BẢN TIN KHOA HỌC VÀ PHÁT TRIỂN SỐ 02 NĂM 2020

30/06/2020 08:16

BẢN TIN KHOA HỌC VÀ PHÁT TRIỂN SỐ 02 NĂM 2020

Trong số này:

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG.. 2

Sở KH&CN: Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức, viên chức. 2

Nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh  5

Bảo vệ các nguồn gen động, thực vật quý. 8

HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ.. 10

Ứng dụng KHCN bảo vệ môi trường: Yếu tố tiên quyết cho một tương lai xanh  10

Quảng Ninh với bước tiến về ứng dụng CNTT trong dạy và học. 12

Nghiên cứu thử nghiệm một số dòng na mới tại thị xã Đông Triều, tỉnh. 14

Bảo tồn nguồn gen Tu hài Lutraria rhynchaena trên địa bàn Quảng Ninh. 17

Bộ máy khoan rút lõi bê tông: Sáng kiến hữu ích của một nông dân. 20

PHỔ BIẾN KIẾN THỨC.. 23

Đu đủ, cây cho nhiều vị thuốc. 23

Cách xử trí khi dính độc kiến ba khoang. 25

TIN HOẠT ĐỘNG.. 28

Hợp tác ứng dụng chuyển giao công nghệ với Tập đoàn Mỹ Lan. 28

Sở KH&CN được nhận bằng khen của UBND tỉnh về 10 năm công tác cải cách hành chính giai đoạn 2011-2020. 28

Sở KH&CN: Rà soát giải quyết kiến nghị của doanh nghiệp. 29

 

 

 


NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

Sở KH&CN: Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức, viên chức

 

          Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tác phẩm nổi tiếng “Sửa đổi lối làm việc” đã chỉ rõ: “Cán bộ là gốc của mọi công việc” bởi công tác cán bộ là công việc gốc của Đảng, phải biết cách lựa chọn, sử dụng và không ngừng bồi dưỡng cán bộ để cái vốn quý đó ngày càng to lớn lên theo yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng. 

           Thực hiện lời dạy của Người và thực hiện chủ đề năm 2020 của tỉnh về “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và đảm bảo tăng trưởng kinh tế bền vững”, ngay từ đầu tháng 1/2020, Đảng ủy cơ quan Sở KH&CN đã tổ chức Hội nghị quán triệt, tuyên truyền, thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TU ngày 02/12/2019 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh “về phương hướng, nhiệm vụ năm 2020”. Cụ thể hóa việc thực hiện Nghị quyết của Tỉnh ủy, Đảng bộ Sở KH&CN tập trung vào thực hiện quyết liệt 6 vấn đề trọng tâm trong năm 2020, trong đó chú trọng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thành công Đại hội các Chi bộ và Đại hội Đảng bộ Sở KH&CN; rà soát sắp xếp, cơ cấu đội ngũ cán bộ theo hướng tinh giản, hiệu lực, hiệu quả, nâng cao chất lượng cán bộ; tổ chức thi tuyển các vị trí chủ chốt phòng, đơn vị.

          Ngay từ đầu tháng 01/2020, Đảng bộ cơ quan Sở KH&CN đã ráo riết chỉ đạo các chi bộ trực thuộc Đảng bộ tổ chức Đại hội chi bộ theo đúng chỉ đạo của Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh. Công tác tuyên truyền được quan tâm đẩy mạnh thông qua các cuộc họp chi bộ để các đảng viên nhận thức đầy đủ, sâu sắc ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng của đại hội để chuẩn bị thật tốt và tổ chức thành công đại hội các chi bộ. Công tác chuẩn bị chu đáo, bài bản từ chuẩn bị phương án nhân sự, đến chuẩn bị các điều kiện phục vụ đại hội, xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể, khoa học, phân công trách nhiệm rõ ràng và thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện. Thông qua công tác chuẩn bị và tổ chức đại hội để tập hợp, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng bộ; củng cố, tăng cường sự đoàn kết, thống nhất, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của đảng bộ. Mỗi cấp ủy và đảng viên đã xác định đại hội chi bộ, Đảng bộ là dịp để chỉnh đốn đội ngũ, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, nâng cao bản lĩnh, trí tuệ, tinh thần dân chủ, sáng tạo và trách nhiệm để tham gia có hiệu quả nhất vào các quyết định của đại hội. Gắn từng nội dung của công tác chuẩn bị đại hội với đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, phát huy tính tích cực, chủ động và vai trò tiền phong, gương mẫu của đảng viên.

          Với sự chỉ đạo quyết liệt, sát sao của Đảng bộ Sở, các chi bộ trực thuộc Sở đã tổ chức Đại hội chi bộ thành công tốt đẹp. Tiếp đến, ngày 08-5/2020, Đại hội Đảng bộ cơ quan Sở KH&CN nhiệm kỳ 2020-2025 được long trọng tổ chức, thể hiện sự đoàn kết, nhất trí và tập trung cao, bầu Ban chấp hành khóa mới gồm các đồng chí có đủ phẩm chất và năng lực để lãnh đạo, quyết tâm xây dựng Đảng bộ luôn là Đảng bộ trong sạch, vững mạnh toàn diện. Đồng chí Giám đốc Sở được tái cử bầu làm Bí thư Đảng bộ nhiệm kỳ 2020-2025 với số phiếu tín nhiệm 100%.

          Là đảng viên “lớp 90 năm”, đồng chí Vũ Phương Nam, Chi bộ Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng (Đảng bộ Cơ quan Sở KH&CN), cho biết: “Là một kế toán của một đơn vị sự nghiệp tự chủ 100% chi thường xuyên, tôi luôn thấm nhuần tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh về các đức tính: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, đặc biệt là đức tính “kiệm”. Bởi tư tưởng, quan điểm của Bác là: “Làm ra nhiều, chỉ dùng ít. Không cần thì không chi dùng. Đó là tất cả chính sách kinh tế, tài chính của ta”. Do đó, tôi xây dựng kế hoạch thực hành, tiết kiệm, chống lãng phí trong nghiệp vụ chuyên môn để giúp đơn vị sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính”.

          Xác định “Cán bộ là gốc của công việc”, sau môt thời gian rà soát sắp xếp, ngày 24/02/2020 Sở KH&CN tổ chức công bố các Quyết định về công tác cán bộ theo đúng căn cứ Quy định về công tác luân chuyển cán bộ, chỉ đạo của Ban cán sự Đảng UBND tỉnh và yêu cầu công tác chuyên môn. Theo đó, 07 đồng chí được điều động và bổ nhiệm trong dịp này, gồm 5 vị trí Lãnh đạo phòng và 02 công chức nghiệp vụ chuyên môn. Công tác điều động, bổ nhiệm được thực hiện công khai, minh bạch, đúng quy định, phù hợp với năng lực cán bộ.

 

 

 

Tổ chức thi tuyển chức danh Chi cục trưởng Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng (đầu tháng 3/20200. Sở thực hiện các bước công khai, minh bạch, đúng quy định, để chọn được đối tượng phù hợp với năng lực cán bộ cần bổ nhiệm. Cụ thể: thông báo công khai thông tin việc thi tuyển; tiếp nhận hồ sơ đăng ký dự thi, thẩm định hồ sơ dự thi tuyển và thông báo đến các đối tượng; ….  Sở KH&CN đã chốt danh sách phê duyệt hồ sơ 04 thí sinh tham gia dự thi tuyển theo đúng các tiêu chuẩn, điều kiện. Ngày 29/4 Sở KH&CN đã công bố Quyết định thành lập Hội đồng thi tuyển và các Ban của Hội đồng thi tuyển, tiến hành thi sát hạch với 2 phần thi:  ngoại ngữ và kiến thức chung. Cả 4 thí sinh tham dự thi tuyển đều đạt kết quả và được tham dự vòng thi trình bày đề án vào ngày 23-5/2020. Đến nay, đã kiện toàn chức danh Chi cục trưởng Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng.

          Đồng chí Hoàng Bá Nam - Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Sở KH&CN cho biết: Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hoạt động KH&CN của tỉnh luôn bám sát định hướng chỉ đạo của Đảng, nhà nước, tỉnh Quảng Ninh và đang làm theo lời Bác. Tổ chức tham mưu thực hiện các hoạt động KH&CN, trong đó có nâng cao chất lượng hệ thống tổ chức nguồn nhân lực để thực hiện các nhiệm vụ KH&CN. Từ cán bộ phải được đào tạo, được bổ sung kiến thức để nâng cao trình độ quản lý; nhà khoa học, nhà nghiên cứu đưa thực tiễn các nhiệm vụ gắn vào đời sống của người nông dân; xác định rõ trách nhiệm của 4 nhà: Nhà nước với vai trò Quản lý nhà nước, nhà khoa học với vai trò nghiên cứu, nhà doanh nghiệp với vai trò thực hiện các nhiệm vụ chuyển giao, nhà nông dân cùng phối hợp thực hiện các kết quả nghiên cứu khoa học; Quảng Ninh đang tập trung chuyển giao công nghệ , tập trung tham mưu tăng cường vai trò quản lý nhà nước về KH&CN;… cán bộ, CCVC Sở KH&CN đã và đang đồng tâm, đồng sức, đồng lòng, nêu cao tinh thần, trách nhiệm, thật sự giúp doanh nghiệp, người dân nâng cao năng suất lao động, thể hiện đúng vai trò quan trọng của KH&CN phục vụ sản xuất và đời sống con người.

Bài, ảnh:  Hương Anh                                                        

 

Nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh

 Quảng Ninh có vị trí chiến lược về chính trị, kinh tế, quốc phòng an ninh và đối ngoại với gần 70% diện tích là rừng và đất quy hoạch lâm nghiệp (422.937 ha). Việc quản lý và khai thác bền vững tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp không chỉ đóng góp những giá trị về kinh tế - xã hội mà còn có vai trò quan trọng trong bảo vệ môi trường sinh thái, tạo nguồn sinh thủy, nâng cao chất lượng nước và ứng phó với biến đổi khí hậu; phát triển du lịch, dịch vụ, bảo vệ quốc phòng an ninh của Tỉnh. Trong những năm qua, tỉnh Quảng Ninh luôn chú trọng công tác lãnh đạo, chỉ đạo quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, độ che phủ rừng đạt 54,75% (năm 2019), chất lượng rừng có bước cải thiện, trong đó lựa chọn nghiên cứu, chuyển giao khoa học công nghệ làm khâu đột phá nhằm nâng cao giá trị rừng, sử dụng hiệu quả tài nguyên rừng. Các nghiên cứu, ứng dụng được tập trung trong các lĩnh vực: Phát triển sản xuất giống cây lâm nghiệp; Bảo tồn, phát triển nguồn gen các loài cây quý hiếm, có giá trị kinh tế, giá trị dược liệu; Phát triển chế biến một số sản phẩm lâm sản (gỗ và lâm sản ngoài gỗ); Xây dựng thương hiệu các sản phẩm lâm sản.

Về nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật phát triển sản xuất giống cây lâm nghiệp: Xác định giống là nhân tố đầu tiên quyết định năng suất và chất lượng cây trồng, tỉnh Quảng Ninh đã quan tâm triển khai các nhiệm khoa học và công nghệ liên quan đến nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật phát triển sản xuất giống cây lâm nghiệp[1]. Thông qua kết quả thực hiện các nhiệm vụ đã từng bước nâng cao năng lực sản xuất giống bằng công nghệ nuôi cấy mô tế bào các loài cây trồng rừng chính có năng suất, chất lượng cao nhằm phục vụ trồng rừng kinh tế, rừng gỗ lớn, lâm sản ngoài gỗ. Hiện nay, tỉnh Quảng Ninh có 04 cơ sở nuôi cấy mô tế bào áp dụng công nghệ hiện đại đạt công suất gần 20 triệu cây giống/năm (Công ty cổ phần phát triển Agri - tech; Trung tâm Khoa học và Sản xuất nông lâm nghiệp Quảng Ninh; Công ty TNHH MTV Thương mại Dịch vụ Khoa học Thái Dượng; Trường Cao đẳng Nông lâm Đông Bắc); thu hút được trên 30 cán bộ chuyên môn trong lĩnh vực công nghệ sinh học tham gia; công nhận hệ thống cây trội phục vụ nhu cầu sản xuất giống (Thông nhựa; Sở; Hồi); phát triển một số giống được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận giống tiến bộ kỹ thuật (giống bạch đàn GLGU9, GLSE9, GLU4).

Về nghiên cứu bảo tồn, phát triển nguồn gen các loài cây rừng quý hiếm, có giá trị kinh tế, giá trị dược liệu: Bên cạnh việc phát triển sản xuất giống cây lâm nghiệp, tỉnh Quảng Ninh đã dành nguồn lực thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ về nghiên cứu bảo tồn, phát triển nguồn gen các loài cây quý hiếm, có giá trị kinh tế, giá trị dược liệu[2]. Trong đó tập trung bảo tồn tại chỗ các loài cây gỗ có giá trị  (loài cây Lim xanh, cây Kim giao núi đá tại Vườn quốc gia Báo Tử Long;  cây Dẻ tùng sọc trắng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Ký Thượng; quần thể cây Tùng cổ tại Khu Di tích và Rừng quốc gia Yên Tử); đẩy mạnh ứng công nghệ tiên tiến trong khai thác và phát triển một số nguồn gen cây lâm nghiệp trở thành sản phẩm thương mại như: công nghệ điều khiển thời gian nở hoa Mai vàng Yên Tử; công nghệ sản xuất sản phẩm bổ dưỡng sức khỏe từ lan Kim tuyến, lan Thạch hộc tía, Ba kích tím, Trà hoa vàng; công nghệ sản xuất nhựa Thông đạt tiêu chuẩn xuất khẩu. Một số sản phẩm đã trở thành sản phẩm OCOP chủ lực của tỉnh Quảng Ninh (Trà hoa vàng Ba Chẽ; Ba Kích tím Quảng Ninh; Dầu Sở Bình Liêu…); điều tra thu thập mẫu thực vật, côn trùng phục vụ lưu giữ, trưng bày, nghiên cứu khoa học.

Về nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ phát triển một số sản phẩm lâm sản: Ứng dụng công nghệ trong chế biến sản phẩm lâm sản gắn với phát triển vùng sản xuất hàng hóa tập trung hướng tới xuất khẩu là một trong nhũng lĩnh vực được tỉnh Quảng Ninh quan tâm chỉ đạo và có chính sách ưu tiên phát triển. Để khai thác tiềm năng, lợi thế về vùng nguyên liệu, tỉnh Quảng Ninh đã tập trung hỗ trợ các doanh nghiệp ứng dụng, đổi mới công nghệ giải quyết những điểm nghẽn trong chuỗi sản xuất: ứng dụng công nghệ tiên tiến trong chọn lọc, nâng cao chất lượng giống một số loài cây (Thông, Bạch đàn, Keo Sở); công nghệ trồng rừng thâm canh gỗ lớn và chuyển hóa rừng cung cấp gỗ nhỏ sang gỗ lớn; công nghệ sản xuất gỗ ghép thanh tự động phục vụ xuất khẩu; công nghệ sản xuất nhựa thông; công nghệ sản xuất viên nén gỗ; công nghệ sản xuất một số sản phẩm lâm sản ngoài gỗ (Giảo cổ lam; Trà hoa vàng; nấm Linh chi,…) đạt tiêu chuẩn GMP. Kết quả ứng dụng, đổi mới công nghệ đã giúp các doanh nghiệp nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm đáp ứng các tiêu chuẩn xuất khẩu sang các thị trường có yêu cầu khắt khe như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đức, …

Về xây dựng thương hiệu các sản phẩm lâm sản: Cùng với chính sách hỗ trợ ứng dụng, đổi mới công nghệ sản xuất, tỉnh Quảng Ninh đã ban hành chích sách và triển khai hỗ trợ xây dựng nhãn hiệu sản phẩm lâm sản gắn với địa danh của Tỉnh. Trong gian đoạn 2012-2019, đã có nhiều nhãn hiệu sản phẩm lâm sản được xây dựng đăng ký bảo hộ sở hữu công nghiệp tại Cục Sở hữu trí tuệ - Bộ Khoa học và Công nghệ như: Nhựa thông Quảng Ninh; Rượu Ba kích tím Quảng Ninh; Nấm lim Ba Chẽ, Măng mai Ba Chẽ, Mật ong Ba Chẽ, Sâm cau Ba Chẽ; Ba kích Ba Chẽ và Trà hoa vàng Ba Chẽ; Dầu Sở Bình Liêu…,  qua đó nhiều sản phẩm lâm sản của Quảng Ninh đã được phân phối ở nhiều tỉnh trong cả nước, một số sản phẩm đã mở rộng sang thị trường xuất khẩu.

Bên cạnh kêt quả đã nêu trên, thực tiễn triển khai các nhiệm vụ khoa học và công nghệ trong lĩnh vực lâm nghiệp ở Quảng Ninh còn gặp một số khó khăn, hạn chế: Hệ thống cơ chế chính sách, chính sách của tỉnh chưa tạo được đột phá trong phát triển sản xuất lâm nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực trồng rừng gỗ lớn gắn với chế biến sâu, phát triển lâm sản ngoài gỗ; Còn nhiều điểm nghẽn trong nghiên cứu về lâm nghiệp cho phát triển rừng chưa được giải quyết như: phân vùng lập địa phù hợp với điều kiện của loài cây trồng; xác định tập đoàn cây trồng đặc biệt cây bản địa cho từng vùng sinh thái; cải thiện giống và kỹ thuật trồng rừng thâm canh để tăng năng suất; kỹ thuật cơ giới hóa trong khai thác; Công nghệ chế biến biến một số loài lâm sản ngoài gỗ thế mạnh như Thông nhựa, Trà hoa vàng, Ba kích, Quế, Sở, Hồi chủ yếu là chế biến thô. Nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ nghiên cứu khoa học trên địa bàn toàn tỉnh còn thiếu, cơ sở vật chất phục vụ nghiên cứu khoa học chưa được chú trọng đầu tư theo hướng hiện đại, phù hợp với hiện trạng để có kết quả đảm bảo cơ sở khoa học và thực tiễn.

Định hướng hoạt động nghiên cứu, chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực lâm nghiệp của Quảng Ninh đến năm 2030, tập trung vào các nhiệm vụ giải pháp chủ yếu: Hoàn thiện chính sách hỗ trợ bảo tồn và phát triển các loài cây rừng bản địa đặc hữu, cây dược liệu có giá trị kinh tế cao; Điều tra, khảo sát, xác định cơ cấu loài cây trồng rừng phù hợp với các vùng sinh thái; nghiên cứu phát triển rừng theo hướng cải tạo giống cây rừng và các biện pháp lâm sinh để nâng cao năng suất, chất lượng rừng; bảo vệ môi trường, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học; Ứng dụng, chuyển giao công nghệ cao trong xây dựng vườn ươm nhằm đáp ứng nhu cầu giống phục vụ trồng rừng thâm canh; Nghiên cứu chuyển đổi giống cây trồng phục vụ chương trình phát triển rừng gỗ lớn, cây dược liệu giá trị kinh tế cao; chuyển giao kỹ thuật cơ giới hóa trong trồng, khai thác lâm sản; Xây dựng và phát triển thương hiệu gỗ và lâm sản ngoài gỗ; đổi mới công nghệ chế biến sâu, nâng cao chất lượng sản phẩm lâm sản; Đẩy mạnh triển khai ứng dụng công nghệ thông minh trong phòng cháy chữa cháy rừng; theo dõi giám sát tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp; Tăng cường hợp tác với các Viện nghiên cứu, Trường đại học, nhà khoa học trong việc hỗ trợ nghiến cứu, chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển lâm nghiệp bền vững.

Bài, ảnh: Lâm Văn Phong

 

Bảo vệ các nguồn gen động, thực vật quý

Trước thực trạng nhiều loài động, thực vật có giá trị kinh tế cao đang dần bị mai một, có nguy cơ biến mất, tỉnh Quảng Ninh đã và đang có những giải pháp quyết liệt, mang tính bền vững hơn để giữ gìn các “tài nguyên” quý này.

Sở KH&CN đang xây dựng Đề án bảo tồn nguồn gen cấp tỉnh giai đoạn 2021-2025. Theo rà soát, đề xuất của Sở, trong giai đoạn này dự kiến sẽ đưa 19 đối tượng vào nhiệm vụ bảo tồn nguồn gen cấp tỉnh, gồm; cây đằng sâm, cây hoằng đằng, cây nam hoàng liên, loài bình vôi, cây cẩu tích, cây cốt toái bổ, cây hoàng tinh hoa trắng, cây re hương, cây trai lý, cây gù hương, cây gụ lau, cây thông tre lá ngắn, cây tùng La Hán, giống lúa chiêm đá, gà Tiên Yên, lợn Móng Cái, lợn hương, rươi nước lợ Đông Triều và cây nấm chẹo.

Cây dược liệu ba kích tím được bảo tồn nguồn gen, xây dựng mô hình trồng chuyên canh. Trong ảnh: Mô hình trồng ba kích tím của hộ ông Mông Văn Thàm (huyện Ba Chẽ).

 

Gà Bang Trới là giống gà gắn liền với 2 địa danh làng Bang và làng Trới của huyện Hoành Bồ trước đây (các địa danh này nay thuộc TP Hạ Long). Giống gà này dễ nuôi, thích nghi cao với điều kiện thời tiết của địa phương, ít dịch bệnh, cho thịt, trứng thơm, ngon, được nhiều người yêu thích. Tuy nhiên, do phương thức nuôi quảng canh, chăn thả tự nhiên, không chú ý chọn lọc giữ gìn nguồn gen gốc của người dân, nên giống gà này đã bị thoái hoá, năng suất thấp. Nhận thấy rằng, đây là giống gà quý, cần được bảo tồn, lưu giữ nguồn gen để nhân rộng, năm 2015, Trường Cao đẳng Nông Lâm Đông Bắc (Bộ NN&PTNT) đã chủ trì thực hiện nhiệm vụ “Nhân thuần, lưu giữ bảo tồn giống gà Bang Trới”.

Thực hiện nhiệm vụ này, nhóm nghiên cứu đã tuyển chọn được 100 con gà mang đặc điểm của gà Bang Trới (80 con gà mái, 20 con gà trống), nhân thuần đàn gà qua 4 thế hệ; đánh giá chi tiết nguồn gen; bàn giao 2.000 con giống gà Bang Trới cho 2 doanh nghiệp và 4 hộ dân để duy trì và phát triển nguồn gen. 

 

Đây chỉ là một trong 8 giống, loài động, thực vật quý hiếm mà tỉnh Quảng Ninh đã thực hiện bảo tồn theo đề án khung bảo tồn nguồn gen cấp tỉnh giai đoạn 2015-2020. Trong giai đoạn này, tỉnh cũng đã triển khai bảo vệ thành công nguồn gen quý của một số loài khác, như cây ba kích tím, ngán, sá sùng, cá tráp vây vàng, tu hài, ốc đĩa… Việc tổ chức tốt công tác bảo tồn các loài sinh vật đặc hữu này để khai thác phục vụ nghiên cứu khoa học, sản xuất, đời sống… sẽ tạo thêm nhiều cơ hội để phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Trong bối cảnh bùng nổ dân số và sự thay đổi của môi trường, biến đổi khí hậu, vấn đề bảo tồn càng mang tính cấp thiết, cần triển khai có hiệu quả để không mất đi nguồn gen quý báu mang tính đặc trưng. Vì vậy việc quy hoạch để bảo tồn, khai thác nguồn gen bền vững mang tính cấp thiết, có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường, duy trì hệ sinh thái.

Theo rà soát, đánh giá của Sở KH&CN, hiện Quảng Ninh có gần 250 nguồn gen nguy cấp, quý hiếm cần được bảo tồn; trong đó, có nhiều loài có giá trị kinh tế cao, như: Gà Tiên Yên, lợn Móng Cái, rươi nước lợ Đông Triều… Xác định bảo tồn nguồn gen các loài đặc hữu trên là nhiệm vụ cấp bách, Sở KH&CN đang tiến hành xây dựng khung Đề án bảo tồn nguồn gen cấp tỉnh cho giai đoạn tiếp theo 2021-2025. Theo đó, thông qua việc xác định giá trị khoa học, giá trị sử dụng và tình trạng suy giảm nguồn lợi, Đề án sẽ đánh giá cụ thể hiện trạng nguồn gen, từ đó xây dựng lộ trình, giải pháp để bảo tồn.

Theo ông Lâm Văn Phong, Phó trưởng Phòng Quản lý khoa học (Sở KH&CN): Đề án được kỳ vọng sẽ giải quyết các điểm nghẽn trong bảo tồn gen, như xây dựng cơ chế hỗ trợ bảo tồn, phát triển nguồn gen; hình thành mạng lưới bảo tồn quỹ gen quốc gia tại Quảng Ninh. Đồng thời, xây dựng cơ sở dữ liệu về nguồn gen đã lưu giữ, bảo tồn; phát triển các nguồn gen cây rừng bản địa, cây dược liệu có giá trị theo Nghị quyết số 19-NQ/TU (ngày 28/11/2019) của BTV Tỉnh ủy về phát triển lâm nghiệp bền vững.

 

Bài, ảnh: Nguyên Ngọc

 

HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Ứng dụng KHCN bảo vệ môi trường: Yếu tố tiên quyết cho một tương lai xanh

.

Đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng KH&CN cũng như tiếp nhận, chuyển giao công nghệ tiên tiến là chìa khóa quan trọng để xây dựng một tương lai xanh. Hoạt động này đã được các đơn vị trong tỉnh triển khai và áp dụng, góp phần tích cực trong việc giảm thiểu ô nhiễm môi trường, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên.

 

Nhằm giảm thiểu tác động của hoạt động du lịch đến môi trường Vịnh Hạ Long, từ năm 2015, 100% tàu du lịch hoạt động trên Vịnh đã được trang bị thiết bị phân ly dầu - nước, giúp hạn chế tối đa lượng nước thải nhiễm dầu ra môi trường. Cùng với đó, các hệ thống phao quây thấm dầu, tấm thấm dầu, xơ bông thấm dầu được ứng dụng từ chế phẩm sinh học Enretech-1 cũng được đưa vào sử dụng rộng rãi để thấm sạch dầu tràn, vãi trên các cảng, sàn tàu, trang thiết bị, dụng cụ dính dầu và trong khu vực đặt máy phát điện trong khu vực vịnh.

 

Đặc biệt, từ năm 2017, BQL Vịnh Hạ Long đã đưa vào sử dụng nhà vệ sinh sinh học (Bio-toilet “Bio-Lux”) ứng dụng công nghệ vi sinh và hệ thống xử lý nước thải kiểu mới (New Jhoka “Bio-Lux-water”) tại 7 điểm tham quan trên Vịnh Hạ Long. Đồng thời, đưa vào sử dụng thử nghiệm nhiên liệu sinh học trong các tàu để giảm thiểu lượng khí thải, nước thải ra môi trường; lắp đặt các tấm pin năng lượng mặt trời tại một số điểm tham quan trên Vịnh như: Động Thiên Cung, hang Đầu Gỗ, Sửng Sốt... nhằm tiết kiệm điện, bảo vệ môi trường một cách hiệu quả.

Những năm qua, tỉnh đã tập trung ứng dụng KH&CN trong sản xuất, một mặt để để nâng cao hiệu quả lao động, một mặt tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường (BVMT). Nhiều công nghệ mới đã và đang được các đơn vị doanh nghiệp áp dụng nhằm giảm thiểu tác động của hoạt động sản xuất kinh doanh với môi trường. Đặc biệt là các đơn vị ngành than, sản xuất vật liệu xây dựng, các đơn vị sử dụng năng lượng trọng điểm…

Tại Công ty CP Viglacera Hạ Long, các nhà máy của đơn vị đều đảm bảo tiêu chí xanh, không khói, an toàn, và thân thiện môi trường. Hai nhà máy gạch là Tiêu Giao và Hoành Bồ hiện đang sử dụng công nghệ nung tuynel đốt kín, có cải tiến để tận thu toàn bộ nhiệt phát sinh để sấy sản phẩm mộc; Nhà máy gạch Cotto Giếng Đáy sử dụng công nghệ lò nung thanh lăn, đây là công nghệ hiện đại, nhiệt thải được dẫn về hầm sấy, tận dụng để sấy gạch sau ép. Qua đó, giúp tiết kiệm năng lượng, hạn chế khí thải, bảo vệ môi trường. Ngoài ra, tất cả các lò nung của nhà máy gạch đều lắp đặt thêm một số thiết bị như quạt hút khói, quạt trợ đốt, quạt hút điện dư… để hút không khí ẩm, cấp điều chỉnh oxy, không phát sinh khí thải...

Nuôi tôm công nghệ có sử dụng các chế phẩm vi sinh đang được nhiều hộ nuôi trên địa bàn tỉnh áp dụng nhằm hạn chế những tác động đến môi trường.

Hay như Công ty TNHH Xây dựng Thanh Tuyền là đơn vị sử dụng công nghệ sản xuất gạch không nung với nguồn nguyên liệu tro bay, xỉ than từ các nhà máy xi măng, nhiệt điện; Công ty TNHH MTV Dầu thực vật Cái Lân đã cải tiến công nghệ trong sản xuất hạn chế phát sinh mùi trong quá trình hoạt động…

Môi trường là một trong ba trụ cột để xây dựng một tương lai xanh. Hoạt động KH&CN phục vụ BVMT luôn được tỉnh Quảng Ninh xác định là nhiệm vụ quan trọng nhằm tiến tới mục tiêu phát triển bền vững.

Để khuyến khích, hỗ trợ tổ chức, doanh nghiệp đầu tư vào KH&CN nhằm nâng cao giá trị sản xuất, tiết kiệm năng lượng, BVMT, tỉnh đã xây dựng nhiều cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ về thuế, về lãi suất vay vốn, về cơ sở hạ tầng…

Tiêu biểu như: Hỗ trợ triển khai áp dụng chương trình các hệ thống quản lý chất lượng; chương trình hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ; ưu đãi, hỗ trợ đối với nhà đầu tư vào Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tỉnh Quảng Ninh; duy trì hiệu quả Quỹ phát triển KH&CN... Cùng với đó, tổ chức nhiều phong trào, cuộc thi, hội thi tìm kiếm những sáng kiến, phát minh, giải pháp về KH&CN phục vụ sản xuất và BVMT.

Đặc biệt, tỉnh cũng có chủ trương khuyến khích các ngành, cơ quan, đơn vị và người dân đẩy mạnh chuyển giao công nghệ, tăng cường áp dụng tiến bộ KHKT vào từng lĩnh vực hoạt động để nâng cao hiệu quả cũng như BVMT. Tiêu biểu như áp dụng công nghệ vào xử lý chất thải, rác thải y tế ở các bệnh viện, cơ sở y tế; sử dụng các vật liệu HDPE trong nuôi trồng thủy sản; ứng đệm lót sinh học, công nghệ vi sinh vào chăn nuôi, trồng trọt; vận hành hệ thống điện chiếu sáng thông minh tiết kiệm năng lượng, giảm thiểu khí thải CO2 ra môi trường. 

Tỉnh cũng đã đầu tư xây dựng và đưa vào vận hành 86 trạm quan trắc môi trường, giúp nâng cao năng lực quan trắc, kiểm soát môi trường tự động trên địa bàn.

Riêng lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, gần đây, Quảng Ninh rất quan tâm tới các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân ứng dụng công nghệ hiện đại trong sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh với hàng nước ngoài và đặc biệt, sản xuất sạch, an toàn cho người tiêu dùng, thân thiện với môi trường.

Thời gian tới, tỉnh sẽ tiếp tục thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp hơn nữa để bảo vệ, giữ vững môi trường. Trong đó, việc tăng cường áp dụng KH&CN vẫn được coi là yếu tố then chốt nhằm hướng đến một cuộc sống xanh, thân thiện môi trường.

 

Bài, ảnh: Nguyễn Thị Hồng Ngọc

 

Quảng Ninh với bước tiến về ứng dụng CNTT trong dạy và học

Để đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo, một trong những giải pháp mà ngành Giáo dục Quảng Ninh ưu tiên hàng đầu chính là ứng dụng CNTT trong quản lý, dạy học. Sau nhiều năm nỗ lực thực hiện, hoạt động này đã góp phần tạo chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng giáo dục ở các nhà trường.

Đầu tháng 6 vừa qua, Sở GD&ĐT và Trung tâm Tuổi trẻ Thành Đạt (Hà Nội) đã ký kết thỏa thuận hợp tác triển khai thí điểm mô hình đào tạo khởi nghiệp “Không gian trải nghiệm CNTT” (viết tắt là Tech Hub) tại Quảng Ninh.

Theo bản ký kết này, Trung tâm Tuổi trẻ Thành Đạt sẽ chuyển giao, lắp đặt trang thiết bị, bản quyền chương trình và tài liệu gốc để triển khai mô hình đào tạo khởi nghiệp Tech Hub tại Trường THPT Hoàng Quốc Việt (TX Đông Triều) và Trường THCS Bãi Cháy (TP Hạ Long), trong giai đoạn 2020-2021.

Cô giáo Vũ Thị Thu Huyền, Hiệu trưởng Trường THPT Hoàng Quốc Việt, cho biết: Nhà trường có nền tảng ứng dụng CNTT trong quản lý, dạy học khá tốt, với 9 phòng học thông minh. Trường cũng là đơn vị đầu tiên của tỉnh tổ chức kiểm tra, thi trực tuyến trên phần mềm Vittes, cho kết quả kiểm tra ngay trên máy tính sau khi học sinh thực hiện lệnh nộp bài. Trường rất mong mô hình Tech Hub nhanh chóng được triển khai.

 

 Bà Đoàn Bích Ngọc, Giám đốc điều hành Trung tâm Tuổi trẻ Thành Đạt, chia sẻ: Trong tháng 7/2020, chúng tôi sẽ triển khai việc thí điểm mô hình này tới 2 trường. Tại mỗi trường, chúng tôi sẽ cung cấp từ 10-15 máy tính, cũng như toàn bộ chương trình, tài liệu thực hiện. Chúng tôi tin là không gian trải nghiệm CNTT sẽ tạo ra môi trường học tập hiện đại, giúp giáo viên và học sinh có thể thực hành những chương trình đào tạo công nghệ tiên tiến trên thế giới, từ đó, góp phần nâng cao năng lực, tư duy sáng tạo và hình thành văn hóa khởi nghiệp cho học sinh trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.

Theo Sở GD&ĐT, Quảng Ninh là địa phương đầu tiên được Bộ GD&ĐT chọn để phối hợp với Trung tâm Tuổi trẻ Thành Đạt đưa mô hình đào tạo Tech Hub vào nhà trường. Hiện 2 đơn vị đang tích cực phối hợp tốt để triển khai thành công việc thí điểm mô hình.

Qua tìm hiểu, được biết việc ứng dụng CNTT trong quản lý, dạy học đã và đang được ngành Giáo dục Quảng Ninh triển khai rất linh hoạt, hiệu quả ở các cấp học. Đến thời điểm này, toàn bộ dữ liệu học sinh, giáo viên (trừ các nhóm trẻ tư thục độc lập, các cơ sở đào tạo GDTX tại các trường cao đẳng, đại học) đã được thu thập và cập nhật vào cơ sở dữ liệu ngành Giáo dục.

Đặc biệt, Sở GD&ĐT còn thực hiện việc gửi và nhận văn bản điện tử có ký số thông qua phần mềm quản lý hành chính điện tử (e-office) với Bộ GD&ĐT. Đồng thời, Sở, các phòng GD&ĐT, các trường học trực thuộc Sở đã thực hiện chuyển nhận văn bản điện tử có ký số qua phần mềm quản lý văn bản.

Hiện tại, hệ thống hội nghị trực tuyến (công nghệ video conferencing) đã được triển khai từ Sở đến tất cả các phòng GD&ĐT. Hàng tháng, Sở GD&ĐT đều tổ chức giao ban trực tuyến tới toàn bộ các phòng GD&ĐT và các trường THPT trên toàn tỉnh.

Bên cạnh việc thực hiện các hướng dẫn của Bộ GD&ĐT trong công tác ứng dụng CNTT hỗ trợ đổi mới phương pháp giảng dạy, ngành GD&ĐT Quảng Ninh còn mạnh dạn thực hiện nhiều nội dung đột phá. Toàn ngành đã đầu tư xây dựng 1.432 phòng học tương tác, phòng học thông minh tại 89 trường học.

Cùng với đó là đầu tư xây dựng hệ thống quản lý bài giảng elearning tại địa chỉ http://lv.quangninh.edu.vn với mục tiêu xây dựng một hệ thống soạn, giảng, quản lý bài giảng trực tuyến.

Để phục vụ hệ thống quản lý bài giảng trên, Sở GD&ĐT cũng đã đầu tư hệ thống máy chủ, thiết bị mạng, phần mềm hệ thống, phần mềm giám sát đặt tại Trung tâm Tích hợp dữ liệu tỉnh Quảng Ninh.

Có thể thấy, ứng dụng CNTT trong quản lý và dạy học có ý nghĩa rất quan trọng với sự phát triển của ngành Giáo dục. Những kết quả trên sẽ giúp ngành GD&ĐT tỉnh tiếp tục nâng cao về chất trong ứng dụng CNTT, góp phần phát huy khả năng tìm tòi, sáng tạo của đội ngũ cán bộ, giáo viên và học sinh các trường học trên địa bàn.

Bài, ảnh: Lan Anh

 

Nghiên cứu thử nghiệm một số dòng na mới tại thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh

 Tại Quảng Ninh, cây na là một trong những loại cây ăn quả có diện tích lớn thứ 2 sau cây vải (na dai có phân bố rộng và chiếm đa số diện tích so với na bở). Cây na được trồng tập trung chủ yếu tại thị xã Đông Triều với tổng diện tích gần 1.000 ha (chiếm 77,7% diện tích na toàn tỉnh).  Cũng giống như các vùng na khác trên cả nước, vùng na dai  Đông Triều gặp rắt nhiều vấn đề: giống cũ, quả nhỏ, giá trị thương mại thấp....Từ đó đặt ra yêu cầu cấp thiết cần có biện pháp từng bước cải tạo, thay thế dần các diện tích na đã già cỗi.


Xuất phát từ thực trạng trên, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Quảng Ninh  đã đề xuất và được UBND tỉnh phê duyệt thực hiện nhiệm vụ “Nghiên cứu thử nghiệm một số dòng na mới tại thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh”  nhằm lựa chọn bổ sung các dòng na mới có năng suất, chất lượng cao vào cơ cấu giống na tại địa phương. Nhiệm vụ có thời gian thực hiện 36 tháng, từ tháng 8/2017 đến tháng 8/2020.

 

 

    Một ngày cuối tháng 5, đoàn Công tác do Sở KH&CN tổ chức đã đi kiểm tra thực tế tiến độ thực hiện nhiệm vụNghiên cứu thử nghiệm một số dòng na mới tại thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh”. Tại xã An Sinh, thị xã Đông Triều, khu vực trồng thử nghiệm các dòng na mới, chị Đỗ Thị Hồng (Thạc sỹ Khoa học Cây trồng,  Trưởng phòng Trồng trọt của Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Quảng Ninh, vui vẻ cho chúng tôi biết: Là Chủ nhiệm nhiệm vụ này, tôi và các đồng nghiệp đã áp dụng quy trình kỹ thuật mới, tiên tiến được học tập ở Đài Loan vào trồng thử nghiệm 02 dòng na mới, giống Đài Loan và Thái Lan. Mục tiêu của chúng tôi khi thực hiện nhiệm vụ này là: Xác định được đặc điểm thực vật học đặc trưng, đánh giá các chỉ tiêu sinh trưởng, khả năng ra hoa, đậu quả và chất lượng quả của các dòng na mới trồng tại thị xã Đông Triều; Đánh giá được khả năng thích nghi của các dòng na Đài Loan, Thái Lan với điều kiện sinh thái tại thị xã Đông Triều;  Lựa chọn được 1 đến 2 dòng na mới phù hợp với điều kiện từ đó làm cơ sở đề xuất trồng thử nghiệm tại thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh giai đoạn tiếp theo. Đến nay, cả 02 dòng na đều sinh trưởng, phát triển tốt, đáp ứng nhu cầu nhiệm vụ theo tiến độ đề ra, dự kiến cuối tháng 09 sẽ cho thu hoạch quả. Trong khuôn khổ thực hiện nhiệm vụ, thời gian tới chúng tôi sẽ tổ chức hội thảo tại địa điểm trồng 2 dòng na mới này ở xã An Sinh, nhằm đánh giá kết quả nghiên cứu thử nghiệm các dòng na mới tại thị xã Đông Triều. Đối tượng mời tham dự hội thảo là các nhà khoa học thuộc các đơn vị nghiên cứu về cây trồng như Viện nghiên cứu rau quả (thuộc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam), Công ty Cổ phần giống cây trồng Quảng Ninh; đại diện một số sở, ngành, hợp tác xã,.... và người trồng na ở các xã Tân Việt, Việt Dân, An Sinh của thị xã Đông Triều.

Còn chị Nguyễn Thị Giang, ở thôn Đìa Mối, xã An Sinh, thị xã Đông Triều cũng cho hay: Việc thụ phấn cho hoa là một trong những khâu rất quan trọng, quyết định tỷ lệ đậu quả cao hay thấp. Chúng tôi đã thực hiện đúng kỹ thuật, lấy phấn hoa của na Đài Loan thụ phấn cho na Đài Loan, phấn hoa Thái Lan thụ phấn cho na Thái Lan. Điều quan trọng là chọn đúng thời điểm thụ phấn, khi hoa nở vừa tầm, lấy phấn của hoa đã nở chín, chấm cho hoa bắt đầu nở, khoảng thời gian tốt nhất là vào buổi sáng sớm và chiều tối. Khi áp dụng đúng quy trình, đúng thời điểm  thì cứ 10 bông đều đậu được cả 10 bông.

  

 

Sau khi kiểm tra thực tế tại khu vực trồng các dòng na mới của Đài Loan, Thái Lan, đối chứng với dòng na dai Đông Triều, đoàn kiểm tra nhiệm vụ đánh giá sơ bộ, kết luận: 2 dòng na mới (na Thái Lan, na Đài Loan) đều sinh trưởng tốt, trong đó dòng na Đài Loan sơ bộ được đánh giá là phù hợp với điều kiện sinh thái và thổ nhưỡng của thị xã Đông Triều, cây sinh trưởng tốt, tỷ lệ đậu quả cao hơn dòng na Thái Lan và na dai  Đông Triều, Việt Nam (mỗi gốc na Đài Loan đậu quả từ 9-12 quả). Đến thời điểm hiện tại nhiệm vụ đạt khoảng 80% khối lượng công việc.

Lãnh đạo Sở KH&CN cũng đã cơ bản thống nhất với đề xuất gia hạn thời gian thực hiện nhiệm vụ đến hết tháng 10/2020 để đơn vị chủ trì thực hiện có thể đánh giá đầy đủ các chỉ tiêu về năng suất và chất lượng quả các dòng na.Yêu cầu đơn vị thực hiện nhiệm vụ tích cực triển khai các bước, hoàn thiện khối lượng công việc đúng quy định.

Bài, ảnh: Thu Hương


Bảo tồn nguồn gen Tu hài Lutraria rhynchaena trên địa bàn Quảng Ninh

Từ những năm 2012 trở về trước toàn tình Quảng Ninh có hàng trăm hộ nuôi tu hài thương phẩm, hàng nghìn ha diện tích nuôi, sản lượng hàng nghìn tấn, tạo công ăn việc làm cho hàng nghìn người. Tuy nhiên, từ sau năm 2012 do tình hình dịch bệnh xảy ra trên Tu hài, làm nghề nuôi Tu hài giảm cả về quy mô lẫn sản lượng, đồng thời đã làm giá Tu hài tăng cao. Đứng trước nguy cơ bị cạn kiệt nguồn gen Tu hài ngoài tự nhiên thì giải pháp khắc phục góp phần ổn định và phát triển bền vững nghề nuôi Tu hài ở Quảng Ninh là thực sự cần thiết. Một trong những giải pháp đầu tiên là bảo tồn nguồn gen Tu hài để tránh nguy cơ suy giảm nguồn lợi và tạo nguồn bố mẹ chất lượng phục vụ sản xuất giống, nhằm tạo ra con giống chất lượng tốt phục vụ nhu cầu nuôi của người dân.

 Trước thực trạng đó, Trung tâm khoa học kỹ thuật và sản xuất giống thủy sản (KHKT&SXGTS) Quảng Ninh đã đề xuất và được UBND tỉnh phê duyệt giao thực hiện nhiệm vụ “Bảo tồn nguồn gen Tu hài Lutraria rhynchaena trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh”. Nhiệm vụ được triển khai thực hiện từ tháng 6/2017 theo Quyết định số 2251/QĐ-UBND. Ngay sau khi có QĐ phê duyệt nhiệm vụ của UBND tình, ông Bùi Hữu Sơn (cán bộ Trung tâm KHKT&SXGTS), Chủ nhiệm nhiệm vụ này đã cùng các cộng sự bắt tay vào triển khai các nội dung: Điều tra phân  bố và hiện trạng nghề nuôi Tu hài tại Quảng Ninh; Đánh giá đa dạng di truyền nguồn gen Tu hài Quảng Ninh; Lưu giữ, bảo tồn nguồn gen loài Tu hài tại Quảng Ninh; Tư liệu hóa nguồn gen Tu hài; Giới thiệu, cung cấp, trao đổi nguồn gen.

Ông Bùi Hữu Sơn, cán bộ Trung tâm KHKT&SXGTS Quảng Ninh cho biết: “Thực hiện nhiệm vụ này, chúng tôi tiến hành khoanh vùng bảo tồn, xác định 3 điểm điều tra trong bãi bảo tồn, xác định mật độ và xác định khối lượng ban đầu. Ứng dụng các biện pháp kỹ thuật bảo vệ nguồn lợi thủy sản để bảo tồn nguồn gen: Thống kê mật độ, đánh giá và theo dõi sinh trưởng của Tu hài trong diện tích bảo tồn.; Kiểm tra các yếu tố môi trường trong vùng bảo tồn; Quản lý, bảo vệ bãi lưu giữ: Không cho người vào khai thác tự nhiên, không cho tàu bè qua lại ảnh hưởng môi trường bãi bảo tồn, các hoạt động khác như dùng xung điện, chất nổ để khai thác thủy sản ở bên ngoài; Chỉ khai thác phục vụ sản xuất giống.


Trong quá trình triển khai nội dung điều tra của của nhiệm vụ, Nhóm thực hiện nhiệm vụ đã tiến hành điều tra mật độ phân bố Tu hài ở một số điểm cụ thể. Tại huyện Vân Đồn điều tra ba điểm là: Khu vực Hòn Bảnh Sữa, Bản Sen, Vân Đồn; Khu vực Hòn  Giai Trụi, Quan Lạn, Vân Đồn; Khu vực  Đảo Mắp Cọp, Thắng Lợi, Vân Đồn. Tại huyện Hải Hà điều tra một điểm là: Khu vực Hòn Cái Khiên, Quảng Phong, Hải Hà. Tại thành phố Hạ Long điều tra một điểm là: Khu vực Vụng Vạn Giò, Hùng Thắng, Thành phố Hạ Long.

 Về kết quả điều tra hiện trạng nghề nuôi Tu hài: nhóm thực hiện nhiệm vụ đã điều tra được 90 hộ dân nuôi trồng thủy sản ở tại huyện Vân Đồn về vấn đề nuôi Tu hài mấy năm gần đây (sau năm 2013 đến nay). Tổng hợp kết quả điều tra cho thấy, trong số những hộ dân nuôi trồng thủy sản thì chỉ có một số ít hộ tham gia nuôi Tu hài. Những hộ dân nuôi Tu hài cũng nuôi với số lượng ít chủ yếu là 3.000 – 5.000 lồng nuôi. Về mật độ nuôi phần lớn các hộ nuôi ở mật độ là 60 – 70 con/lồng. Thời gian nuôi thì ngắn lại khoảng 8 – 12 tháng (thường các hộ dân thường thu hoạch vào khoảng tháng 11, 12 trước tết nguyên đán) để đề phòng dịch bệnh xảy ra. Kích cỡ thu hoạch khoảng 30 – 50 con/kg, tình hình dịch bệnh thì thường xuyên xảy ra chủ yếu là bệnh xưng vòi (bong chốc vòi). Tỷ lệ sống thấp, dẫn đến sản lượng và hiệu quả kinh tế không cao. Về hình thức nuôi là nuôi bằng dây treo khay, lồng treo: là hình thức nuôi Tu hài ít phổ biến ở Vân Đồn, được áp dụng khi ương nuôi con giống từ cấp 1 lên cấp 2. Người dân có thể kết hợp treo dây trên các bè nuôi cá lồng bè. Nuôi lồng thả đáy: Đây là hình thức nuôi Tu hài khá phổ biến để nuôi thương phẩm. Hình thức này mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn hình thức nuôi treo và hình thức này đang được áp dụng ở hầu hết các xã đảo và xã ven biển.

Về tình hình sản xuất giống Tu hài trên địa bàn tỉnh: Qua quá trình điều tra của nhóm thực hiện nhiệm vụ thì hiện nay trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh có khoảng 7 đang sản xuất giống nhuyến thể. Các trại chủ yếu tập trung ở huyện Vân Đồn và thành phố Hạ Long. Hiện nay, các trại chỉ tập trung vào sản xuất giống hầu thái bình dương và giống ngao hai cùi, hiện tại không có trại nào sản xuất giống Tu hài.

Kết quả đánh giá đa dạng di truyền nguồn gen Tu hài: Tổng số 150 mẫu tu hài được thu tại 5 xã: Trong đó huyện Vân Đồn 3 xã là BẢn Sen, Quan Lạn và Thắng Lợi, huyện Hải Hà 01 xã Quảng Phong và thành phốHạ Long 01 phường Hùng Thắng.

 

 Về bảo tồn nguồn gen Tu Hài: Nhóm triển khai nhiệm vụ đã tiến hành điều tra khảo sát tại 5 điểm có sự phân bố tu hài tự nhiên trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. Nhóm thực hiện nhiệm vụ đã điều tra khảo sát xong đã tồ chức hội thảo để xác định phương án bảo tồn nguồn gen tu hài trên địa bàn tỉnh. Nhiệm vụ tiến hành khoanh vùng bảo tồn 1ha/bãi, bãi có hình chữ nhật (chu vi khoảng 500 m). Địa điểm xây dựng mô hình lưu giữ nguồn gen Tu hài tại Quảng Ninh là Hòn Bánh Sữa – xã Bản Sen – huyện Vân Đồn, khu vực này thuộc vùng hạ triều, chất đáy của bãi triều là cát pha vỏ nhuyễn thể có san hô và gềnh đá rất phù hợp để Tu hài sinh trưởng và phát triển

Về kết quản lưu giữ: Nhóm nghiên cứu đã ứng dụng các biện pháp kỹ thuật bảo vệ nguồn lợi thủy sản để bảo tồn nguồn gen Tu hài; Thường xuyên kiểm tra mật độ và theo dõi sự phát triển của Tu hài trong bãi bảo tồn. Phương pháp xác định mật độ Tu hài trong bãi bảo tồn là sử dụng ô tiêu chuẩn (40 m2/ô), xác định ô tiêu chuẩn rồi tìm đếm số lượng Tu hài trong ô tiêu chuẩn thông qua các dấu hiệu nhận biết “lỗ mà” rồi bắt Tu hài kiểm tra về trọng lượng tu hài để xác định khối lượng Tu hài trong ô tiêu chuẩn. Từ đó đánh giá sự phát triển của Tu hài trong bãi bảo tồn; Thường xuyên kiểm tra các yếu tố môi trường trong vùng bảo tồn cho thấy độ mặn dao động trong khoảng 260/00 - 330/00, độ trong trên 2,5 m rất phù hợp cho Tu hài sinh trưởng và phát triển; Nhóm thực hiện nhiệm vụ đã phối hợp chặt chẽ với Công ty TNHH Đỗ Tờ để Quản lý, bảo vệ bãi lưu giữ, không cho người vào khai thác thủy sản tự nhiên, không cho tàu bè qua lại ảnh hưởng môi trường bãi bảo tồn, nghiêm cấm các hoạt động dùng xung điện, chất nổ để khai thác thủy sản ở bên ngoài gần khu vực bãi bảo tồn.

Việc tư liệu hóa nguồn gen: Mẫu Tu hài được thu ngẫu nhiên từ 5 quần đàn thuộc 5 khu vực địa lý khác nhau trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. Tổng số thu được 30 mẫu (15 mẫu vỏ và 15 mẫu tu hài nguyên con) các mẫu đều được ngâm vào trong formanine 10% để bảo quản Tại phòng thí nghiệm Trung tâm khoa học kỹ thuật và sản xuất giống thủ sản Quảng Ninh.

Việc giới thiệu, cung cấp, trao đổi nguồn gen được tiến hành rất chu đáo thông qua tổ chức hội thảo và tập huấn. Cụ thể: tổ chức 2 cuộc hội thảo khoa học với số lượng là 50 đại biểu. Cùng với đó là tập huấn tuyên truyền giới thiệu nguồn gen, giới thiệu bản đồ: Nhiệm vụ đã xây dựng tài liệu và  tổ chức tập huấn nhằm giới thiệu nguồn gen, nâng cao ý thức cộng đồng trong bảo vệ nguồn gen Tu hài, cụ thể: Giới thiệu về đặc điểm sinh học Tu hài; cấm khai thác theo qui định; mật độ phân bố Tu hài trên bãi, trữ lượng Tu hài từ đó để người dân thấy được Tu hài đang trong tình trạng suy giảm nguồn lợi, có nguy cơ tuyệt chủng. Tổ chức 01 lớp tập huấn tại huyện Vân Đồn. Giới thiệu và trao đổi nguồn gen Tu hài cho người dân và các đơn vị có nhu cầu nghiên cứu. Số lượng: 50 người (Hải Hà 10 người, Hạ Long 10 người, Vân Đồn 20 người, các đơn vị khác 10 người).

Nhiệm vụ “Bảo tồn nguồn gen Tu hài Lutraria rhynchaena trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh” đã mang lại kết quả: xác định được mật độ phân bố Tu hài tự nhiên ở một số bãi triều của Quảng Ninh là từ 0,11 – 0,17 con/m2, khối lượng Tu hài ngoài tự nhiện là từ 4,40 – 13,35 gram/m2, chất đáy bãi triều là cát pha bùn, cát pha vỏ nhuyễn thể, có san hô và ghềnh đá. Đã tiến hành đánh giá đa dạng được nguồn gen Tu hài của Quảng Ninh. Các quần thể tu hài Quảng Ninh có mức độ đa dang di truyền trung bình. Quần thể tu hài Bản Sen có hệ số cận huyết thấp nhất và có mức đa dạng di truyền cao nhất. Nhiệm vụ đã xây dựng được một mô hình bảo tồn nguồn gen Tu hài quy mô là 1 ha, mật độ phân bố của Tu hài đã được tăng từ 0,17 con/m2 – 0,66 con/m2. Xây dựng được 30 mẫu vật Tu hài trong đó có 15 mẫu vật nguyên con và 15 mẫu vật vỏ Tu hài. Xây dựng được 5 bản đồ số hóa nguồn gen Tu hài tại Quảng Ninh tỷ lệ 1/10.000. Đã lập được hồ sơ nguồn gen Tu hài tại Quảng Ninh. Đã tổ chức giới thiệu, cung cấp và trao đổi nguồn gen thông qua hai cuộc hội thảo với số lượng 50 người tha gia.

Để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ lưu giữ và bảo tồn nguồn gen Tu hài trong các giai đoạn tiếp theo nhóm thực hiện nhiệm vụ đề nghị: cần mở rộng mô hình bảo tồn nguồn gen Tu hài hơn nữa với quy mô trên 10 ha (hecta) tránh xa tàu bè của các hộ dân đi khai thác thủy hải ảnh và cũng để bảo đảm độ an toàn, ổn định cho Tu hài sinh trưởng và phát triển tự nhiên. Chuyển giao mô hình bảo tồn nguồn gen Tu hài cho Công ty TNHH Đỗ Tờ để Công ty tiếp tục thực hiện mô hình bảo tồn nguồn gen Tu hài tại Quảng Ninh.

Bài, ảnh: Hương Anh

 

Bộ máy khoan rút lõi bê tông: Sáng kiến hữu ích của một nông dân

 

          Được nhà sáng chế nông dân Đinh Văn Giang ở xã Sông Khoai, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh giới thiệu, chúng tôi tìm gặp anh Dương Văn Tạo ở phường Hoành Bồ, TP Hạ Long, Quảng Ninh để được tận mắt chứng kiến sản phẩm sáng tạo hữu ích của anh. Đó là “Bộ máy khoan rút lõi bê tông” phục vụ hiệu quả, thiết thực cho việc sửa chữa máy điều hòa do anh Tạo tự nghiên cứu, chế tạo và cải tiến, hiện đang được người tiêu dùng ưa chuộng.

 

          Tháng 6, nắng chói chang, anh Tạo cùng 04 công nhân say sưa lao động, thực hiện các công đoạn sản xuất, lắp ráp hoàn thiện bộ sản phẩm máy khoan rút lõi bê tông. Mỗi động tác kỹ thuật đều được thao tác gọn gàng, chỉn chu, rất chuyên nghiệp. Công việc vất vả nhưng ai nấy đều tươi rói nụ cười trên môi. Anh Tạo đã rất hồ hởi khi chia sẻ với chúng tôi: Mặc dù không được theo học trường, lớp đào tạo kỹ thuật nào nhưng với niềm say mê nghiên cứu sửa chữa các đồ dùng sinh hoạt gia đình từ nhỏ nên mình đã luôn tự mày mò học hỏi để nắm bắt kỹ thuật, sửa chữa hoàn thiện các đồ dùng thiết yếu, phục vụ cuộc sống gia đình. Từ một người thợ sửa xe đạp, rồi chuyển sang thợ sửa chữa điện tử điện lạnh, đến nay mình đã tự nghiên cứu, chế tạo và cải tiến “Bộ máy khoan rút lõi bê tông” phục vụ hiệu quả, thiết thực cho việc sửa chữa máy điều hòa. Để nghiên cứu, chế tạo, sản xuất thành công được bộ máy này mình đã trải qua bao trăn trở với nhiều đêm mất ngủ. Có những đêm khuya, nằm suy nghĩ và nảy ra ý tưởng trong công đoạn của dây chuyền sản xuất các bộ phận của bộ máy khoan rút lõi bê tông, mình liền bật dậy ngay để ghi chép và thực hành. Do đó hầu hết các máy móc này đều do mình tự sáng chế và cải tiến. Mỗi chiếc máy sẽ đảm nhiệm việc chế tạo 1 bộ phận của máy khoan rút lõi bê tông. Sau khi hoàn thành, các bộ phận sẽ được lắp ráp lại thành một bộ máy khoan rút lõi bê tông hoàn thiện để xuyên tường, luồn ống dẫn ga kết nối tuần hoàn từ dàn nóng sang dàn lạnh của bộ điều hòa.

.

 

          Cũng theo anh Dương Văn Tạo thì bắt nguồn từ thực tế công việc lắp đặt, sửa chữa máy điều hòa của anh rất vất vả, mất thời gian, công sức, bụi bặm và đôi khi còn nguy hiểm do phải dùng khoan, búa, đục… nên anh Tạo đã nghiên cứu, chế tạo ra sản phẩm sáng tạo hữu ích này. Và bộ giá khoan này có giá thành rẻ, dễ tháo lắp, kích thước nhỏ, gọn nhẹ, mỗi bộ máy khoan rút lõi bê tông trị giá 1,3 triệu đồng nên người tiêu dùng sẽ có cơ hội để sử dụng.

          Sau 02 năm sử dụng và theo dõi bộ máy do mình tự sản xuất thử nghiệm, anh Tạo đã khắc phục những yếu điểm và phát huy thế mạnh của bộ máy, sau đó mới bắt tay vào sản xuất để cung cấp nhu cầu người sử dụng. Đến thời điểm này anh đã sản xuất được 40 bộ máy, không chỉ cung cấp cho các cơ sở sửa chữa điều hòa tại địa phương mà còn xuất đi các tỉnh và sản phẩm anh sản xuất ra chưa đủ cung cấp nhu cầu người sử dụng. Sản phẩm của anh đã được chính những người thợ sửa điều hòa và khách hàng đánh giá rất cao bởi nhiều ưu điểm nổi bật: tiết kiệm thời gian, công sức và hạn chế tối đa lượng bụi phát tán ra môi trường trong quá trình lắp đặt máy điều hòa. Ông Nguyễn Duy Hằng, trú tại phường Việt Hưng, thành phố Hạ Long, Quảng Ninh cho biết: “Tôi đã đến tận nơi anh Tạo sản xuất ra bộ máy và được chứng kiến công nghệ sản xuất rất hiện đại, mặc dù anh Tạo chỉ là một nông dân nhưng đã dám nghĩ, dám làm để tạo ra sản phẩm hữu ích này, phục vụ cuộc sống. Tôi đã mua 01 bộ sản phẩm về sử dụng và thấy được những tiện ích: giảm thời gian, công sức lao động và không bị phát tán bụi ra môi trường, giá thành bộ sản phẩm không cao so với chi phí người sản xuất bỏ ra…đây là một sản phẩm hiếm có, do đó người sản xuất ra sản phẩm này thật đáng biểu dương”. Còn anh Đỗ Đăng Khoa, người thợ trực tiếp làm công việc lắp máy điều hòa ở phường Hoành Bồ, thành phố Hạ Long, Quảng Ninh thì cho hay: “Từ khi có bộ máy này, có giá đỡ khoan cho người thợ lắp đặt điều hòa đã tạo được mỹ quan trong lắp đặt và quan trọng là không gây nguy hiểm, rất an toàn khi sử dụng ở trên cao. Do đó chúng tôi rất yên tâm khi thực hiện công việc lắp đặt máy điều hòa”.

          Được sự cổ vũ, động viên, tiếp thêm nguồn động lực, đam mê sáng tạo từ nhà sáng chế nông dân Đinh Văn Giang (ở xã Sông Khoai, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh) cuối năm 2019, anh Tạo nộp hồ sơ đăng kí sáng chế giải pháp hữu ích tại Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ KH&CN) với mong muốn sản phẩm được tạo ra từ bàn tay, khối óc của mình được bảo vệ, không bị xâm phạm. Đó chính là quyền lợi chính đáng của người lao động chân chính.

          Bên cạnh việc sáng chế ra bộ máy khoan rút lõi bê tông đầu tiên trên thị trường, anh Tạo cũng đã thiết kế lắp ráp Bảng điều khiển hệ thống năng lượng mặt trời đầu tiên trên địa bàn tỉnh vào năm 2008 có công suất 1000W và nâng cấp lên 5000W vào năm 2011. Nhờ đó, gia đình anh đã tiết kiệm được 70% lượng điện tiêu thụ hàng tháng, đặc biệt vào mùa hè, thời gian cao điểm. Hệ thống này cũng đã được anh lắp đặt cho một số hộ gia đình ở phường Hoành Bồ nơi anh sinh sống.

          Hiện nay, người nông dân Dương Văn Tạo vẫn đang tiếp tục phát huy niềm đam mê sáng tạo của mình để phát triển cơ sở sản xuất, phấn đấu trở thành doanh nghiệp KH&CN.

                                                                                         Bài, ảnh:  Thu Hương

PHỔ BIẾN KIẾN THỨC

Đu đủ, cây cho nhiều vị thuốc

Đu đủ là loài cây phổ biến, được trồng và sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau. Hầu như tất cả các bộ phận của cây đều được sử dụng như thực phẩm, dược phẩm hay mỹ phẩm trong đời sống hằng ngày.

Đu đủ còn có tên là phan qua thụ, lô hong, cà lào, phiên mộc. Tên khoa học: Carica papaya L. Cây có nguồn gốc tại vùng nhiệt đới Châu Mỹ, được trồng phổ biến ở nhiều nơi trên thế giói. Ở nước ta, đu đủ được trồng ở khắp các địa phương trong cả nước, để lấy quả làm thực phẩm. Các bộ phận khác như: rể, hoa, lá, hạt, quả…  làm dược liệu trong các bài thuốc Đông y.

 


Đặc tính thực vật: Cây đu đủ cao từ 3 - 7m, thân thẳng, đôi khi có phân nhánh. Vỏ mang rất nhiều sẹo của cuống lá. Lá mọc so le ở ngọn cây, phiến lá to rộng chia làm 6 - 9 thùy, thùy hình trứng nhọn, mép có răng cưa không đều, cuống lá rỗng và dài 30 - 50cm. Hoa trắng nhạt hay xanh nhạt, khác gốc. Đu đủ là kiểu thực vật tạp tính (vừa có hoa đực, hoa cái và cả hoa lưỡng tính). Hoa đực mọc ở kẽ lá thành chùy, có cuống dài. Hoa cái có tràng dài hơn tràng của hoa đực, mọc thành chùy ở kẽ lá. Quả thịt hình trứng to, dài 20 - 30cm, đường kính 15 - 20cm. Thịt quả dày, lúc đầu có màu xanh lục sau ngả màu vàng cam. Trong ruột quả có rất nhiều hạt đen to bằng hạt tiêu, xung quanh có lớp nhầy.

Dược tính đa dạng

Có thể nói gần như tất cả các bộ phận của cây đu đủ đều có thể dùng làm thuốc.  Từ lá, hoa, quả xanh, quả chín, thân, rễ, hạt hay cả nhựa cây, nhựa quả. Mỗi bộ phận có những đặc tính dược lý, thành phần hóa học khác nhau; được dùng trong nhiều mục đích khác nhau:

Lá đu đủ: Không đơn thuần chỉ là một loại lá bình thường, từ xa xưa dân gian ví lá đu đủ như một vị thuốc chữa bệnh thần kỳ, nếu như biết dùng đúng cách. Theo Đông y, lá đu đủ có tính hàn, vị hơi đắng, có mùi hắc, giúp thanh nhiệt, giải độc, mát gan, bổ tì và nhuận tràng. Lá đu đủ thường được phân biêt thành lá đu đủ đực và lá đu đủ cái. Lá đu đủ đực có phiến lá nhỏ, màu xanh lá thẫm, lá đu đủ cái có phiến lá lớn, màu xanh thẫm nhưng nhạt màu hơn lá đu đủ đực, có thành phần dược tính thấp hơn nên ít được dùng hơn là đu đủ đực. Ngày nay, có nhiều đồn đoán về việc uống nước sắc là đu đủ trị được ung thư. Điều này là chưa được kiểm chứng, xác thực. Tuy nhiên, trong đông y cũng như thực tế điều trị, có ghi nhận hiệu quả, giúp ngăn ngừa và giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư.

Quả đu đủ xanh: Thành phần chính trong thịt quả đu đủ xanh là nước (chiếm khoảng 90%); còn lại là chất xơ, vitamin, khoáng chất và một số thành phần dinh dưỡng khác. Đu đủ xanh còn chứa nhựa mủ - là hỗn hợp các men phân giải protein, có tác dụng tiêu hóa, phân giải thịt và giải phóng acid amin. Nhựa đu đủ có giá trị sinh học cao, được ứng dụng trong thực phẩm, dược phẩm và mỹ phẩm; với thành phần chính là papain, sau khi thu hoạch nhựa, quả vẫn được sử dụng cho các mục đích thực phẩm. Tại Ấn Độ, người ta đã lai tạo thành công giống đu đủ mới có hàm lượng mủ nhựa cao gấp 5 lần so với các giống thông thường. Nhựa đu đủ còn được sử dụng để để điều chế thuốc chữa lệch khớp xương, thuốc tiêm giảm đau do các dây thần kinh gây nên. Hoặc sử dụng sắc làm thuốc chống các loại ký sinh trùng đường ruột như giun, sán, chữa hen phế quản trẻ em và kích thích chức năng hoạt động của gan, mật. Người có thai không nên sử dụng đu đủ xanh vì có nguy cơ gây sẩy thai.

Đu đủ chín: Theo nghiên cứu của các chuyên gia, cứ trong 100 g quả đu đủ có 74-80mg vitamin C và 500-1.250 IU caroten. Đu đủ còn có các vitamin B1, B2, các acid gây men và khoáng chất như kali, canxi, magiê, sắt và kẽm. Ăn đu đủ thường xuyên có tác dụng bổ máu, giúp hồi phục gan ở người bị sốt rét. Trong đu đủ có nhiều vitamin C và caroten, có tác dụng chống ôxy hóa, tăng sức đề kháng cho cơ thể.  Đu đủ còn có công dụng hóa những chất có hại cho làn da, giúp thải độc tố để cho da khỏe mạnh, tránh da nhăn sớm ở phụ nữ. Cung cấp dinh dưỡng giúp bổ sữa, tăng tiết sữa cho phụ nữ mới sinh.

Hoa đu đủ đực: Trong Đông y, hoa đu đủ đực có vị đắng, tính bình, thường được sử dụng trong các bài thuốc ngăn ngừa, hỗ trợ điều trị nhiều vấn đề ở đường hô hấp như: ho,viêm họng, khàn tiếng, đau rát cổ họng; các vấn đề tiêu hóa, tim mạch và miễn dịch. Hoa đu đủ đực có thể sử dụng ở dạng tươi hoặc dạng phơi khô.

Hạt đu đủ: Cả đông và tây y đều nhắc đến công dụng của hạt đu đủ trong việc hỗ trợ tiêu hóa, bảo vệ thận, và giải độc gan; ngăn ngừa sự lây lan của các loại mầm bệnh gây nhiễm trùng. Hạt đu đủ có chứa hàm lượng Papain cao, có tác dụng phân giải protein mạnh; giúp phân hủy ký sinh trùng và trứng của chúng, từ đó loại bỏ ra khỏi cơ thể. Một số nghiên cứu khác cho thấy, hạt đu đủ còn có tác dụng như một loại kháng sinh tự nhiên, giúp tiêu diệt môt số loại vi khuẩn gây bệnh.

BBT sưu tầm

 

Cách xử trí khi dính độc kiến ba khoang

Độc tố trong kiến ba khoang mạnh gấp 12-15 lần nọc rắn hổ; khi tiếp xúc với chất gây độc của kiến ba khoang, nếu không được điều trị kịp thời có thể dẫn đến những biến chứng nặng. Người dân cần biết cách xử trí nếu bị dính độc kiến ba khoang.

 

 

TS.BS Lê Ngọc Duy, Phụ trách Trung tâm Cấp cứu và Chống độc Bệnh viện Nhi Trung ương cho biết: Kiến ba khoang (một số nơi còn gọi là: Kiến khoang, kiến kim, kiến lác, kiến gạo, kiến cong…) là loài côn trùng có màu là các khoang đen – vàng cam xen kẽ, có thân mình thon, dài như hạt thóc, bay và chạy rất nhanh. Chất độc trong cơ thể kiến ba khoang có thể làm tổn thương da người như: Bỏng da, viêm da nếu chất này được giải phóng ra khi kiến bị tác động hoặc bị chà sát, bị giết.

Độc tố trong kiến ba khoang mạnh gấp 12-15 lần nọc rắn hổ, khi tiếp xúc với chất gây độc của kiến ba khoang nếu không được điều trị kịp thời có thể dẫn đến những biến chứng nặng.

Viêm da do kiến ba khoang thường khỏi nhanh trong vòng 1 tuần nếu xử trí đúng cách. Tuy nhiên, người bệnh chỉ nên rửa nhẹ nhàng tại nơi tiếp xúc bằng nước muối sinh lý (9‰) ngay lúc vừa tiếp xúc để trung hòa hoặc giảm bớt các yếu tố dị ứng, kích ứng da, sau đó đến cơ sở y tế để khám và điều trị kịp thời, không nên tự điều trị để tránh các biến chứng nặng hơn.

Khi bị chất độc của kiến ba khoang dính vào da, người dân cần xử trí như sau:

- Nhanh chóng bôi hồ nước (có bán ở các hiệu thuốc).

- Những ngày sau đó, tùy vào mức độ bị kiến đốt người bị dính độc kiến ba khoang có thể được bác sĩ kê sử dụng một số loại thuốc bên cạnh việc bôi hồ nước đều đặn như: Khi nốt ban đỏ bị chuyển sang nốt mụn mủ, phồng rộp lên, người bệnh dùng thêm mỡ Oxyde kẽm, mỡ kháng sinh để bôi lên da; nếu vết đốt có dấu hiện lở loét, nhiễm khuẩn, bị rỉ mủ, bôi thêm dung dịch xanh metilen 1%. 

Khi vô tình tiếp xúc với kiến ba khoang cần xử trí ngay:

- Không nghiền nát, chà xát kiến khi thấy kiến ba khoang đậu hoặc bò lên người để tránh độc tố tiết ra.

- Khi bị dính chất độc, người dân tránh gãi hay chà mạnh vùng da bị tổn thương; không tiếp xúc các vùng da lành với nơi bị dính độc tố.

- Rửa sạch vết thương, chỗ tiếp xúc, nhất là ở vùng mắt càng nhanh càng tốt khi bị dính chất độc, bôi thuốc, dùng thuốc theo chỉ dẫn của bác sĩ.

- Nếu lỡ dùng bàn tay đập chết kiến ba khoang cần ngay lập tức rửa sạch bằng xà phòng, càng sớm càng tốt, để tránh độc tố kiến dính vào.

- Khi da bị tổn thương tấy đỏ, lan rộng phải đi khám, không nên tự ý mua thuốc điều trị, bởi trong các loại thuốc bôi ngoài da có chứa Corticoid, chất giải độc tố… nên cần có bác sĩ chỉ định mới được dùng.

BBT sưu tầm


TIN HOẠT ĐỘNG

Hợp tác ứng dụng chuyển giao công nghệ với Tập đoàn Mỹ Lan

Vừa qua, đồng chí Đặng Huy Hậu, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh làm việc với Tập đoàn Mỹ Lan (Trà Vinh) nghe báo cáo ý tưởng đầu tư, kinh doanh trong lĩnh vực Nông nghiệp và một số lĩnh vực khác. Buổi làm việc còn có lãnh đạo các Sở, ngành và một số doanh nghiệp, Hợp tác xã trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.

Tại cuộc họp, Tập đoàn Mỹ Lan đã giới thiệu một số ứng dụng khoa học công nghệ trong lĩnh vực Nông nghiệp, công nghiệp thực phẩm và phục vụ du lịch. Sau khi nghe trình diễn, giới thiệu của Tập đoàn và ý kiến tham gia của các Sở, ngành, doanh nghiệp và Hợp tác xã, đồng chí Đặng Huy Hậu, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh đã chỉ đạo đưa các sản phẩm vào thực tiễn sản xuất, kinh doanh  tại Quảng Ninh bởi đây là những sản phẩm có giá trị, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh cho các doanh nghiệp.

Theo đó, yêu cầu các Sở: Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Sở KH&CN, Ban xây dựng Nông thôn mới, Sở du lịch thực hiện các nhiệm vụ cụ thể. Trong đó, giao Sở KH&CN: phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tập đoàn Mỹ Lan xây dựng Kế hoạch thí điểm ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật (trừ lĩnh vực nông nghiệp thuộc kế hoạch do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng) của Tập đoàn Mỹ Lan trong quá trình triển khai thực hiện kế hoạch.

Thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh theo kết luận của đồng chí Đặng Huy Hậu, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh, Sở KH&CN đã chỉ đạo cụ thể phòng Quản lý khoa học và Trung tâm Ứng dụng và Thống kê KH&CN (thuộc Sở) triển khai thực hiện nhiệm vụ theo đúng chỉ đạo của UBND tỉnh. Trong đó, có nội dung “Xây dựng Kế hoạch thí điểm ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật của Tập đoàn Mỹ Lan; báo cáo UBND tỉnh trong tháng 8 năm 2020. Từ đó tổng kết, đánh giá nhân rộng mô hình.

Hương Anh

Sở KH&CN được nhận bằng khen của UBND tỉnh về 10 năm công tác cải cách hành chính giai đoạn 2011-2020

          Những năm qua, Đảng ủy, Lãnh đạo Sở KH&CN đã thể hiện sự quyết tâm và chỉ đạo quyết liệt công tác CCHC, xác định công tác CCHC là nhiệm vụ thường xuyên, trọng tâm, trọng điểm nhằm tăng cường trách nhiệm của các cá nhân, đơn vị và người đứng đầu đơn vị. Tất cả các nhiệm vụ cụ thể trong CCHC đều được Sở quan tâm chỉ đạo thực hiện nghiêm túc và hiệu quả, tạo được những chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong toàn đơn vị về vị trí, tầm quan trọng của công tác CCHC.

          Để nâng cao hiệu quả công tác quan trọng này, một trong những nhiệm vụ trọng tâm KH&CN đã quan tâm thực hiện là cử cán bộ công chức có đủ năng lực trực tại Trung tâm Hành chính công tỉnh để giải quyết các TTHC và trả lời doanh nghiệp. Công tác cải cách thủ tục hành chính đã được lãnh đạo Sở chỉ đạo sát sao. Các phòng, đơn vị tích cực thực hiện rà soát, đơn giản hóa TTHC. Riêng năm 2019, Sở đã tiếp nhận và giải quyết tổng số 374 hồ sơ cho tổ chức, cá nhân tại Trung tâm phục vụ hành chính công tỉnh. Toàn bộ hồ sơ đều được giải quyết trước và đúng hạn, không có hồ sơ trễ hẹn. 100% TTHC của Sở đã được cung cấp dưới dạng dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 trên Cổng dịch vụ công trực tuyến của tỉnh. Tất cả các hồ sơ, thủ tục hành chính của Sở KH&CN tiếp nhận tại Trung tâm hành chính công đều được thực hiện theo nguyên tắc “Tiếp nhận, thẩm định và phê duyệt tại Trung tâm” để bảo đảm thuận tiện, công khai, minh bạch cho người dân và doanh nghiệp.

 Những kết quả đó đã góp phần xây dựng một nền hành chính trong sạch, hiện đại, minh bạch, thuận tiện và hiệu quả; nâng cao năng lực và trách nhiệm của cán bộ, công chức; lấy sự hài lòng của tổ chức và công dân làm thước đo hiệu quả của CCHC, đồng thời nâng tầm KH&CN trong phát triển KTXH của tỉnh Quảng Ninh.

          Với những đóng góp tích cực đó trong công tác CCHC của tỉnh giai đoạn 2011 – 2020, tập thể Sở KH&CN và cá nhân đồng chí Bùi Quang Minh, Phó giám đốc Sở vinh dự được đón nhận bằng khen của UBND tỉnh.

Hương Anh

Sở KH&CN: Rà soát giải quyết kiến nghị của doanh nghiệp

6 tháng đầu năm 2020, Sở KH&CN đã tiếp nhận, tổng hợp kiến nghị của 15 doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh thông qua các cuộc làm việc do Sở tổ chức. Các kiến nghị tập trung vào 2 nội dung chính: Đề nghị hỗ trợ, hướng dẫn doanh nghiệp chuyển đổi thành doanh nghiệp KH&CN; Khó tiếp cận các cơ chế, chính sách hỗ trợ hỗ trợ cho các doanh nghiệp KH&CN.

Hiện nay, các doanh nghiệp đang gặp khó khăn trong việc chứng minh có quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng kết quả khoa học và công nghệ hợp pháp. Nguyên nhân là do các doanh nghiệp áp dụng KH&CN vào sản xuất theo hình thức mua máy móc, thiết bị, bí quyết công nghệ đề được tích luỹ từ kinh nghiệm thực tiễn, không qua việc nhận hỗ trợ và thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp KH&CN rất lúng túng trong việc tiếp cận với các chính sách ưu đãi, do chưa hiểu đầy đủ nội dung ưu đãi được quy định tại các Nghị định của Chính phủ, Thông tư hướng dẫn của liên Bộ về doanh nghiệp KH&CN. Cũng bởi, một số chính sách chưa được cụ thể hoá trong quá trình thực hiện.

Sở KH&CN đã lựa chọn 18 doanh nghiệp có khả năng phát triển doanh nghiệp KH&CN, trong đó đã lựa chọn 10/18 doanh nghiệp tiềm năng nhất, tổ chức làm việc, hướng dẫn về thủ tục, hồ sơ xin chứng nhận doanh nghiệp KH&CN, chốt 8 doanh nghiệp có thể trở thành doanh nghiệp KH&CN, giao cán bộ, công chức chịu trách nhiệm hướng dẫn cụ thể từng doanh nghiệp…..Rà soát lại các kiến nghị của doanh nghiệp, tiếp tục bàn bạc, thống nhất giải pháp, phương án cụ thể …với kỳ vọng ngoài việc doanh nghiệp KH&CN được hưởng ưu đãi của nhà nước, còn nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp đối với sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.

Hương Anh

 

 

 

 

Trung tâm Ứng dụng và Thống kê KH&CN


Tìm kiếm theo chuyên mục - nội dung - ngày tháng

Tin Nóng
Tin tiêu điểm

Lịch công tác trống

Website liên kết
Thống kê truy cập
Hôm nay: 570
Đã truy cập: 978492