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tỉnh Quảng Ninh xây dựng chính sách hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, thành lập câu lạc bộ khởi nghiệp; thu hút vốn đầu tư của tổ chức, cá nhân và các tập đoàn lớn trong tỉnh cùng với hỗ trợ của tỉnh và Trung ương cho khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; hình thành cơ sở ươm tạo công nghệ và doanh nghiệp khoa học và công nghệ. Quảng Ninh đã thành lập Câu lạc bộ Đầu tư – Khởi nghiệp của tỉnh trực thuộc Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam với 50 thành viên; 12/14 địa phương của Quảng Ninh đã thành lập Câu lạc bộ Đầu tư – Khởi nghiệp thuộc Đoàn thanh niên các địa phương với trên 400 thành viên; Hội Liên hiệp phụ nữ thành lập 7 Câu lạc bộ khởi nghiệp; 03 Trường Đại học trên địa bàn đều thành lập Câu lạc bộ khởi nghiệp. Hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại Quảng Ninh đã và đang được lan tỏa rộng rãi đến mọi tầng lớp nhân dân, doanh nghiệp và nhất là lực lượng thanh niên thể hiện bằng những kết quả nổi bật. Tỉnh đã tổ chức thành công 07 cuộc thi sáng tạo khoa học kỹ thuật, 04 cuộc thi sáng tạo thanh thiếu niên và cùng với đó là cuộc thi Ý tưởng sáng tạo khởi nghiệp …, kết quả: hàng trăm giải pháp kỹ thuật được ứng dụng vào thực tiễn, nhiều ý tưởng sáng tạo của thanh thiếu niên cũng được ứng dụng và nhân rộng, thu hút sự quan tâm, hỗ trợ của toàn xã hội.

Rất nhiều hoạt động được tổ chức như: CLB Đầu  tư khởi nghiệp Quảng Ninh phối hợp tổ  chức Diễn đàn khởi nghiệp quốc gia “Khát vọng khởi nghiệp trong thời kỳ 4.0; “Cà phê Doanh nhân với cuộc cách mạng công nghiệp 4.0”, “Cà phê công nghệ - Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo”;  Hội nghị xét chọn, tôn vinh danh hiệu “Trí thức khoa học và công nghệ tiêu biểu”, “Điển hình lao động sáng tạo”, “Tài năng trẻ khoa học và công nghệ” tỉnh Quảng Ninh lần thứ I, năm 2018. Đặc biệt, Ngày hội khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia 2019 với chủ đề “Nguồn lực hội tụ”, Techfest Vietnam 2019  được tổ chức tại Quảng Ninh tiếp tục thúc đẩy kết nối, giới thiệu quảng bá nhiều sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, đồng thời hướng tới gắn kết, thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo của Quảng Ninh phát triển và góp phần đưa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia hàng đầu khu vực về khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.

Tuy nhiên, hiện nay các hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tỉnh Quảng Ninh cũng gặp không ít khó khăn từ hành lang pháp lý (điều kiện để được hỗ trợ), môi trường kinh doanh và chính nhân lực của các doanh nghiệp khởi nghiệp. Mặc dù chưa có con số thống kê chính thức, nhưng theo đánh giá, hoạt động khởi nghiệp tại Quảng Ninh hầu hết chỉ dừng lại ở khởi nghiệp đơn thuần, theo phương thức kinh doanh truyền thống, dựa trên khai thác thế mạnh của địa phương, vùng miền, đã có những ý tưởng áp dụng công nghệ trong hoạt động khởi nghiệp của mình để tạo nên những sản phẩm chất lượng, hiệu quả nhưng chưa rõ nét, chưa thực sự được coi là khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Việc kêu gọi vốn đầu tư từ các nhà đầu tư, tập đoàn lớn là rất khó khăn, ít có nhà đầu tư dám mạo hiểm đầu tư cho hoạt động này. Do đó, rất cần được Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức các hội nghị để hướng dẫn đăng ký các nhiệm vụ thuộc Đề án để tạo sự lan tỏa hơn tới các địa phương khác trong cả nước; Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp KH&CN tổ chức các hoạt động, sự kiện, chương trình kết nối tại các địa phương trong cả nước, để giúp địa phương kêu gọi được vốn của các nhà đầu tư cho hoạt động đổi mới sáng tạo; Tổ chức các lớp tập huấn, đào tạo kỹ năng phát triển và quản lý dự án đổi mới sáng tạo.

          Ngày 18/02/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 09/CT-TTg về tạo điều kiện cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo nhằm tiếp tục triển khai có hiệu quả Đề án hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025, hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước đối với hoạt động khởi nghiệp sáng tạo. Thực hiện Chỉ thị này, Sở KH&CN đang tích cực chỉ đạo triển khai thực hiện các nội dung trọng tâm: tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp, khảo sát xác định doanh nghiệp tiềm năng, hướng dẫn hoàn thiện hồ sơ, thủ tục phát triển thành doanh nghệp KH&CN; cung cấp thông tin KHCN; rà soát các nội dung hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo theo Nghị quyết 148/2018/NQ-HĐND ngày 17/12/2018 để đề xuất sửa đổi phù hợp, thuận lợi nhất cho doanh nghiệp;…Bởi vậy, các doanh nghiệp cần tích cực hưởng ứng, mạnh dạn đầu tư nghiên cứu ứng dụng, đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm và nếu có nhu cầu, có dự án phù hợp thì lập hồ sơ đề nghị hỗ trợ theo các cơ chế chính sách của Nhà nước dành cho hoạt động KH&CN.

Bài, ảnh:  Hương Anh

Bước tiến mới trong hoạt động đo lường

Thời gian qua, hoạt động đo lường tỉnh Quảng Ninh tiếp tục có những bước tiến mới, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Đặc biệt, công tác quản lý nhà nước về đo lường từ tuyến tỉnh đến cấp huyện đã phát huy hiệu quả, không để xảy ra tình trạng gian lận về đo lường. Hệ thống các tổ chức kiểm định trên địa bàn tỉnh đã đáp ứng được nhu cầu của các tổ chức cá nhân về phương tiện đo nhóm 2. Sở KH&CN đã chỉ đạo Chi cục phối hợp với các ngành chức năng của tỉnh kiểm tra trên 50 doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh và lưu thông hàng hóa  trên thị trường nhằm bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, đảm bảo công bằng, khách quan trong mua bán, thúc đẩy văn minh thương mại. Chấp hành các quy định của pháp luật đo lường, các doanh nghiệp đã tích cực đầu tư các phương tiện đo hiện đại; nghiên cứu, ứng dụng KHCN vào hoạt động đo lường, góp phần nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm hàng hóa, lợi nhuận cho doanh nghiệp.

Cán bộ Chi cục Tiêu chuẩn đo lường chất lượng (Sở KH&CN) kiểm định cân tại chợ Hạ Long I 

Các doanh nghiệp điển hình: TKV đã đầu tư trang thiết bị đo lường hiện đại trong giao nhận than, đảm bảo giao nhận than an toàn, chính xác hàng triệu tấn/năm;  Công ty Xăng dầu B12 đầu tư hệ thống xuất hàng từ động hóa bên xuất thủy - bộ, xăng dầu được đo lường bằng lượng kế, kiểm soát chặt chẽ, hoạt động khép kín kết nối cùng hệ thống đo mức tự động các bể chứa xăng dầu được kết nối đến các cá nhân, đơn vị, bộ phận điều hành, quản lý hoạt động xuất, nhập. Công ty CP Vật tư TKV nghiên cứu chế tạo thiết bị nhận diện phương tiện đo bằng cảm ứng từ để quản lý cấp phát xăng dầu tự động…

Để tiếp tục thực hiện tốt hoạt động đo lường của tỉnh theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ và quyết định của Bộ KH&CN, Sở KH&CN đã tham mưu cho UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 30/KH-UBND (ngày 17/2/2020) thực hiện Đề án “Tăng cường, đổi mới hoạt động đo lường hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập quốc tế giai đoạn đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”. Theo đó, các nhiệm vụ và giải pháp được đưa vào tập trung thực hiện gồm: Rà soát sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách tạo thuận lợi hoạt động đo lường hỗ trợ doanh nghiệp; tăng cường phát triển hạ tầng đo lường của tỉnh; nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về đo lường; triển khai công tác hỗ trợ doanh nghiệp đảm bảo đo lường; tăng cường hợp tác quốc tế trong công tác nghiên cứu, đào tạo, chuyển giao công nghệ về đo lường; đẩy mạnh công tác truyền thông về hoạt động đo lường.

Sở KH&CN là đơn vị đầu mối chịu trách nhiệm đôn đốc, kiểm tra hướng dẫn các sở, ban, ngành, địa phương trong việc triển khai các nhiệm vụ được giao tại Kế hoạch này. Đối tượng thực hiện là các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp Việt Nam hoạt động sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh, sử dụng phương tiện đo và hàng đóng gói sẵn trên địa bàn tỉnh; các tổ chức cung cấp dịch vụ kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm phương tiện đo, chuẩn đo lường và các phòng thí nghiệm được công  nhận cho các lĩnh vực đo lường trên địa bàn tỉnh; cơ quan quản lý nhà nước về đo lường và tổ chức, cá nhân khác có liên quan.

Sở KH&CN tham mưu triển khai Đề án tại Quảng Ninh với kỳ vọng phát triển cơ sở vật chất, hạ tầng dịch vụ kỹ thuật đo lường theo hướng đồng bộ, hiện đại, đáp ứng hội nhập quốc tế và nhu cầu đảm bảo đo lường chính xác cho hoạt động doanh nghiệp, phù hợp điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh. Cùng với đó tập trung hỗ trợ doanh nghiệp trong một số ngành, lĩnh vực ưu tiên như: Công nghiệp công nghệ cao, sản xuất kinh doanh than, điện, xăng dầu, công nghệ điện tử, viễn thông gắn với nền kinh tế số, nông nghiệp công nghệ cao…; xây dựng, triển khai hiệu quả chương trình bảo đảm đo lường tại doanh nghiệp; tăng cường hoạt động đo lường gắn chặt với hoạt động doanh nghiệp;…

Đề án được triển khai sẽ thúc đẩy hoạt động đo lường của tỉnh có thêm bước tiến mới, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Bởi vậy, rất cần sự vào cuộc mạnh mẽ của các sở, ban, ngành, địa phương và của cộng đồng doanh nghiệp.

                                      Bài, ảnh: Thu Hương

HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Quảng Ninh làm tốt công tác Diễn tập ứng phó sự cố bức xạ và hạt nhân

Trong những năm gần đây, tỉnh Quảng Ninh luôn quan tâm chú trọng và làm tốt công tác diễn tập ứng phó sự cố bức xạ, sự cố hạt nhân. Buổi diễn tập ứng phó sự cố bức xạ, sự cố hạt nhân năm 2019 được tổ chức vào cuối tháng 12/2019 tại Lữ đoàn 170 - Thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh càng khẳng định rõ nét điều này.

  Cảnh diễn tập tình huống sơ cứu bệnh nhân nhiễm xạ tại hiện trường, chuyển bệnh Viện cấp cứu

Trên địa bàn tỉnh hiện gần 80 cơ sở bức xạ với 56 nguồn phóng xạ, gần 200 máy phát tia X, 3 máy gia tốc, và nhiều cơ sở thu mua phế liệu,.. Do vậy sự cố bức xạ hạt nhân không chỉ diễn ra ngay tại cơ sở bức xạ với nhiều nguyên nhân như mất nguồn, vỡ nguồn, kẹt nguồn, tràn đổ chất phóng xạ mà còn nhiều sự cố bức xạ từ tỉnh ngoài, từ quốc gia khác. Vì vậy, vấn đề quản lý nhà nước về an toàn bức xạ và an ninh nguồn phóng xạ và việc chuẩn bị lực lượng để ứng phó với sự cố bức xạ, hạt nhân là hết sức cần thiết. Trước thực tế đó, Sở KH&CN đã tham mưu và được UBND tỉnh phê duyệt Kế hoạch Diễn tập ứng phó sự cố bức xạ và hạt nhân trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh năm 2019. Các lực lượng tham gia gồm: Bộ CHQS tỉnh, Công an tỉnh, Bộ đội biên phòng tỉnh, Lữ đoàn 170 Hải quân, Sở y tế và khối bệnh viện, Trung tâm hỗ trợ kĩ thuật an toàn bức xạ hạt nhân và ứng phó sự cố.Với vai trò là Trưởng Ban, Sở Khoa học và Công nghệ phối hợp với Trung tâm hỗ trợ Kỹ thuật An toàn bức xạ và Hạt nhân xây dựng kịch bản Chi tiết phát hiện nguồn phóng xạ vô chủ tại Khu tập thể Lữ đoàn 170 với tình huống di dân khu vực ảnh hưởng, xây dựng bản đồ bố trí theo kịch bản. Bộ Chỉ huy Quân sự xây dựng kịch bản di dân và xây dựng tài liệu hướng dẫn sự cố, tìm kiếm cứu nạn. Các kịch bản đảm bảo nội dung, đưa ra được quy trình và phù hợp với khi triển khai diễn tập.

Trước ngày diễn tập chính thức, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Ninh đã phối hợp với Trung tâm Hỗ trợ Kỹ thuật An toàn bức xạ và hạt nhân tổ chức lớp đào tạo và cấp chứng chỉ cho người chỉ huy ứng phó sự cố bức xạ và hạt nhân với số lượng gồm 80 người, được phân bổ như sau: Bộ chỉ huy quân sự: 45 người; Sở KH&CN: 6 người ; Sở Y tế: 2 người; Công an tỉnh: 4 người (2 điều tra, 2 Bảo vệ hiện trường);  3 bệnh viện (Bãi Cháy, Đa khoa tỉnh, Việt Nam - Thụy Điển, Uông Bí): 12 người; Bộ Chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh: 02; Lữ đoàn 170: 02 người và  lực lượng vũ trang; 20 người.

 Quang cảnh  bế mạc buổi Diễn tập.ứng phó sự cố bức xạ và hạt  nhân tỉnh Quảng Ninh năm 2019

Tại buổi diễn tập chính thức: Kịch bản diễn tập phát hiện nguồn phóng xạ vô chủ tại khu tập thể nhân dân Lữ đoàn 170 với tình huống di dân khu vực bị ảnh hưởng. Với số lượng 80 người tham gia diễn tập được chia thành các tổ công tác: Đội kiểm xạ;  Đội y tế; Đội di dân; Đội thu hồi nguồn,  đã diễn tập thành thành thạo các thao tác, quy trình kiểm xạ, quy trình di dân, quy trình cấp cứu người bệnh, công tác chính trị, tư tưởng … Cụ thể: cán bộ Sở KH&CN tới hiện trường, dùng máy đo để phát hiện mức bức xạ cao bất thường và báo cáo lãnh đạo Sở KH&CN; lực lượng công an đến hiện trường bảo vệ hiện trường, phối hợp với Sở KH&CN lập khu vực hàng rào an ninh; các lực lượng Sở KH&CN, Bộ CHQS tỉnh, Bộ đội biên phòng tỉnh đến hiện trường, chỉ huy hiện trường nhanh chóng chỉ đạo công tác thiết lập các khu vực ứng phó sự cố; sơ tán, kiểm tra sức khỏe người dân, chuyển bệnh nhân đến bệnh viện; thu hồi nguồn phóng xạ và họp kết thúc ứng phó sự cố. Các thành viên tham gia diễn tập đã nỗ lực, cố gắng, thể hiện tinh thần, thái độ, ý thức trách nhiệm cao, tác phong khẩn trương, nghiêm túc; các vai tập, hành động chuẩn bị khá tốt và hoàn thành nội dung đặt ra, được Ban Tổ chức diễn tập đánh giá cao.

Ông Bùi Quang Minh, Phó Giám đốc Sở KH&CN (Trưởng ban tổ chức Diễn tập ứng phó sự cố bức xạ và hạt nhân năm 2019) khẳng định: Sau những ngày tập huấn, diễn tập thử, buổi diễn tập chính thức đã thực hiện thành công theo kịch bản, đúng mục đích, nhanh chóng, kịp thời, an toàn và được quản lý, kiểm soát, phối hợp đồng bộ, có hiệu quả giữa các đơn vị. Buổi diễn tập đã nâng cao ý thức trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân, cơ quan, đơn vị về công tác bảo đảm an toàn bức xạ và an ninh nguồn phóng xạ. Nâng cao năng lực, chỉ đạo, chỉ huy và tổ chức hiệp đồng giữa các đơn vị trong công tác ứng phó với sự cố bức xạ hạt nhân. Kết quả này thể hiện sự đoàn kết, phối hợp chặt chẽ của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh, Sở Y tế, Lữ đoàn 170, Bệnh viện Đa khoa tỉnh, Bệnh viện Bãi Cháy, Bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí, các các sở, ngành, UBND các cấp và nhân dân địa phương trên khu vực diễn tập của tỉnh. Ban tổ chức quyết định khen thưởng 7 đơn vị có thành tích xuất sắc trong Diễn tập, gồm: Phòng tham mưu (Lữ đoàn 170); Đại đội chinh sát (Bộ chỉ huy quân sự tỉnh); Ban chỉ huy quan sự thành phố Hạ Long; Phòng tham mưu (Bộ chỉ huy quân sự tỉnh); phòng Quản lý chuyên ngành (Sở KH&CN); Phòng PC07 (Công an tỉnh); Bệnh viện Đa khoa tỉnh”. Và điều đáng nói là không chỉ buổi diễn tập năm nay thành công mà những năm trước đây, Quảng Ninh đều tổ chức diễn tập ứng phó sự cố bức xạ, sự cố hạt nhân thành công mặc dù chủ đề, tình huống diễn tập không giống nhau. Điều này khẳng định Quảng Ninh luôn quan tâm, trú trọng và triển khai chu đáo, bài bản công tác này.

                                                                            Bài, ảnh: Hương Anh

Thị xã Quảng Yên: Cụ thể hóa một Nghị quyết 07/NQ-TU vào cuộc sống

Nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 07/NQ-TU của Tỉnh ủy về phát triển khoa học và công nghệ tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020,  Thị ủy Quảng Yên nỗ lưc tập trung triển khai các giải pháp và đến nay sau 03 năm triển khai thực hiện đã đạt được kết quả tích cực trong hoạt động khoa học và công nghệ ở địa phương.

Là địa phương sớm triển khai thực hiện Nghị quyết số 07/NQ-TU, thị xã Quảng Yên đã thành lập Ban chỉ đạo về phát triển khoa học và công nghệ; ban hành Chương trình hành động, kiện toàn Hội đồng KHCN; cử cán bộ theo dõi hoạt động KH&CN và triển khai đồng bộ các nội dung thực hiện Nghị quyết. Hàng năm thị xã Quảng Yên đã triển khai tốt các hoạt động về an toàn bức xạ, sở hữu công nghiệp, tiêu chuẩn đo lường chất lượng. Địa phương cũng chủ động đầu tư, tăng các hoạt động KH&CN như  phát triển trường học thông minh; trang thiết bị, hạ tầng về khám chữa bệnh; giao thông thông minh; cải cách hành chính…. Giai đoạn từ năm 2017-2020, thị xã đã bố trí tổng kinh phí gần 4,5 tỷ đồng để dành cho hoạt động KH&CN; qua đó triển khai 08 nhiệm vụ KH&CN cấp cơ sở, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào các lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.                     

 Anh Đinh Văn Giang(xã Sông Khoai, TX Quảng Yên) đang phổ biến nguyên lý hoạt động của chiếc máy chế biến thức ăn chăn nuôi đa năng cho bà con nông dân

Điều đáng ghi nhận là các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trên địa bàn thị xã Quảng Yên đã tích cực vào cuộc thực hiện Nghị quyết 07. Nhiều doanh nghiệp đã nhận thức rõ lợi ích và nỗ lực ứng dụng KH&CN vào sản xuất. Công ty TNHH Thủy sản Minh Hàn đã ứng dụng KH&CN triển khai hiệu quả mô hình sản xuất, kinh doanh tôm, cua giống. Được sự hỗ trợ của địa phương, doanh nghiệp đã thực hiện áp dụng KH&CN vào các khâu một cách bài bản. Nhờ vậy, năng suất và chất lượng các loại giống thủy sản tại cơ sở thủy sản Minh Hàn đều tăng. Hiện doanh nghiệp đã đạt mức năng suất giống cua biển đạt trung bình 10 triệu con/năm thay vì 1 triệu con/năm như trước đây. Năng suất giống tôm các loại tăng từ 20 triệu con/năm lên 100 triệu con/năm; …

Hưởng ứng chương trình hành động thực hiện NQ 07, nắm bắt được nhu cầu ngày càng cao của thị trường, Công ty CP Đầu tư và Xuất nhập khẩu Song Hành ở thị xã Quảng Yên đã tiến hành nghiên cứu và sản xuất thử nghiệm rau thủy canh. Việc tích cực ứng dụng khoa học và công nghệ vào các khâu sản xuất đã giúp cho sản phẩm rau thủy canh của doanh nghiệp nhanh chóng có được chỗ đứng trên thị trường. Anh Nguyễn Văn Đô, cán bộ kỹ thuật  Công ty CP Đầu tư & XNK Song Hành cho biết: “Đối với rau thủy canh có sự khác biệt lớn so với canh tác rau truyền thống bởi quy trình sản xuất tương đối chặt chẽ. Do đó, ngoài việc đầu tư hệ thống nhà bơm, thiết bị phân bổ nước và hệ thống bơm phun rửa vách, trần nhà giàn…thì người cán bộ kỹ thuật trực tiếp phải tuân thủ nghiêm ngặt quy trình từ ươm giống tới khi thu hoạch”.

Tại xã Sông Khoai, thị xã Quảng Yên, anh Đinh Văn Giang là một trong những hộ gia đình có hoạt động KH&CN đáng ghi nhận. Với suy nghĩ làm sao để có thực phẩm chăn nuôi sạch an toàn cho sức khỏe, làm sao để gia đình mình và bà con nông dân phát triển kinh tế bền vững từ ngành chăn nuôi...được sự hỗ trợ khích lệ của địa phương, anh Giang đã sáng chế ra máy chế tạo thức ăn chăn nuôi đa năng cùng giải pháp chăn nuôi công nghệ xanh thân thiện với môi trường. Anh được biết đến là nhà sáng chế có nghị lực phi thường với niềm đam mê khoa học, luôn sáng tạo, phát hiện, tìm tòi, nỗ lực vươn lên trong gian khó với khát vọng giúp mọi người nông dân ở nông thôn của mọi miền đất nước vươn lên thoát nghèo. Từ khát vọng đó, cơ sở của anh Giang đã cho ra đời trên 20 loại sản phẩm sáng tạo đa dạng, phong phú, phục vụ nhu cầu người tiêu dùng, phù hợp với mọi tầng lớp nhân dân. Anh Nguyễn Văn Thuận ở thôn 10, xã Sông Khoai, thị xã Quảng Yên (là người có thâm niên 20 năm nuôi lợn, bò) cho biết: Nhờ chiếc máy chế tạo thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm và áp dụng phương pháp chăn nuôi công nghệ xanh thân thiện với môi trường từ chế biến thức ăn ủ lên men, nên việc chăn nuôi của gia đình anh và các hộ gia đình trên điạ bàn đã giảm được đáng kể sức lao động.

 Công nhân Công ty CP Đầu tư và Xuất nhập khẩu Song Hành (TX Quảng Yên) đang chăm sóc rau thủy canh.

Cũng tại thị xã Quảng Yên, anh Đinh Công Tuyến, giáo viên Trường THCS Sông Khoai là một tấm gương lao động sáng tạo. Vừa tích cực dạy học, bằng sự lao động sáng tạo và đôi bàn tay tài hoa, thầy giáo Tuyến đã “thổi hồn” vào những chiếc vỏ sò điệp tưởng như không còn giá trị, biến chúng trở thành các tác phẩm nghệ thuật độc đáo. Tranh bột điệp là một ý tưởng sáng tạo tận dụng nguyên liệu vỏ sò điệp dồi dào sẵn có tại quê hương Quảng Yên. Sản phẩm tranh bột điệp vừa mang tính nghệ thuật, vừa là một món quà lưu niệm đẹp, ý nghĩa cho du khách khi đến với Quảng Ninh. Anh Tuyến cho biết:Các đề tài sáng tác của anh rất đa dạng, từ tranh tĩnh vật, tranh phong cảnh quê hương Quảng Yên, Vịnh Hạ Long cho đến các bộ tứ linh, tứ quý... Để có một bức tranh bột điệp hoàn thiện như vậy, anh đã trải qua cả một quá trình tìm tòi và thử nghiệm đầy gian nan mang đậm tính KH&CN”. Tranh bột điệp của anh Đinh Công Tuyến đã trở thành một trong những sản phẩm OCOP Quảng Ninh được xếp hạng 3 sao vào tháng 8 năm 2017. Đề tài vinh dự đạt giải nhất tại Cuộc thi sáng tạo dịch vụ tỉnh Quảng Ninh năm 2018. Và niềm đam mê sáng tạo của anh thực sự đã lan tỏa tới nhiều thế hệ học sinh yêu mến bộ môn nghệ thuật này.

Có thể nói, sự tích cực chủ động ứng dụng KH&CN vào sản xuất và đời sống của doanh nghiệp và người dân Quảng Yên đã và ngày càng lan tỏa, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế văn hóa xã hội của địa phương. Ông  Nguyễn Văn Bắc, Phó Chủ tịch UBND thị xã Quảng Yên cho biết: “Phát huy những kết quả  đạt được từ thực hiện Nghị quyết 07 của Tỉnh ủy, thời gian tới, với sự đồng hành của Sở KH&CN, thị xã  Quảng Yên sẽ tập trung thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm về KH&CN như: Xây dựng chương trình, kế hoạch khung cho hoạt động khoa học và công nghệ của địa phương  giai đoạn 2020-2025; tiếp tục bố trí kinh phí của địa phương để triển khai các nhiệm vụ KH&CN trên địa bàn; khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp, cá nhân thực hiện nhiệm vụ KH&CN; Đề xuất, tham gia thực hiện và duy trì bảo tồn các nguồn gen đặc hữu, quý hiếm, nguồn gen dược liệu có giá trị kinh tế cao của địa phương....và một số nhiệm vụ khác nữa”.

Bài, ảnh: Hương Anh

Ngành Than:  Làm chủ công nghệ tiên tiến, nâng giá trị hòn than

Những năm qua, ngành Than đã không ngừng chú trọng đầu tư, đẩy mạnh áp dụng những công nghệ, thiết bị mới vào các khâu sản xuất nhằm nâng cao năng suất lao động, cải tiến điều kiện làm việc, đảm bảo an toàn tối đa cho công nhân, lao động.

Ông Nguyễn Ngọc Cơ, Phó Tổng Giám đốc TKV cho biết: Trong thời gian qua, ngành Than đã đẩy mạnh đầu tư, đổi mới, ứng dụng tiến bộ KH&CN vào hoạt động khai thác, chế biến than. Đồng thời, ưu tiên cho hoạt động nghiên cứu, nâng cao tiềm lực, phát triển nguồn nhân lực KH&CN. Đến nay Tập đoàn đã và đang làm chủ nhiều công nghệ tiên tiến trên thế giới; chủ động chế tạo, nội địa hóa nhiều máy móc, thiết bị, phụ tùng phục vụ sản xuất.

Trong khai thác than lộ thiên, các đơn vị của TKV đã cơ bản thực hiện cơ giới hóa (CGH) ở tất cả các khâu sản xuất. Đồng thời, tiến hành áp dụng đồng bộ thiết bị CGH công suất lớn để giảm chi phí, như: Máy khoan đường kính lớn, máy xúc thủy lực gầu ngược dung tích 12m3; hệ thống vận tải liên hợp ô tô - băng tải; sử dụng máy cầy xới thay thế một phần công nghệ khoan nổ mìn tại các khu vực phù hợp.

Việc đẩy mạnh CGH trong khai thác hầm lò cũng được TKV chú trọng, coi đây là nhiệm vụ then chốt để nâng cao năng suất, sản lượng và đảm bảo an toàn lao động. Nhiều công nghệ tiêu biểu đã được áp dụng tại các đơn vị hầm lò như: Lò chợ CGH đồng bộ công suất 1,2 triệu tấn/năm; CGH kết hợp giá khung, giá xích; giàn chống mềm ZRY tại các khu vực vỉa dày trung bình, dốc đứng để thay thế công nghệ đào lò lấy than, buồng thượng, dọc vỉa phân tầng; CGH đào lò, chống lò bằng vì neo… Các công nghệ tự động hóa, tin học hóa trong vận hành, điều khiển giám sát cũng được áp dụng triệt để, nhằm hiện đại hóa quá trình sản xuất, giảm lao động thủ công trực tiếp, tiết giảm chi phí và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.

Nhờ áp dụng hiệu quả cơ giới hóa, hiện đại hóa, sản lượng và năng suất khai thác than của một số đơn vị của TKV tăng lên đáng kể, góp phần giúp Tập đoàn thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển sản xuất, kinh doanh. Năm 2019, TKV khai thác được hơn 40,5 triệu tấn than (tăng 3,9 triệu tấn so với năm 2018); than tiêu thụ hơn 45 triệu tấn (tăng 4,5 triệu tấn so với năm 2018); lợi nhuận đạt hơn 3.000 tỷ đồng; thu nhập bình quân 11,3 triệu đồng/người-tháng.

Bên cạnh đó, số lao động Tập đoàn đã giảm khoảng 25 ngàn người; năng suất lao động tăng bình quân từ 3-5% mỗi năm; sản lượng khai thác bằng CGH đạt 11,66% năm 2019. Lợi ích kinh tế từ việc đổi mới công nghệ, tin học hóa, tự động hóa trong khối than ước đạt trên 250 tỷ đồng/năm.

Theo kế hoạch của TKV, trong giai đoạn tiếp theo, mục tiêu điều hành kế hoạch của Tập đoàn là duy trì sản xuất ổn định, đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm, tiếp tục hoàn thiện cơ cấu tổ chức, mô hình quản trị phù hợp, tiết kiệm chi phí, nâng cao năng suất, chất lượng, đảm bảo phát triển bền vững, cải thiện thu nhập, điều kiện làm việc và phúc lợi cho người lao động, đặc biệt là thợ lò.

Với mục tiêu đó, TKV tiếp tục đẩy mạnh việc đổi mới, hoàn thiện tổ chức quản lý và sản xuất, đưa KH&CN phát triển với 3 trọng tâm: Cơ giới hóa, tự động hóa, tin học hóa vào tất cả các lĩnh vực sản xuất kinh doanh (từ khai thác, sàng tuyển, chế biến). Coi đây là chìa khóa để tăng năng suất lao động, giảm tổn thất tài nguyên, tiết kiệm chi phí.

 Giám sát qua hệ thống camera tại Trung tâm điều hành sản xuất tập trung (Công ty CP than Hà Lầm).

Đồng thời tăng cường bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, đổi mới, nâng cao chất lượng lao động để tiếp cận công nghệ mới, tiến tới vận hành quản lý nguồn nhân lực bằng tin học hóa. Đặc biệt, đẩy mạnh ứng dụng CGH đồng bộ trong khai thác than hầm lò; chú trọng việc triển khai nghiên cứu áp dụng CGH hạng nhẹ, để tăng năng suất lao động, cải thiện điều kiện làm việc, giảm nguy cơ mất an toàn.

Theo Phó Tổng Giám đốc TKV, trong định hướng đến năm 2025, TKV phấn đấu sẽ ứng dụng rộng rãi CGH đồng bộ và bán CGH vào các công đoạn sản xuất chính trong khai thác, chế biến. Đồng thời, nâng sản lượng than khai thác bằng CGH và mét lò chống neo đạt từ 25-30% tổng mét lò đào mới. Tiếp tục triển khai các hệ thống tự động hóa trong điều khiển, giám sát cung cấp điện, vận tải băng tải, thông gió, bơm nước và quan trắc môi trường; đưa vào vận hành hệ thống SCADA giám sát, điều khiển tập trung toàn mỏ/nhà máy tích hợp tại các đơn vị khai thác, lộ thiên, sàng tuyển, chế biến; đến năm 2025, một số mỏ đạt mức tự động hóa cao, có thể điều khiển và giám sát từ xa tại phòng tập trung.

Tập đoàn cũng sẽ nghiên cứu xây dựng một số trạm vận hành không người trực; thực hiện mô hình tự động hóa gắn với sản xuất thông minh ở một số công đoạn sản xuất nhằm mục tiêu minh bạch hóa và tối ưu hóa quá trình sản xuất. Đặc biệt, không để xảy ra các vụ tai nạn, sự cố nghiêm trọng về khí, cháy mỏ, bục nước mỏ và ngập mỏ hầm lò, đáp ứng các yêu cầu ổn định sản xuất của mỏ

Bài, ảnh: Nguyễn Thị Hồng Ngọc

 Đẩy mạnh các phong trào sáng tạo, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa quy trình sản xuất

Với mục tiêu đưa KH&CN vào tất cả các lĩnh vực sản xuất (khai thác, sàng tuyển, chế biến), những năm qua, bên cạnh việc chủ động đầu tư đổi mới công nghệ, thiết bị theo hướng cơ giới hóa, tự động hóa, các đơn vị của TKV còn đẩy mạnh các phong trào sáng tạo, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa quy trình sản xuất. Qua đó, góp phần tăng năng suất lao động, giảm tổn thất tài nguyên, tiết kiệm chi phí và đảm bảo an toàn cho người lao động.

 Đổi mới công nghệ chống lò mang lại hiệu quả năng suất cao, đảm bảo an toàn lao động tại Công ty Than Mông Dương.

Công ty Than Mông Dương hiện đang khai thác than hầm lò tại mức -250 và đang tiếp tục xuống sâu. Để nâng cao năng suất, đảm bảo an toàn lao động, công ty xác định giải pháp then chốt là phát huy những công nghệ đã áp dụng và tiếp tục nghiên cứu chế tạo, đầu tư cơ giới hóa phù hợp với điều kiện khai thác.

Các công nghệ khai thác đang được áp dụng tại lò chợ của công ty, gồm giá khung ZH, ZRY, XDY và vì neo chất dẻo. Công ty yêu cầu các công trường, phân xưởng phải có sáng kiến hợp lý hóa đối với từng loại công nghệ, nhằm nâng cao năng suất, đảm bảo an toàn lao động. Hiện Than Mông Dương đang là một trong 2 đơn vị được Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam giao thực hiện thí điểm đầu tư, áp dụng lò chợ cơ giới hóa hạng nhẹ trong khai thác. Công ty cũng đang chuẩn bị các điều kiện về vật tư, thiết bị, nhân lực để lò chợ này đi vào hoạt động trong tháng 4/2020, với công suất thiết kế 300.000 tấn than/năm.

Nhờ phát huy những công nghệ đã được đầu tư, 2 tháng đầu năm 2020, sản lượng than khai thác và tiêu thụ của Than Mông Dương đạt trên 240.000 tấn, tăng 23% so với cùng kỳ năm 2019. Công ty phấn đấu trong quý I/2020, sản lượng than khai thác và tiêu thụ đạt trên 380.000 tấn.

Tại Công ty CP Than Vàng Danh - đơn vị sản xuất than hầm lò có sản lượng lớn của TKV với khoảng 3 triệu tấn than nguyên khai mỗi năm, song song với các giải pháp cải thiến kỹ thuật, phong trào sáng tạo, thi đua lao động sản xuất tại đơn vị này cũng được tổ chức thường xuyên hằng năm. Qua đó, lan tỏa rộng khắp trong các phòng ban, phân xưởng và từng người lao động của công ty.

Đáng chú ý, tại Hội thi Sáng tạo kỹ thuật tỉnh lần thứ VII (2018-2019), Công ty CP Than Vàng Danh đã vinh dự đoạt giải Nhất với giải pháp Thu hồi than sơ đồ công nghệ khai thác lò chợ xiên chéo, chống giữ bằng giàn chống mềm loại ZRY. Ông Vương Minh Thu, Phó Giám đốc Công ty CP Than Vàng Danh cho biết: Quá trình áp dụng đề tài tại nơi vỉa dày lớn hơn 3,5m, góc dốc vỉa dưới 60 độ tại công ty đã cho thấy hiệu quả rõ rệt. Sản lượng khai thác than lò chợ trung bình đạt gần 11.000 tấn/tháng, tăng 16% so với trước đây; năng suất lao động đạt trung bình 7,27 tấn/công, tăng 12,1%; tổn thất than lò chợ giảm từ 21% xuống còn 17%.

Hiện nay, hoạt động nghiên cứu, sáng tạo KHKT cũng được các đơn vị  trong toàn ngành Than quan tâm với hàng nghìn đề tài, giải pháp, sáng kiến cải tiến mỗi năm. Đặc biệt, trong thực hiện các phong trào thi đua, lao động sáng tạo, tuổi trẻ ngành Than luôn là lực lượng xung kích, đi đầu. Tính riêng trong năm 2019, toàn Đoàn Than đã có hơn 1.000 sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, đảm bảo an toàn với giá trị làm lợi trên 45 tỷ đồng cho Tập đoàn.

Mặc dù còn gặp nhiều khó khăn, nhất là do ảnh hưởng của dịch Covid-19, nhưng với truyền thống “Kỷ luật và đồng tâm” của thợ mỏ, tin tưởng rằng, cán bộ, người lao động ngành Than tại Quảng Ninh tiếp tục đẩy mạnh thi đua sản xuất, hăng hái sáng tạo KHKT nhằm đạt sản lượng khai thác, tiêu thụ cao nhất, góp phần tích cực vào mục tiêu tăng trưởng, thu ngân sách và an sinh xã hội của tỉnh trong năm 2020.

Nguyễn Thị Hoa

 

Hiệu quả tích cực từ ứng dụng KHCN trong sản xuất nông nghiệp

Việc ứng dụng khoa học công nghệ (KHCN) vào sản xuất nông nghiệp đang là hướng đi tất yếu hiện nay, đáp ứng yêu cầu tái cơ cấu ngành nông nghiệp Quảng Ninh theo hướng nâng cao giá trị và phát triển bền vững

Thu hoạch rau trồng theo phương pháp thủy canh tại Công ty CP Đầu tư xây dựng và thương mại 188 (phường Mạo Khê, TX Đông Triều).

Tại TX Đông Triều, hiện nay mô hình canh tác nông nghiệp chất lượng cao, áp dụng khoa học kỹ thuật trong các khâu sản xuất đã được Công ty CP Đầu tư xây dựng và thương mại 188 (phường Mạo Khê) triển khai hiệu quả. Với diện tích sản xuất hơn 1,5ha, gồm 12 nhà lưới trồng rau thủy canh và trồng trên giá thể đã giúp doanh nghiệp này ổn định sản xuất quanh năm với các chủng loại rau: Xà lách, muống, cải canh, cải ngọt, cải ngồng, cải bó xôi, dưa leo baby, dưa lưới, cà chua, ớt chuông, cà rốt...

Bà Bùi Thị Thể, Giám đốc Công ty CP Đầu tư xây dựng và thương mại 188, cho biết: Bằng việc áp dụng KHCN, các khâu cấy giống, chăm sóc, thu hoạch đều được thực hiện một cách đồng bộ, qua đó cho năng suất và chất lượng ổn định. Đơn cử, như trong việc trồng rau thuỷ canh, các công thức chất dinh dưỡng được tính toán dựa trên các chỉ tiêu phân tích mẫu nước, mẫu đất, mẫu giá thể, phân bón để tạo nên các chất dinh dưỡng đầy đủ, đáp ứng cho nhu cầu của cây. Mô hình này còn giúp cây trồng cách ly được mầm bệnh, nguồn nước ô nhiễm, tránh được các độc tố từ chất hóa học... Nhờ vậy, các sản phẩm của đơn vị đều đảm bảo chỉ tiêu về an toàn thực phẩm và đã có mặt tại các hệ thống siêu thị Vinmart, BigC, Intermex, các nhà hàng, khách sạn, trường học trên địa bàn.

Cùng với Công ty CP Đầu tư xây dựng và thương mại 188, thời gian qua, việc ứng dụng KHCN trong sản xuất nông nghiệp đã được đẩy mạnh triển khai trên địa bàn tỉnh. Để làm căn cứ thực hiện nội dung này, Quảng Ninh đã linh hoạt thực hiện đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với triển khai có hiệu quả đề án “Tỉnh Quảng Ninh - Mỗi xã, phường một sản phẩm”. Qua đó, tập trung nhân rộng mô hình sản xuất, xây dựng các mô hình ứng dụng tiến bộ KHCN mới; xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm đặc thù địa phương, phát triển vùng sản xuất nông sản tập trung áp dụng theo tiêu chuẩn VietGAP.

Tỉnh cũng chỉ đạo các sở, ngành chuyên môn tập trung triển khai các nhiệm vụ KHCN vào nghiên cứu sản xuất giống các đối tượng có giá trị kinh tế cao như: Sá sùng, ngao giá, giống lúa mới, dòng na mới; bảo tồn nguồn gen các loài động thực vật đặc hữu, quý hiếm, có giá trị cao (ngán, hải sâm, tu hài, ba kích tím, gà Bang Trới...). Bên cạnh đó, các địa phương trong tỉnh đã chủ động hợp tác với các viện nghiên cứu, trường đại học trong việc hỗ trợ chuyển giao công nghệ phát triển sản phẩm thuộc Chương trình OCOP.

Đến nay, trên địa bàn tỉnh đã hình thành nhiều vùng sản xuất tập trung, ứng dụng KHCN đồng bộ cho hiệu quả cao như: Vùng lúa chất lượng cao đạt 4.690ha tại Đông Triều; vùng trồng rau an toàn đạt 348ha tại Quảng Yên; vùng trồng vải 972ha tại Uông Bí; vùng nuôi tôm tập trung 9.662ha tại Đầm Hà...

Tỉnh cũng ưu tiên, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư phát triển nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ, cơ giới hóa để nâng cao năng suất, chất lượng nông sản. Cho đến nay, nhiều tập đoàn và các nhà đầu tư lớn đã triển khai ứng dụng KHCN vào sản xuất trên địa bàn tỉnh như: Khu nông nghiệp công nghệ cao Evinco tại xã Hồng Thái Tây (Đông Triều) của Công ty TNHH VinEco, thuộc Tập đoàn Vingroup làm chủ đầu tư, trung bình mỗi tháng cung ứng cho thị trường từ 180-200 tấn nông sản chất lượng cao. Hay dự án sản xuất tôm giống và nuôi tôm thương phẩm công nghệ cao siêu thâm canh trong nhà kính tại xã Tân Lập, huyện Đầm Hà do Tập đoàn Việt - Úc làm chủ đầu tư, đến năm 2019 đã chính thức sản xuất mẻ tôm giống thẻ chân trắng đầu tiên với 12 triệu con tôm, đáp ứng nhu cầu con giống tại chỗ phục vụ người nuôi tôm trong tỉnh; ước tính công suất tối đa trong thời gian tới gần 600 triệu con tôm giống cho thị trường.

Với những cơ chế, chính sách và nguồn lực đầu tư thích đáng cho hoạt động ứng dụng KHCN, ngành nông nghiệp đã có những bước phát triển hiệu quả. Nhiều lĩnh vực ứng dụng KHCN hiện đại vào sản xuất đạt hiệu quả cao như: Nuôi tôm siêu thâm canh bằng hệ thống nuôi tôm tuần hoàn trong nhà; sản xuất giống hoa lan cao cấp bằng công nghệ invitro và kiểm soát môi trường tự động của Đài Loan; sản xuất rau, quả bằng công nghệ Israel tạo sản phẩm đạt tiêu chuẩn cung cấp trong hệ thống BigC, Vinmart, Lotte...

Việc hiện đại hoá ngành nông nghiệp Quảng Ninh, trong đó đặc biệt là ứng dụng KHCN vào sản xuất đang góp phần đưa ngành nông nghiệp phát triển đúng hướng và bước đầu đã đạt được hiệu quả tích cực. Đây sẽ là tiền đề để tỉnh nâng tỷ trọng, giá trị ngành kinh tế nông nghiệp, phát triển nền nông nghiệp hiện đại, bền vững và giàu có, góp phần thay đổi bộ mặt nông thôn trong thời gian tới.

Bài, ảnh:  Nguyễn Thanh Tùng

 

PHỔ BIẾN KIẾN THỨC

Ứng dụng Công nghệ sinh học trong ngành nông nghiệp Quảng Ninh

Công nghệ sinh học (CNSH) là gì và được ứng dụng trong ngành nông nghiệp Quảng Ninh thế nào. Bài viết sau đây sẽ giới thiệu một số văn bản liên quan đến CNSH và công tác ứng dụng CNSH trong sự phát triển của ngành nông nghiệp Quảng Ninh.

  1. Ứng dụng công nghệ sinh học trong ngành nông nghiệp Quảng Ninh

2.1. Lĩnh vực lâm nghiệp:

Từ năm 2010 đến nay, Trung tâm KH & SX Lâm nông nghiệp đã thực hiện một số nhiệm vụ khoa học công nghệ như:

 Nhiệm vụ cấp Bộ Nghiên cứu phát triển công nghệ nhân nhanh 3 giống bạch đàn nhập nội từ Trung Quốc (GLSE 9, GLGU 9, GLU 4) có năng suất cao, kháng bệnh tốt bằng kỹ thuật nuôi cấy mô tế bào thực vật. Kết quả, nhiệm vụ đã hoàn thiện các qui trình kỹ thuật nhân giống Invitro các dòng bạch đàn GLSE 9, GLGU 9, GLU 4; làm chủ các các công đoạn trong việc nhân giống như: Chế độ khử trùng và vào mẫu; mùa vụ vào mẫu; môi trường nhân nhanh; môi trường ra rễ; cách chăm sóc cây con ngoài vườn ươm. Đến nay, các giống bạch đàn trên đã được Tổng cục Lâm nghiệp công nhận để đưa vào sản xuất.

 Các nhiệm vụ khoa học công nghệ cấp tỉnh như: (1) Nghiên cứu nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô và sản xuất hoa cẩm chướng tại Quảng Ninh; (2) Thu thập, lưu giữ nguồn gen và ứng dụng công nghệ sinh học trong bảo tồn và phát triển một số loài lan quý ở Quảng Ninh; (3) Nghiên cứu phục tráng giống mía tím chất lượng cao tại miền Đông tỉnh Quảng Ninh; (4)  Hoàn thiện công nghệ nuôi trồng nấm Thượng Hoàng tại Quảng Ninh.

Qua việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN, Trung tâm KH & SX Lâm nông nghiệp đã có được đội ngũ cán bộ và công nhân kỹ thuật lành nghề trong sản xuất giống cây lâm nghiệp theo phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật. Cây giống tạo ra từ nuôi cấy mô giữ được các tính trạng quí từ cây mẹ và có giá bán cao hơn cây cùng loại tạo ra từ phương pháp gieo hạt. Cây giống nuôi cấy mô (bạch đàn, keo) đã trở thành sản phẩm truyền thống của Trung tâm được bán rộng khắp trong nước. Từ việc nghiên cứu về các loài lan bản địa, Trung tâm KH&SX Lâm nông nghiệp đã xây dựng các nhà màng để sản xuất lan hồ điệp với qui mô lớn. Bên cạnh đó, một số doanh nghiệp ở Quảng Ninh đã mạnh dạn đầu tư làm giống cũng như nuôi trồng lan như: Công ty Cổ phần Agritech; Công ty TNHH 1 TV Châu Thành ở Hoành Bồ. 

Nhà màng trồng lan hồ điệp ở  Công ty TNHH 1 TV Châu Thành (Phường Hoành Bồ, TP Hạ Long)

2.2. Lĩnh vực trồng trọt: Ứng dụng CNSH để sản xuất giống nấm và nuôi trồng nấm thương phẩm (trên địa bàn tỉnh hiện có một số cơ sở sản xuất nấm được Doanh nghiệp đầu tư như: Nấm Thịnh phát ở Hoành Bồ; nấm Long Hải ở Đông Triều). Ngoài ra, còn khá nhiều cơ sở sản xuất nấm ăn, nấm dược liệu (nấm linh chi) ở các địa phương khác trên địa bàn tỉnh. Một số loại phân vi sinh cũng được áp dụng phổ biến trong trồng trọt.

2.3. Lĩnh vực chăn nuôi: Ứng dụng CNSH trong các công việc như: Bảo quản tinh đông lạnh để lai tạo giống cho lợn, bò (cơ sở có truyền thống của tỉnh là Công ty cổ phần giống vật nuôi); Thiết kế, xây dựng hầm Biogas được nhiều cơ sở chăn nuôi (nhất là nuôi lợn) áp dụng đã giảm được ô nhiễm nguồn thải và khí tạo ra dùng làm chất đốt phục vụ sinh hoạt hộ gia đình; Nhiều cơ sở trong tỉnh sử dụng đệm lót sinh học (nhất là để nuôi gà) nhằm giảm mùi hôi từ chuồng trại; Cơ sở đã sử dụng các loại men vi sinh, men tiêu hóa để trộn thức ăn cho vật nuôi.

2.4. Lĩnh vực thủy sản:

Ứng dụng CNSH, nhiều cơ sở đã lưu giữ, nhân giống và nuôi tảo sinh khối làm thức ăn cho ấu trùng nhuyễn thể. Từ thành công này đã góp phần tạo ra lượng giống hầu Thái Bình Dương (hầu biển) và hầu cửa sông với số lượng lớn phục vụ người nuôi trên địa bàn tỉnh. Một số cơ sở nuôi hầu lớn như Công ty CP thủy sản Tân An (nuôi hầu cửa sông ở Quảng Yên); Công ty đầu tư phát triển sản xuất Hạ Long (BIM) nuôi hầu biển ở Vân Đồn;…

Công nghệ sinh học được ứng dụng nhiều trong nghề nuôi tôm thương phẩm như: Công nghệ Biofloc giúp giảm lượng thức ăn, cải thiện môi trường ao nuôi và nâng cao hiệu quả kinh tế; sử dụng các loại men vi sinh trộn thức ăn phòng bệnh tiêu hóa; các loại chế phẩm vi sinh cải thiện môi trường nước; các bộ kít trong chẩn đoán bệnh tôm;… Do đó, trong thời gian qua nhiều công ty, tập đoàn lớn đã đầu tư vào nghề tôm ở Quảng Ninh như: Tập đoàn Việt Úc,…

Một số loại thuốc tạo ra từ CNSH dùng trong thủy sản như:  thuốc chuyển đổi giới tính dùng trong sản xuất cá rô phi đơn tính; thuốc kích dục tố dùng cho cá đẻ nhân tạo được các cơ sở sản xuất giống thủy sản áp dụng.

2.5. Lĩnh vực chế biến: Ứng dụng công nghệ lên men trong sản xuất sữa chua ở Công ty sữa Đông Triều; sản xuất dưa cải muối ở Tiên Yên để sử dụng và tham gia các hội chợ OCOP do Tỉnh tổ chức…

Nhờ áp dụng CNSH mà nhiều nghề mới trong sản xuất nông lâm ngư nghiệp ở Quảng Ninh được tạo ra, giải quyết việc làm cho người dân nông thôn và thu hút thêm lao động từ tỉnh ngoài. Một số nghề mới hình thành từ việc nuôi hầu cửa sông, hầu biển như: nghề đóng mảng nuôi hầu; buộc dây hầu giống; bổ hầu lấy ruột; thu mua hầu;… Qua đó nâng cao đời sống cho rất nhiều hộ dân trong tỉnh./.

Bài, ảnh: Dương Văn Hiệp – Sở NN&PTNT Quảng Ninh

 

 6 kỹ thuật trồng rau thủy canh được ứng dụng phổ biến hiện nay

Hiện nay, có rất nhiều kỹ thuật trồng rau thủy canh hiện đại, thông dụng được ứng dụng trong thực tế. BBT Bản tin KH&PT đã sưu tầm, biên tập và giới thiệu tới bạn đọc 6 kỹ thuật tiêu biểu : Kỹ thuật màng mỏng dinh dưỡng, Kỹ thuật dòng sâu, kỹ thuật nổi, kỹ thuật mao dẫn, kỹ thuật túi treo, kỹ thuật rãnh,…

 

 

Nội dung chính:

 Kỹ thuật màng mỏng dinh dưỡng

Đây là một trong những kỹ thuật trồng rau thủy canh tiên tiến được ứng dụng phổ biến hiện nay. Hệ thống gồm các kênh dẫn được làm bằng vật liệu dẻo. Màng mỏng cho dinh dưỡng chảy qua các kênh dẫn này để cung cấp dưỡng chất đến cây. Hạt giống cùng với môi trường phát triển được đặt ở khoảng giữa của ống. Mép của hạt giống được kẹp vào màng mỏng để ngăn cản sự bốc hơi. Dung dịch thủy canh sẽ được chảy dọc theo chiều dài của kênh dẫn để cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng. Tốc độ dòng chảy khoảng 2 – 3 lít/phút.

Kỹ thuật dòng sâu

 Đây là kỹ thuật trồng được ứng dụng phổ biến hiện nay cho nhiều công trình rau sạch nhà phố. Hệ thống gồm các ống nhựa thủy canh chứa các rọ nhựa đựng giá thể nuôi trồng cây. Các ống nhựa được sắp xếp trên mặt phẳng ngang hoặc theo chiều đứng dạng zigzag.

           Dung dịch dinh dưỡng thủy canh được bơm đều qua các ống dẫn để cung cấp dưỡng chất nuôi cây. Phần dưới của rọ nhựa tiếp xúc với dung dịch dinh dưỡng chảy vào ống. Theo đó, rễ cây sẽ mọc xuyên qua các khe của rọ để hấp thu dinh dưỡng nuôi cây.

Kỹ thuật nổi

Thùng chứa có độ sâu khoảng 20 – 30 cm, mặt trong được lót tấm kính polyethylen màu đen. Dung dịch dinh dưỡng được chứa trong thùng. Rau trồng được nuôi trong những túi nhựa nhỏ gắn lên trên những tấm styrofoam, nổi trên dung dịch dinh dưỡng thủy canh đã được chứa đầy trong thùng. Dung dịch được sục khí liên tục, tăng lượng oxy, đảm bảo cung cấp nguồn dưỡng chất tốt nhất cho rau trồng.

Kỹ thuật túi treo

Túi làm bằng nhựa polyethylen mỏng, chiều dài túi khoảng 1 m, dạng hình trụ, đã được xử lý qua tia UV. Túi có cấu tạo phần trên gồm móc sắt để treo vào giàn, đồng thời tiếp xúc với ống dẫn dinh dưỡng. Các giá thể trồng rau sẽ được đổ vào túi để tạo môi trường nền nuôi trồng rau. Dinh dưỡng sẽ thấm qua giá thể bằng kỹ thuật mao dẫn để nuôi cây trồng. Bên cạnh đó, phía đáy của túi còn được thiết kế máng hứng dịch dinh dưỡng chảy ra từ túi nhựa, rất sạch sẽ, tiện dụng.

Kỹ thuật rãnh

Với kỹ thuật này, rau trồng sẽ được trồng trong các khe chứa giá thể, có độ sâu khoảng 20-30 cm. Ở giữa các khe chứa giá thể là một khe nhỏ cho đường ống cung cấp dung dịch dinh dưỡng. Các ống dẫn này sẽ dẫn dinh dưỡng cung cấp cho rau trồng, bổ sung dưỡng chất giúp rau phát triển xanh tốt, năng suất.

Kỹ thuật mao dẫn

Hệ thống thủy canh này gồm rọ nhựa hoặc chậu trồng được đục các lỗ nhỏ, bồn chứa, hệ thống sục khí, tấm chắn bằng xốp,… Rọ trồng chứa giá thể sẽ được đặt trong thùng chứa dung dịch dinh dưỡng, được cố định bằng các tấm chắn làm bằng xốp. Chỉ phần rễ cây tiếp xúc với dung dịch thủy canh trong bồn chứa. Rễ hút dinh dưỡng, ngấm vào giá thể bằng kỹ thuật mao dẫn, cung cấp dưỡng chất cần thiết cho cây rau sinh trưởng, phát triển.

Trên đây là một số kỹ thuật trồng rau thủy canh được ứng dụng phổ biến hiện nay. Bạn có thể tham khảo để thiết kế, xây dựng hệ thống vườn rau sạch cho gia đình. Áp dụng công nghệ trồng rau thủy canh không những thân thiện với môi trường, dễ gieo trồng, chăm sóc, tiết kiệm diện tích mà còn mang đến nguồn rau sạch, an toàn cho sức khỏe người dùng. Vì thế, công nghệ trồng rau tiên tiến này đang ngày càng được ưa chuộng và ứng dụng phổ biến, nhất là tại các khu vực thành thị.

BBT sưu tầm

Cách xử lý khi bị điện giật

 Điện giật là một trong các tai nạn phổ biến trong quá trình sinh hoạt và sử dụng nguồn năng lượng điện. Tùy thuộc vào dòng điện đi qua cơ thể mạnh hay yếu mà gây ra những hậu quả khác nhau. BBT Bản tin KH&PT sưu tầm, biên tập cách xử lý khi bị điện giật để bạn đọc tham khảo để có thể giảm thiểu được những nguy hại cho bản thân và những người xung quanh.

  Nguyên nhân gây ra các vụ tai nạn điện giật

Hầu hết nguyên nhân đều xuất phát từ sự mất cảnh giác, không chú ý của người dùng. Những lỗi khá cơ bản nhưng đôi khi ta lại vô tình quên mất và dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng. Để biết được cách xử lý, đầu tiên ta cần tìm hiểu rõ nguyên nhân gây nên tai nạn điện giật và có cách xử lý kịp thời khi gặp phải các tình huống này.

  • Dây điện bị mòn theo thời gian, dây dẫn bị bong tróc lớp vỏ cách điện, đứt nối.
  • Phích cắm, ổ điện tiếp xúc với nước, nơi có độ ẩm mốc cao, đặc biệt là vào mùa mưa. (Tìm hiểu thêm:Cách phòng tránh bị điện giật vào mùa mưa).
  • Các vi mạch trong các thiết bị điện bị dứt do va chạm mạnh, vỏ bọc bên ngoài của máy móc, trang thiết bị không có tính năng cách điện.
  • Hệ thống điện trong nhà không lắp cầu dao tổng.


 Cách xử lý khi bị điện giật như thế nào?

Nhiễm điện gây cảm giác tê khi chạm vào các thiết bị bị nhiễm điện, một ít dòng điện sẽ được truyền vào cơ thể bạn, đây là mức độ nhẹ nhất, độ nguy hiểm không cao. Thường khi gặp trường hợp này, theo phản ứng tự nhiên người ta sẽ tự động cách ly khỏi tác nhân gây ra và sau một thời gian ngắn, dòng điện này bị triệt tiêu, không ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe của bạn. Trường hợp nặng hơn là có hiện tượng ngất xỉu. Khi dòng điện qua lớn bất chợt đi vào trong cơ thể, cơ thể sẽ không thể thích ứng được gây ra việc ngất xỉu. Do đó cần phải được khắc phục nhanh chóng để tránh ảnh hưởng đến nhiều cơ quan khác bên trong cơ thể. 

Khi bị tác động bởi dòng điện có cường độ khá lớn từ bên ngoài, các chức năng hoạt động của cơ thể dễ bị đảo lộn và gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ tim mạch, cơ quan thần kinh,…. Đối với trường hợp người khác bị điện giật, chúng ta cần xử lý theo một số bước cơ bản sau: 

  • Đầu tiên, chúng ta cần phải quan sát thật nhanh những thứ có xung quanh, sử dụng các dụng cụ cách điện có sẵn ở đó để cách ly nạn nhân ra khỏi nguồn điện (dây dẫn) càng sớm càng tốt.
  • Bước tiếp theo, chúng ta thực hiện sơ cứu đơn giản bằng cách ấn lồng ngực hay hô hấp nhân tạo. Sau đó nhanh chóng mang nạn nhân đến cơ quan y tế gần nhất để được hỗ trợ thêm.

Ngoài trường hợp bị điện giật, trong cuộc sống còn bắt gặp các tai nạn khác mà nguyên nhân do điện gây ra: bỏng điện, cháy nổ,…nên hãy cẩn thận khi sử dụng điện. Chúng ta không thể lường trước được các tai nạn về điện. Vì vậy chúng ta cần phải nắm được các kiến thức cơ bản như: sửa chữa hệ thống điện hư hỏng, sơ cứu trẻ khi bị điện giật, hô hấp nhân tạo,... để có cách phòng tránh và xử lý hiệu quả khi gặp các tình huống bất ngờ xảy ra. Đó cũng là một kỹ năng sống mà bạn có thể ứng dụng để tự cứu bản thân mình và những người xung quanh.

                                                                                             BBT sưu tầm

 TIN HOẠT ĐỘNG

Thành phố Cẩm Phả dành nguồn lực cho  KH&CN

Thực hiện Nghị quyết 07 của BCH Đảng bộ tỉnh về phát triển KH&CN, hàng năm các địa phương đều bố trí ngân sách để chi cho các hoạt động ứng dụng, chuyển giao, đổi mới công nghệ phục vụ phát triển KT-XH. Một trong những giải pháp quan trọng để thúc đẩy sự phát triển của KH&CN tại cơ sở chính là nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền, cộng đồng người dân và doanh nghiệp. Thành phố Cẩm Phả là một trong những địa phương điển hình thực hiện tốt điều này.

Những năm qua, thành phố Cẩm Phả đã ban hành nhiều kế hoạch, chương trình hành động về phát triển KH&CN. Cẩm Phả đã ưu tiên nguồn lực đầu tư vào các lĩnh vực như: Dịch vụ du lịch, dịch vụ thương mại, công nghệ sinh học, mô hình phát triển kinh tế...;thực hiện chính sách thu hút cán bộ khoa học trẻ vào làm việc tại các cơ quan, đơn vị. Cẩm Phả đã tích cực, ứng dụng mạnh mẽ KH&CN vào sản xuất, kinh doanh hiệu quả, tạo nguồn thu lớn. Cụ thể, trong các lĩnh vực: Y tế, Giáo dục, hành chính, nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là trong lĩnh vực: Than, Điện, Xi măng. Hàng năm, thành phố đều bố trí kinh phí dành cho khoa học và công nghệ (xây dựng nhãn hiệu Nước khoáng Quang Hanh, cải tiến hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2015, đầu tư thực hiện Đề án thành phố thông minh, Chính quyền điện tử, …); phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ triển khai các hoạt động về an toàn bức xạ, sở hữu công nghiệp, tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng, ISO hành chính….

Là thành phố công nghiệp, hiện đại, thời gian tới, Cẩm Phả sẽ có những giải pháp mạnh mẽ để thúc đẩy KH&CN tại cơ sở; trong đó, quan tâm bố trí nguồn lực thích đáng cũng như có cơ chế, chính sách khuyến khích tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp đầu tư cho KH&CN; quan tâm thực hiện tốt việc xây dựng định hướng hoạt động KH&CN; bổ xung báo cáo kết quả ứng dụng Khoa học công nghệ của các doanh nghiệp trên địa bàn để Sở có kết quả đánh giá toàn diện về việc thực hiện Nghị quyết 07/NQ-TU của Tỉnh ủy về phát triển KH&CN và triển khai hoạt động KH&CN năm 2020 của thành phố;…

Hương Anh

Huyện Tiên Yên tích cực thực hiện Nghị quyết 07-NQ/TU

Trong những năm qua, huyện Tiên Yên là một trong những địa phương trong tỉnh thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ của Nghị quyết số 07-NQ/TU ngày 13/3/2017.

UBND huyện đã chủ động trong công tác tham mưu, chỉ đạo:  thành lập Ban chỉ đạo phát triển KH&CN;  ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 07-NQ/TU; Thành lập và thường xuyên kiện toàn Hội đồng KH&CN; Xây dựng kế hoạch hoạt động khoa học và công nghệ hàng năm và dành kinh phí địa phương để thực hiện. Phối hợp tích cực với Sở Khoa học và Công nghệ và các cơ quan nghiên cứu ở Trung ương trong việc tìm kiếm, lựa chọn công nghệ phù hợp để ứng dụng phát triển sản xuất trên địa bàn.

Kết quả triển khai Nghị quyết 07-NQ/TU đã tạo sự chuyển biến tích cực, đặc biệt trong việc định hướng phát triển các sản phẩm có thế mạnh của huyện (2 con 1 cây); huy động sự tham gia của các doanh nghiệp đối với việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ mới, công nghệ hiện đại trong sản xuất (công nghệ thụ tinh nhân tạo trong phát triển giống gà Tiên Yên; công nghệ nuôi tôm thẻ chân trắng siêu thâm canh 2 giai đoạn theo công nghệ Biofloc; công nghệ bảo bảo quản gà Tiên Yên); thu hút tốt sự tham gia phối hợp của các Viện nghiên cứu, Trường đại học trong quá trình triển khai lựa chọn, áp dụng công nghệ phục vụ nhu cầu sản xuất.

Tiếp tục phát huy những kết quả đạt được, huyện Tiên Yên đang tập trung triển khai các hoạt động KH&CN trên địa bàn, cụ thể : tiếp tục tập trung các giải pháp tuyên truyền nâng cao nhận thức về hoạt động KHCN cho cán bộ, đảng viên và nhân dân; chỉ đạo việc thực hiện Nghị quyết 07-NQ/TU và chuẩn bị công tác tổng kết Nghị quyết; Rà soát, rút ngắn thời gian xác định nhiệm vụ KH&CN cấp cơ sở; Nghiên cứu xây dựng Chương trình khung các động khoa học và công nghệ của huyện giai đoạn 2020 – 2025;  Phối hợp hướng dẫn, hỗ trợ Công ty cổ phần phát triển chăn nuôi và nông lâm ngư nghiệp Phúc Long thành lập doanh nghiệp KH&CN; Tạo điều kiện hỗ trợ doanh nghiệp tham gia khởi nghiệp đổi mới sáng tạo theo Kế hoạch số 56/KH-UBND; Hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp cận các chính sách khuyến khích phát triển KH&CN; Quan tâm thu hút doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp. Cùng với đó là thực hiện tốt việc Quản lý nhãn hiệu các sản phẩm; Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng; tuyên truyền về hoạt động khoa học và công nghệ.

Hương Anh

Trung tâm Ứng dụng và Thống kê KH&CN


Tìm kiếm theo chuyên mục - nội dung - ngày tháng

Tin Nóng
Tin tiêu điểm

Lịch công tác trống

Website liên kết
Thống kê truy cập
Hôm nay: 212
Đã truy cập: 870171