Bản tin khoa học và đời sống số tháng 4 năm 2020

24/04/2020 13:27

BẢN TIN KHOA HỌC VÀ ĐỜI SỐNG THÁNG 4 NĂM 2020

    CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH.. 

Chiến lược sở hữu trí tuệ đến năm 2030: Động lực phát triển tài sản trí tuệ. 

Đà tăng trưởng kinh tế của Việt Nam sẽ sớm quay trở lại 

Tăng cường quản lý phân bón, thuốc BVTV và phát triển, sử dụng phân bón hữu cơ. 

Các cơ sở sản xuất trên địa bàn huyện Hải Hà tuân thủ các biện pháp phòng chống dịch Covid-19  

Tăng cường hướng dẫn giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính qua dịch vụ công trực tuyến để phòng chống dịch bệnh Covid-19. 

NÔNG NGHIỆP. 

Phát huy tiềm năng trồng cây dược liệu ở Ba Chẽ. 

Đầm Hà: Hiện thực hóa mục tiêu trở thành vùng trọng điểm sản xuất nông nghiệp. 

Đưa VietGAP vào vùng sản xuất nông nghiệp tập trung. 

Giữ nhịp sản xuất trên các cánh đồng. 

NGƯ NGHIỆP. 13

Vân Đồn: Hỗ trợ nông dân tiêu thụ ngao, hàu. 

Tôm Việt sẽ vượt dịch thành công. 

LÂM NGHIỆP. 

Trồng rừng gỗ lớn - Hướng đi bền vững. 

"Tạo điều kiện thuận lợi nhất để người dân, doanh nghiệp tham gia thực hiện trồng rừng gỗ lớn"  

Xử lý thực bì không đốt: Phát triển rừng bền vững. 

Y TẾ.. 

Dịch tễ học hệ gene trong dịch COVID 19: Việt Nam cung cấp “vật liệu” cho thế giới 

Ghi nhận ở Trung tâm Y tế huyện Đầm Hà. 

BẠN NHÀ NÔNG.. 

Quảng Yên phát triển kinh tế từ mô hình nuôi chim bồ câu. 

Ba Chẽ: Nhiều mô hình thanh niên phát triển kinh tế. 

 

 

CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH

Chiến lược sở hữu trí tuệ đến năm 2030: Động lực phát triển tài sản trí tuệ

Với việc ban hành Chiến lược sở hữu trí tuệ (SHTT) đến năm 2030, hệ thống SHTT của Việt Nam được kỳ vọng sẽ có những bước tiến vượt bậc, tạo động lực thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo và phổ biến sản phẩm sáng tạo, qua đó làm giàu tài sản trí tuệ - một nguồn tài nguyên tạo nên nội lực quốc gia phục vụ trực tiếp cho sự phát triển bền vững.

Nhìn lại chặng đường phát triển gần 40 năm, có thể thấy hệ thống SHTT của Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng: có khung pháp lý SHTT phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế; một mạng lưới các cơ quan - tổ chức có chức năng thực thi pháp luật SHTT; số lượng tài sản trí tuệ (sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, giống cây trồng, tác phẩm văn học – nghệ thuật…) được tạo ra và bảo hộ không ngừng tăng lên, góp phần nâng cao giá trị tinh thần và vật chất cho xã hội; SHTT ngày càng được quan tâm. Tài sản trí tuệ đã trở thành một bộ phận không thể tách rời trong kết cấu giá trị của các doanh nghiệp cũng như của nền kinh tế. Số liệu thống kê cho thấy số lượng đơn, bằng sáng chế và giải pháp hữu ích của tổ chức, cá nhân Việt Nam tăng đều trong những năm gần đây (trung bình 9,86%/năm đối với đơn nộp và 20,05%/năm đối với bằng được cấp trong giai đoạn 2006-2018). Nhiều doanh nghiệp lớn đã sở hữu trong tay một số sáng chế và rất nhiều nhãn hiệu được bảo hộ độc quyền. Nhiều viện trường đã kết nối với doanh nghiệp để ứng dụng các sáng chế, giải pháp hữu ích vào hoạt động sản xuất, kinh doanh. Bên cạnh tài sản có trình độ sáng tạo cao là sáng chế, các tài sản trí tuệ khác như nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý cũng được các tổ chức, cá nhân quan tâm, đăng ký bảo hộ và đưa vào khai thác thương mại. Phần lớn doanh nghiệp đã nhận thức được tầm quan trọng của nhãn hiệu và chủ động đăng ký bảo hộ nhãn hiệu từ sớm. Các địa phương trong cả nước đều triển khai nhiều chương trình, dự án thúc đẩy sử dụng chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu chứng nhận hay nhãn hiệu tập thể, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế. Một số dấu hiệu tích cực như, trong khuôn khổ Chương trình phát triển tài sản trí tuệ giai đoạn 2016-2020, đã có gần 200 sản phẩm nông nghiệp chủ lực, đặc thù của địa phương được hỗ trợ đăng ký bảo hộ quyền SHTT và đưa vào sản xuất kinh doanh. Nhiều sản phẩm sau khi được bảo hộ đã được người tiêu dùng biết đến rộng rãi, uy tín sản phẩm được nâng cao, giá trị sản phẩm gia tăng đáng kể như cam Cao Phong, nước mắm Phú Quốc, vải thiều Lục Ngạn, bưởi Năm Roi Bình Minh. Tuy đạt được những nền tảng quan trọng như vậy, nhưng đánh giá một cách khách quan thì hoạt động SHTT vẫn chưa đáp ứng được đầy đủ các đòi hỏi ngày càng cao của sự phát triển kinh tế - xã hội, chưa thực sự phát huy vai trò động lực cho phát triển KH&CN và đổi mới sáng tạo. Số lượng tài sản trí tuệ của Việt Nam, đặc biệt là sáng chế chưa nhiều, giá trị tài sản còn nhỏ, chưa có nhiều sản phẩm trí tuệ mang tính đột phá và có giá trị cạnh tranh trong khu vực cũng như thế giới.

 

Để hệ thống SHTT phát triển toàn diện, hiệu quả, đáp ứng được các yêu cầu mới trong bối cảnh thúc đẩy kinh tế tri thức, phát triển bền vững, Chiến lược Sở hữu trí tuệ đến năm 2030 đã xác định nhiều mục tiêu và nhiệm vụ, giải pháp để thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển tài sản trí tuệ. Các giải pháp được đặt ra xuất phát từ việc phân tích 4 trụ cột chính của chu trình phát triển tài sản trí tuệ, đó là tạo ra (sáng tạo), xác lập quyền, khai thác (thương mại hóa) và bảo vệ quyền SHTT.

Theo Baokhoahocphattrien.vn

Đà tăng trưởng kinh tế của Việt Nam sẽ sớm quay trở lại

Theo dự báo của tổ chức Fitch Ratings (Fitch), đà tăng trưởng kinh tế của Việt Nam sẽ quay trở lại vào năm 2021, với mức tăng dự kiến là 7,3%.

Cơ sở để tổ chức Fitch Ratings điều chỉnh triển vọng tín nhiệm của Việt Nam từ tích cực sang ổn định phản ánh đánh giá của tổ chức này về tác động ngày càng lan rộng của đại dịch Covid-19 tới nền kinh tế toàn cầu, ảnh hưởng tiêu cực đến điều kiện tín dụng trên toàn thế giới, trong đó có Việt Nam, thông qua các kênh xuất khẩu, du lịch và sự giảm sút của tổng cầu.

Theo đại diện Bộ Tài chính, trong quá trình Bộ và các cơ quan liên quan làm việc với Fitch để đánh giá hệ số tín nhiệm quốc gia hồi cuối tháng 3, phía Việt Nam đã trao đổi và đưa ra những minh chứng thuyết phục về khả năng thích ứng của nền kinh tế được thể hiện rõ nét trong bối cảnh toàn cầu đầy thách thức như hiện nay.

Chuyên gia kinh tế, Nguyễn Minh Phong cho rằng, những giải pháp kịp thời của Chính phủ và sự nỗ lực của các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp đang mang lại hiệu quả trong bối cảnh hiện nay. Thực tế cho thấy, có nhiều cơ hội đang được mở ra đối với nhiều ngành, nghề, lĩnh vực có thế mạnh của nước ta. Những “kịch bản” hồi phục kinh tế ngay sau dịch Covid-19 đang được xây dựng ngay trong tuần tới sẽ xác định rõ những giải pháp để kinh tế Việt Nam có thể nhanh chóng vượt qua giai đoạn khó khăn này.

“Kết quả xếp hạng tín nhiệm của Fitch cho thấy, Việt Nam vẫn giữ được uy tín trong cộng đồng quốc tế. Điều này dựa trên cơ sở chúng ta đã có một quá trình phát triển trong những năm vừa rồi khá tốt. Nhất là có cải thiện đáng kể về cân đối ngân sách, dự trữ ngoại hối, các hoạt động về tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, giữ ổn định kinh tế vĩ mô và hệ thống tài chính trong nước. Bên cạnh đó, Việt Nam có triển vọng về thu hút đầu tư nước ngoài cũng như thúc đẩy phát triển kinh tế trong nước, kinh tế tư nhân. Hy vọng, sau dịch Covid-19, những nội lực và sức nén của nền kinh tế sẽ được giải phóng để đạt được mức tăng trưởng cao trên 7%, như Fitch dự báo”, TS. Nguyễn Minh Phong nói.

Trong bối cảnh dịch bệnh diễn biến phức tạp, khó lường như hiện nay, việc Fitch xác nhận giữ nguyên bậc tín nhiệm quốc gia ở mức BB phản ánh nhận định các điểm sáng về tín dụng của Việt Nam ít bị ảnh hưởng, trong đó bao gồm tiềm năng phát triển vững chắc trong trung hạn, môi trường kinh tế vĩ mô tiếp tục được duy trì ổn định. Nợ Chính phủ được kiểm soát ở mức thấp và khả năng tiếp cận nguồn tài chính đối ngoại thuận lợi hơn so với các quốc gia cùng nhóm xếp hạng. Tổ chức này đánh giá cao việc Việt Nam đã tận dụng điều kiện kinh tế thuận lợi trong những năm qua để củng cố tình hình tài khóa và tích lũy dự trữ ngoại hối, góp phần tăng mức đệm dự phòng trước những rủi ro vĩ mô.

Theo chuyên gia kinh tế Nguyễn Trí Hiếu, có nhiều lý do để tin rằng, sau dịch bệnh, kinh tế của Việt Nam sẽ bật tăng trở lại. Việt Nam đang kiểm soát tốt dịch bệnh Covid-19, nhưng việc tăng trưởng kinh tế 6,8% như mục tiêu đề ra là rất khó đạt được.

Về dự báo của Fitch về đà tăng trưởng kinh tế của Việt Nam sẽ quay trở lại vào năm 2021, với mức tăng trưởng dự kiến là 7,3%, ông Nguyễn Trí Hiếu cho rằng, điều này còn phụ thuộc vào một số yếu tố. Nếu dịch bệnh sớm kết thúc, thị trường thế giới thuận lợi thì mới có thể đạt được vì nước ta phụ thuộc nhiều vào xuất nhập khẩu.

“Hàng trăm quốc gia hiện tại đang bị ảnh hưởng nặng nề bởi dịch Covid-19. Các nền kinh tế lớn trên thế giới, kể cả Mỹ cũng bị tác động rất mạnh. Tôi đồng ý với Fitch là sau dịch bệnh, nền kinh tế của Việt Nam sẽ tăng trưởng bật lại. Tuy nhiên, mức tăng trưởng đạt 7,3% vào năm sau thì quá lạc quan”, TS. Nguyễn Trí Hiếu cho hay.

Ông Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa thành phố Hà Nội cho biết, với những gói hỗ trợ kịp thời của Chính phủ, các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên cả nước nói chung và của Thủ đô Hà Nội nói riêng đang có thêm những nguồn lực để vượt qua giai đoạn khó khăn do dịch bệnh.

Nhìn một cách tổng thể, Việt Nam đang thực hiện có hiệu quả về an ninh tiền tệ cũng như trật tự an toàn xã hội, do vậy, rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài với những dự án FDI tiếp tục được triển khai trong năm nay và năm 2021. Cơ hội tiếp tục được mở ra trong thời gian tới. Nếu tận dụng tốt, việc tăng trưởng kinh tế ở mức trên 7% trong năm 2021 là khả quan.

“Cộng đồng doanh nghiệp của Thủ đô và cả nước đang tận dụng tốt các chính sách, đặc biệt là Chỉ thị số 11 của Thủ tướng Chính phủ. Ngoài việc kinh doanh an toàn, các doanh nghiệp đang chuyển đổi mô hình kinh doanh từ mô hình truyền thống sang mô hình kinh doanh trên nền tảng số. Hiện nay, đối với cộng đồng doanh nghiệp đang tận dụng nguồn vốn, các giải pháp tài chính, việc miễn giảm các loại thuế, phí và đầu tư vào những ngành mũi nhọn theo định hướng, cũng như các thế mạnh, các ngành nghề chủ lực mà các doanh nghiệp đang kinh doanh trong thời gian vừa qua”, ông Mạc Quốc Anh nói.

Đánh giá của Ngân hàng Phát triển Châu Á cũng cho thấy, các yếu tố thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - tầng lớp trung lưu đang phát triển và khu vực tư nhân năng động, đáng chú ý là kinh tế hộ gia đình và các doanh nghiệp tư nhân của nước ta vẫn đang phát triển mạnh.  Bên cạnh đó, môi trường kinh doanh tiếp tục cải thiện. Giải ngân đầu tư công được cải thiện đáng kể, tăng gần 18% trong giai đoạn tháng 1-2 năm 2020 so với cùng kỳ năm 2019. Giải ngân sẽ tiếp tục được cải thiện trong năm 2020 vì đây là một trong các biện pháp tài khóa ưu tiên để ứng phó với dịch Covid-19. Số lượng lớn các hiệp định thương mại song phương và đa phương mà Việt Nam tham gia hứa hẹn tăng cường việc tiếp cận thị trường cho Việt nam, đây là yếu tố thiết yếu cho sự phục hồi kinh tế sau Covid-19./.

Theo Thành Trung/VOV.VN

Tăng cường quản lý phân bón, thuốc BVTV và phát triển, sử dụng phân bón hữu cơ

Ngày 9/4, UBND tỉnh đã ban hành Chỉ thị số 06/CT-UBND về việc tăng cường quản lý, sử dụng hợp lý phân bón, thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) và phát triển, sử dụng phân bón hữu cơ.

Theo đó, UBND tỉnh giao Sở NN&PTNT chủ trì, phối hợp với các sở, ban, ngành, địa phương thực hiện tốt những nhiệm vụ sau: Tăng cường thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra, đặc biệt là công tác thanh tra, kiểm tra đột xuất; xử lý nghiêm, đình chỉ, dừng hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc thu hồi giấy chứng nhận đủ điều kiện buôn bán đối với các tổ chức, cá nhân không chấp hành các quy định của pháp luật trong sản xuất, kinh doanh phân bón, thuốc BVTV, thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng; tiếp nhận, theo dõi, kiểm tra, giám sát công bố hợp quy phân bón của các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh phân bón.

Đồng thời, chỉ đạo các cơ quan chuyên môn trực thuộc phối hợp với các địa phương, các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực trồng trọt, đẩy mạnh phát triển và sử dụng phân bón hữu cơ, thuốc BVTV sinh học, thảo mộc; xây dựng mô hình sản xuất - sử dụng phân bón hữu cơ, thuốc BVTV sinh học, thảo mộc để áp dụng nhân rộng trên địa bàn tỉnh; đẩy mạnh, ứng dụng quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) trên cây trồng tại các vùng sản xuất nông nghiệp của tỉnh. Hàng năm, tổ chức các lớp đào tạo, tập huấn, hướng dẫn các văn bản quy phạm pháp luật trong quản lý, sử dụng phân bón, thuốc BVTV cho cán bộ, chuyên viên được giao nhiệm vụ quản lý về vật tư nông nghiệp của cấp huyện, cấp xã, người sản xuất trồng trọt và các cơ sở sản xuất, kinh doanh, buôn bán phân bón, thuốc BVTV trên địa bàn tỉnh.

Sở NN&PTNT phối hợp với Trung tâm Truyền thông tỉnh đẩy mạnh tuyên truyền các điển hình, tiên tiến trong công tác quản lý nhà nước về phân bón, thuốc BVTV; thu gom, xử lý tiêu hủy vỏ bao gói thuốc BVTV sau sử dụng và phát triển, sử dụng phân bón hữu cơ trên địa bàn tỉnh.

Sở NN&PTNT định kỳ tổng hợp báo cáo kết quả triển khai thực hiện Chỉ thị về UBND tỉnh.

 Theo Baoquangninh.com.vn

Các cơ sở sản xuất trên địa bàn huyện Hải Hà tuân thủ các biện pháp phòng chống dịch Covid-19

 Thực hiện Chỉ thị số 16/CT-TTg của Thủ tướng chính phủ về các biện pháp cấp bách trong phòng chống dịch Covid 19, huyện Hải Hà đã thực hiện cách ly toàn xã hội trên phạm vi toàn huyện; trong đó quy định đối với các phân xưởng nhà máy phải đảm bảo khoảng cách an toàn, đeo khẩu trang, thực hiện khử trùng diệt khuẩn theo quy định. Hiện nay 100% các phân xưởng nhà máy đang thực hiện sản xuất trên địa bàn huyện đã thực hiện nghiệm các quy định phòng chống dịch bệnh.

         Trong đó chủ động khử trùng, diệt khuẩn nhà máy, cơ sở sản xuất, bố trí công nhân làm việc đảm bảo khoảng cách an toàn từ 2m trở lên và thực nghiêm túc việc đeo khẩu trang vừa đảm bảo tốt công tác phòng chống dịch bệnh và không ảnh hưởng đến tình hình sản xuất. Ngoài ra cac chủ cơ sở sản xuất còn tuyên truyền tới người lao động luôn chủ động phòng dịch cho bản thân mình, gia đình mình, tích cực chung tay cùng với chính quyền địa phương đẩy lùi dịch bệnh Covid-19, ổn định đời sống, kinh tế, xã hội.

Theo haiha.quangninh.gov.vn

Tăng cường hướng dẫn giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính qua dịch vụ công trực tuyến để phòng chống dịch bệnh Covid-19

Để đảm bảo an toàn cho công dân khi đến giao dịch tại Trung tâm Hành chính công, huyện Hải Hà ra văn bản khuyến cáo công dân nếu chưa thực sự cần thiết đề nghị tạm thời lùi thời gian giải quyết thủ tục hành chính sau ngày 15/4/2020. Để tăng cường các biện pháp phòng chống dịch bệnh Covid-19 nhất là trong thời điểm này, khi mà dịch bệnh đang diễn biến phức tạp.

 

Theo đó, các thủ tục hành chính liên quan đến lĩnh vực đất đai, xây dựng, đăng ký kinh doanh, tư pháp, công thương, y tế, nông nghiệp... có thể nộp hồ sơ qua dịch vụ công trực tuyến tại địa chỉ: http://dichvucong.quangninh.gov.vn/ hoặc qua dịch vụ bưu chính công ích, hạn chế trực tiếp đến trung tâm. Trường hợp cần thiết phải đến giao dịch trực tiếp tại trung tâm, phải đăng ký đặt lịch hẹn trước qua số điện thoại: 02033.762.365. Các thủ tục hành chính liên quan đến lĩnh vực bảo hiểm xã hội, công dân liên hệ số điện thoại 0368.039.071; thủ tục hành chính liên quan đến lĩnh vực điện lực, công dân liên hệ số điện thoại: 1900 6769 cung cấp thông tin để được hướng dẫn và giải quyết kịp thời. Tạm thời dừng tiếp nhận hồ sơ thủ tục hành chính lĩnh vực cấp nước sạch tại trung tâm, khách hàng có nhu cầu lắp đặt đấu nối sử dụng nước sạch liên hệ số điện thoại: 190054 5520.

Cùng với đó, Trung tâm Hành chính công Hải Hà sẽ sắp xếp lịch hẹn không quá 10 người trên một lượt giao dịch. Trước đó, để đảm bảo cho công dân đến giao dịch Trung tâm Hành chính công Hải Hà đã thực hiện phát khẩu trang, sát trùng tay, kiểm tra thân nhiệt và khai báo y tế cho công dân trước khi vào trụ sở trung tâm. Không tập trung quá 10 người trong khu vực trung tâm, giữ khoảng cách với người bên cạnh ít nhất 2m.

Theo haiha.quangninh.gov.vn

NÔNG NGHIỆP

Phát huy tiềm năng trồng cây dược liệu ở Ba Chẽ

Với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng thuận lợi, huyện Ba Chẽ có nhiều tiềm năng, thế mạnh để phát triển các loại cây dược liệu đặc hữu, giá trị kinh tế cao. Thực tế, huyện đã và đang triển khai nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ cây trồng này, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân.

Ba Chẽ có trên 56,6ha đất rừng, có điều kiện thuận lợi phát triển ngành lâm nghiệp, trồng và chế biến dược liệu. Từ lâu, nguồn tài nguyên rừng của Ba Chẽ được đánh giá là độc đáo, mức độ đặc hữu cao, còn chưa khám phá hết. Theo kết quả thống kê cho thấy, trong tổng số 1.027 loài thực vật ở Ba Chẽ, có tới 30 loài dược liệu có giá trị cao, như: Ba kích, trà hoa vàng, nấm lim xanh, cát sâm... Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, nguồn tài nguyên vô giá này đang bị cạn kiệt, suy giảm thành phần loài. Mặt khác, diện tích rừng tự nhiên cũng dần bị thu hẹp, dẫn đến nơi sinh sống của các loài đặc hữu, dược liệu quý bị đe dọa.

Nhằm bảo tồn và phát huy tiềm năng, thế mạnh của các loại cây dược liệu thế mạnh, những năm qua, huyện Ba Chẽ đã tiến hành hỗ trợ giống, vốn, cùng các ưu đãi đến các hộ dân, doanh nghiệp trên địa bàn. Nhờ đó, đến nay, tổng diện tích trồng dược liệu trên địa bàn huyện hiện đã đạt 896ha, gồm: Ba kích 112ha, trà hoa vàng 177ha, cát sâm 6,5ha, đẳng sâm 0,2ha, sâm cau đỏ 0,3ha, quế 600ha; sản lượng bình quân đạt 114,7 tấn dược liệu các loại/năm. Cùng với đó, đến nay toàn huyện có 4 doanh nghiệp, hợp tác xã và tổng số 760 hộ dân tham gia trồng và chế biến dược liệu.

Gia đình anh Tô Văn Hiền, ở khu 7, thị trấn Ba Chẽ là một trong những hộ dân đầu tiên tham chương trình phát triển cây dược liệu trà hoa vàng của địa phương. Tham gia chương trình anh được huyện hỗ trợ tiền mua cây giống, phân bón, hỗ trợ kỹ thuật và hỗ trợ tìm đầu ra cho sản phẩm. Đến nay, gia đình anh đã trồng được trên 4.000 gốc trà hoa vàng với tổng diện tích gần 2ha. Trong mùa thu hoạch, mỗi ngày gia đình anh thu hoạch được từ 3-4kg trà hoa vàng tươi, thu nhập từ 3-4 triệu đồng/ngày. Trò chuyện với chúng tôi anh Hiền chia sẻ: Tham gia chương trình phát triển cây trà hoa vàng, đến nay cuộc sống của gia đình tôi ngày càng ổn định, khấm khá hơn. Tuy nhiên, cái khó nhất của các hộ trồng trà hoa vàng chúng tôi hiện nay là tìm đầu ra ổn định cho sản phẩm. Bởi, hoa của loại cây này đến kỳ thu hoạch, khi hái về không thể bảo quản được lâu. Trong khi đó máy móc, kỹ thuật để sấy khô hoa trà đòi hỏi vốn đầu tư lớn, nên người dân không đáp ứng được. Do đó, tôi mong rằng địa phương tiếp tục quan tâm, hỗ trợ các doanh nghiệp thực hiện thu mua, bao tiêu sản phẩm đầu ra cho người dân. Ngoài việc phát triển vùng trồng cây nguyên liệu, Ba Chẽ tích cực hỗ trợ phát triển sản xuất, chế biến một số loại cây dược liệu thành sản phẩm hàng hóa, sản phẩm OCOP. Huyện đã ưu tiên dành nguồn ngân sách lớn hỗ trợ các đơn vị chế biến dược liệu trên địa bàn về KHCN, cải tiến mẫu mã sản phẩm. Trong đó, hỗ trợ 110 triệu đồng trang bị máy sấy, máy đóng gói và giao quản lý khu ươm giống cây trà hoa vàng quy mô trên 1ha... cho Công ty CP Kinh doanh lâm sản Đạp Thanh; hỗ trợ HTX Kinh doanh dịch vụ lâm sản ngoài gỗ Ba Chẽ máy sấy trị giá 40 triệu đồng... Nhờ đó, nhiều sản phẩm dược liệu của huyện tham gia chương trình OCOP của tỉnh đã được đánh giá cao. Hiện có 9 đầu sản phẩm OCOP từ dược liệu, trong đó tiêu biểu và được đánh giá cao nhất là trà hoa vàng (đạt 5 sao), rượu ba kích và ba kích khô lần lượt đạt 4 và 3 sao. Huyện cũng đã hoàn thành đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tập thể “Sâm cau Ba Chẽ” và nhãn hiệu chứng nhận “Trà hoa vàng Ba Chẽ” tại Cục Sở hữu trí tuệ.

Phát huy những kết quả đạt được, trong thời gian tới, huyện Ba Chẽ sẽ tiếp tục tập trung ưu tiên ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong việc phát triển các sản phẩm từ cây dược liệu quý, để mang lại những sản phẩm có giá trị kinh tế cao. Đồng thời, chú trọng phát triển sản xuất an toàn, đem lại hiệu quả toàn diện cho người dân.

Theo baoquangninh.com.vn

Đầm Hà: Hiện thực hóa mục tiêu trở thành vùng trọng điểm sản xuất nông nghiệp

Với tinh thần chủ động, mạnh dạn trong đổi mới phương thức sản xuất, hiện trên địa bàn huyện Đầm Hà xuất hiện nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp tập trung, có quy mô lớn theo hướng sản xuất hàng hóa, đem lại thu nhập cao cho người nông dân. Qua đó, từng bước hiện thực hóa mục tiêu đưa Đầm Hà sớm trở thành vùng trọng điểm sản xuất, chế biến, cung cấp nông sản của tỉnh.

Cuối năm 2015, nhận thấy nhu cầu về con giống có chất lượng cao của người dân địa phương là rất lớn, anh Nguyễn Văn Tuyền (thôn Tân Hòa, xã Quảng Tân) mạnh dạn thế chấp vay ngân hàng hơn 1 tỷ đồng để đầu tư mở rộng diện tích chăn nuôi, xây dựng chuồng trại và mua sắm trang thiết bị máy móc. Sau khi tự mày mò làm chủ công nghệ thụ tinh nhân tạo và bắt đầu ổn định việc cung cấp gà giống ra thị trường, anh Tuyền đã vận động 6 hộ trong thôn cùng tham gia thành lập HTX Tuyền Huyền, chuyên sản xuất gà giống và nuôi gà thương phẩm địa phương. Đến nay, HTX Tuyền Huyền có trang trại nuôi gà rộng gần 2ha, hàng năm cung cấp cho thị trường hơn 80.000 con gà giống và 30.000 con gà thương phẩm, doanh thu hơn 2 tỷ đồng/năm. Tháng 6/2019, giống gà bản Đầm Hà đã được Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu. Điều đáng nói là từ sự thành công của HTX Tuyền Huyền đã tạo động lực để người dân trên địa bàn huyện mạnh dạn thay đổi phương thức chăn nuôi từ nhỏ lẻ sang quy mô lớn. Chỉ tính riêng trên địa bàn xã Quảng Tân hiện đã có hàng chục trang trại chăn nuôi gà bản Đầm Hà với quy mô đàn từ 1.000 đến 1.500 con cho hiệu quả kinh tế cao. Từ địa phương chỉ có một vài trang trại chăn nuôi tập trung, đến nay, huyện đã có 59 trang trại chăn nuôi tập trung, quy mô lớn (chiếm gần 50% tổng đàn gia súc, gia cầm của huyện).

Trong lĩnh vực trồng trọt, nhiều HTX cũng đã mở rộng quy mô diện tích, ứng dụng KHCN để tập trung đầu tư phát triển các sản phẩm chủ lực có thương hiệu của địa phương như gạo Bao Thai, củ cải, đỗ tương, lạc... Điển hình như sản phẩm củ cải Đầm Hà, hiện diện tích trồng củ cải ở xã Đầm Hà, Quảng Lợi đã mở rộng trên 50ha, sản lượng khoảng 60-80 tấn/ha (tăng gấp 2 lần so với năm 2014). Hay như với sản phẩm gạo Bao Thai, nhận thấy sức tiêu thụ của gạo tại các hội chợ OCOP khá lớn, bên cạnh việc phục tráng giống lúa Bao Thai gen nguyên chủng, HTX Thương mại và Dịch vụ Tuấn Hùng đã thuê lại 15ha đất lúa của các hộ dân và đưa cơ giới hóa vào sản xuất. Năm 2019, năng suất lúa Bao Thai đã đạt 45 tạ/ha cao nhất trong các vụ mùa kể từ trước đến nay.

Để đáp ứng cho nhu cầu tiêu thụ sản phẩm nông sản sạch ngày càng tăng cao, năm 2019, Công ty CP Thương mại và Xây dựng Đầm Hà cũng đã tiến hành lắp đặt thêm 4.000m2 nhà màng, nâng tổng diện tích nhà màng đạt gần 18.000m2, đưa sản lượng rau, củ, quả có thể đạt trên 100 tấn/năm. Riêng đối với sản xuất thủy sản, Công ty CP Thủy sản Việt Úc hiện cũng đã hoàn thiện xong 14 trại giống và cung cấp ra thị trường được 1 tỷ con giống.

Song song với việc hỗ trợ, khuyến khích, thúc đẩy người dân và các doanh nghiệp phát triển, năm 2019 tiếp tục được cho là một năm thành công của huyện trong lĩnh vực nông nghiệp khi thu hút được nhiều doanh nghiệp, tập đoàn lớn quan tâm, đầu tư như: Chăn nuôi lợn công nghệ cao tại xã Dực Yên, của Công ty CP Nông nghiệp công nghệ cao Thái Bình Dương với công suất đàn lợn nái 2.400 con/năm; nông nghiệp công nghệ cao của Tập đoàn FLC tại xã Tân Bình và xã Quảng Lâm với diện tích khoảng 545ha, khu vực xã Dực Yên và xã Quảng An với diện tích khoảng 688ha... Khi những dự án này được triển khai, đi vào hoạt động, việc Đầm Hà trở thành vùng trọng điểm sản xuất nông nghiệp sẽ sớm trở thành hiện thực.

Theo Baoquangninh.com.vn

Đưa VietGAP vào vùng sản xuất nông nghiệp tập trung

Sau khi hoàn thành việc xây dựng các vùng sản xuất tập trung gắn với sản phẩm nông sản đặc trưng của địa phương, việc đảm bảo cho các thương hiệu này phát triển bền vững đang là mục tiêu lớn nhất của ngành Nông nghiệp. Một trong những giải pháp hàng đầu được ngành hướng đến là đưa quy trình sản xuất VietGAP vào những vùng sản xuất này.

Là vùng trồng cây ăn quả lớn nhất tỉnh với gần 2.600ha (chiếm khoảng 40% diện tích cây ăn quả toàn tỉnh), Đông Triều nổi tiếng với cây na, cây vải thiều, diện tích trồng lên tới gần 2.000ha, sản lượng đạt trên 1.950 tấn/năm. Đặc biệt là cây na dai, trong những năm trở lại đây, được người tiêu dùng ưa chuộng nên diện tích tăng khá nhanh, năm 2010, toàn thị xã mới có khoảng 400ha thì hiện đã tăng lên gần 1.000ha. Diện tích trồng na lớn, nhưng kỹ thuật chậm được cải tiến, dẫn đến cây bị suy thoái, dịch hại phát sinh nhiều, VSATTP trở nên khó kiểm soát. Do vậy năng suất cũng như chất lượng sản phẩm suy giảm và có nguy cơ đánh mất thương hiệu. Tình trạng này cũng xảy ra tương tự ở vùng trồng vải của thị xã và phường Phương Nam (TP Uông Bí). Sản lượng lớn, nhưng mùa vụ thu hoạch vải chỉ trong 20-30 ngày, đã tạo áp lực không nhỏ cho người trồng vải. Do chưa áp dụng các quy trình chuẩn trong trồng trọt, mỗi hộ dân lại có cách canh tác khác nhau, nên chất lượng sản phẩm không đồng đều, không đáp ứng được các tiêu chuẩn khắt khe của thị trường quốc tế. Vì vậy, vải thiều Đông Triều và vải chín sớm Phương Nam vẫn chủ yếu bán nội địa và thường bị ép giá khi được mùa.

Để nâng cao chất lượng của 2 sản phẩm chủ lực này và mang lại thu nhập cao cho người dân, năm 2018, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Sở NN&PTNT) đã triển khai thực hiện dự án “Sản xuất vải thiều, na Đông Triều và vải chín sớm Phương Nam theo quy trình VietGAP" trên diện tích 30ha. Tham gia dự án, các hộ dân được hỗ trợ 100% kinh phí đào tạo các lớp quản lý dịch hại tổng hợp; tập huấn, hướng dẫn quy trình, kỹ thuật chăm sóc, thu hoạch, bảo quản sản phẩm theo quy trình VietGAP; phổ biến kiến thức pháp luật về ATTP cho người dân; kinh phí khảo sát, lập sơ đồ giải thửa vùng triển khai VietGAP; lấy, phân tích mẫu đất, nước và mẫu sản phẩm xác định các chỉ tiêu đảm bảo ATTP; kinh phí thực hiện đánh giá, chứng nhận VietGAP; tổ chức tuyên truyền quảng bá sản phẩm..

Ông Phạm Văn Sự, Phó trưởng phòng Kinh tế TP Uông Bí, cho biết: Trước khi triển khai dự án, phần lớn các vườn vải phường Phương Nam trong tình trạng chăm sóc ở mức tối thiểu. Một số hộ dùng thuốc trừ cỏ hoặc các loại hóa chất chưa rõ nguồn gốc để xử lý ra hoa cho vải, đa số vườn vải sinh trưởng kém, năng suất thấp, người dân chưa có thói quen thực hiện ghi chép sổ sách truy xuất nguồn gốc. Tham gia dự án các hộ dân sản xuất tuân thủ theo đúng quy trình VietGAP, vì vậy 2 năm nay,  tổng lượng thuốc bảo vệ thực vật hóa học được sử dụng đã giảm trên 30% so với trước, từ đó đã làm giảm chi phí đầu vào trong quá trình sản xuất. Không chỉ nâng cao năng suất, giảm chi phí đầu vào, đánh giá của TX Đông Triều và TP Uông Bí cho thấy, giá trị trên một đơn vị sản phẩm vải thiều năm 2019 sau khi được chứng nhận VietGAP tăng ít nhất trên 35% so với trước. Thị trường tiêu thụ và hình thức tiêu thụ đã được mở rộng và đa dạng, nhất là tiêu thụ trên các sàn giao dịch điện tử.

Ông Nguyễn Trung Thành, Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, cho biết: Việc cấp giấy chứng nhận VietGAP thành công cho 30ha cây ăn quả ở Đông Triều và Uông Bí chính là tiền đề để nhân rộng ra hàng nghìn ha vải, na ở 2 địa phương này và các vùng sản xuất tập trung khác trên toàn tỉnh. Bên cạnh việc thúc đẩy sản xuất theo hướng VietGAP, hiện nay Chi cục đã xây dựng xong Đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ tỉnh Quảng Ninh, giai đoạn 2020-2025 và tầm nhìn đến năm 2030. Dự kiến, đến năm 2025 sẽ thực hiện chuyển đổi và tổ chức sản xuất nông nghiệp hữu cơ ngành trồng trọt lên 182ha. Đến năm 2030, thực hiện chuyển đổi và tăng diện tích sản xuất trồng trọt hữu cơ lên 460ha.

Theo Baoquangninh.com.vn

Giữ nhịp sản xuất trên các cánh đồng

Thực hiện song song hai nhiệm vụ chống dịch và tăng cường sản xuất để đảm bảo an ninh lương thực, thời gian này bà con nông dân trên địa bàn tỉnh đã nỗ lực khắc phục khó khăn vừa tăng gia đảm bảo sản xuất, vừa duy trì triển khai các biện pháp để phòng dịch Covid-19 hiệu quả.

Nông nghiệp là ngành rất đặc thù, tạo ra khối lượng lương thực đáp ứng cho nhu cầu của mỗi người dân. Nếu sức sản xuất không tốt, không duy trì được sản lượng ổn định trong bối cảnh dịch Covid-19 thì vấn đề cân đối lương thực, thực phẩm rất khó khăn. Những ngày qua, trước diễn biến phức tạp của dịch Covid-19, các vùng sản xuất nông nghiệp trong tỉnh đang tập trung các biện pháp duy trì sản xuất và phòng, chống dịch. 

Tại TX Quảng Yên, vụ đông - xuân năm nay (từ tháng 11/2019 đến tháng 4/2020) diện tích trồng rau của toàn thị xã đạt 1.700ha. Trong đó, địa phương đang duy trì diện tích trồng khoảng 400ha. Hệ số quay vòng đất trồng rau 4-5 lần/năm. Riêng vùng trồng rau an toàn thị xã duy trì hơn 186ha (Tiền An 137ha, Cộng Hòa 49ha).

Để chủ động các biện pháp ổn định sản xuất, nhằm đảm bảo cung ứng rau xanh, nhất là nguồn rau an toàn cho thị trường trong mùa dịch Covid-19, TX Quảng Yên đang vận động các hộ trồng rau tiếp tục tham gia vào các mô hình liên kết và tiêu thụ rau an toàn cho các doanh nghiệp. Bên cạnh đó, địa phương còn chủ động xây dựng phương án sản xuất, đúng cơ cấu mùa vụ, đảm bảo năng suất, chất lượng đầu ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường. Những ngày qua, bà con nông dân tại các vùng chuyên canh rau trên địa bàn TX Quảng Yên vẫn cần mẫn bám đồng ruộng để sản xuất cùng với áp dụng các giải pháp đảm bảo an toàn trong mùa dịch Covid-19 . Thời điểm này, hơn 4 sào rau của gia đình bà Nguyễn Thị Nghiện, thôn Đống Vông, phường Cộng Hoà, đang vào vụ thu hoạch. Mỗi ngày cũng mang về cho gia đình từ 300.000-350.000 đồng.

Tại TX Đông Triều, trong vụ này tổng diện tích gieo trồng của cả thị xã là 5.200ha, trong đó diện tích lúa là trên 4.200ha, diện tích cây màu khoảng 1.000ha. Thực hiện cơ cấu giống canh tác, bà con nông dân đã thay thế một số giống cây dài ngày, năng suất thấp, kém hiệu quả bằng các giống lúa ngắn ngày, năng suất cao, chất lượng tốt. Thời điểm hiện tại, diện tích lúa trên địa bàn đang bước vào giai đoạn đẻ nhánh rộ; một số trà lúa sớm bắt đầu trỗ bông, đây là thời kỳ mẫn cảm nhất với sâu bệnh. Đối với các doanh nghiệp, HTX sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn TX Đông Triều đang tăng cường công tác phòng, chống dịch cùng với duy trì hoạt động sản xuất. Bà Bùi Thị Thể, Giám đốc Công ty CP Đầu tư xây dựng và thương mại 188, cho biết: Trong quá trình sản xuất Công ty đã tiến hành phun khử khuẩn và thực hiện các biện pháp đeo khẩu trang, giữ khoảng cách phòng dịch đối với người lao động. Hàng ngày, Công ty đảm bảo cung ứng ổn định ra thị trường trên 5 tạ rau, củ, quả các loại phục vụ cho nhu cầu của người tiêu dùng. Cùng với người sản xuất nông nghiệp TX Quảng Yên, TX Đông Triều, trước những diễn biến phức tạp của Covid-19, dù khó khăn trong quá trình tiêu thụ, nhưng khắp các vùng sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh, người dân vẫn lạc quan, nỗ lực để gia tăng sản xuất, đáp ứng nhu cầu của thị trường, không để dịch bệnh ảnh hưởng quá lớn đến sự phát triển kinh tế. 

Trong thời gian này, ngành Nông nghiệp tỉnh cũng chủ động khuyến cáo nông dân trên địa bàn tỉnh ngoài việc duy trì sản xuất để đảm bảo an ninh lương thực, cần thực hiện nghiêm các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19; nghiên cứu, điều chỉnh một số loại cây trồng, vật nuôi phù hợp với nhu cầu thị trường; nâng cao chất lượng sản phẩm để đưa nông sản vào tiêu thụ tại các hệ thống siêu thị; chú trọng hơn đến khâu bảo quản, chế biến nông sản...

Theo Baoquangninh.com.vn

NGƯ NGHIỆP

Vân Đồn: Hỗ trợ nông dân tiêu thụ ngao, hàu

Để hỗ trợ nông dân tiêu thụ hải sản, Công ty TNHH Thanh Tùng, HTX Thủy sản Vân Đồn, LĐLĐ huyện Vân Đồn đã phối hợp tìm thị trường tiêu thụ ngao, hàu cho người dân ở Vân Đồn.

Các đơn vị đã ký hợp đồng với Công ty Tuyển than Cửa Ông – TKV tiêu thụ 3,5 tấn ruột ngao hai cùi, tương đương với 25 tấn ngao vỏ. Trước đó, các đơn vị cũng đã hoàn thiện các đơn hàng cho một số đơn vị ngành Than, qua đó đã hỗ trợ tiêu thụ được gần 60 tấn ngao, hàu. Ông Phạm Quang Tùng, Giám đốc Công ty TNHH Thanh Tùng, cho biết: “Chúng tôi cũng đang tiếp tục phối hợp với Hội Doanh nhân trẻ tỉnh Quảng Ninh, CLB Khởi nghiệp của tỉnh, tổ chức hội trên địa bàn để mở rộng thị trường tiêu thụ cho bà con ngư dân”.

Theo ông Nguyễn Quang Ninh, Phó trưởng Phòng NN&PTNT huyện Vân Đồn: “Đến thời điểm hiện tại, huyện Vân Đồn đã tiêu thụ được khoảng 135 tấn ngao, hàu. Dự kiến sản lượng ngao, hàu nuôi tại Vân Đồn sẽ cho thu hoạch từ nay đến cuối năm là khoảng 37 nghìn tấn. Lâu nay, sản lượng này của địa phương chủ yếu xuất bán sang thị trường nước ngoài, nhưng do ảnh hưởng của dịch, nên từ đầu năm đến nay, các đối tác nước ngoài đã dừng nhập sản phẩm, cộng với tiêu thụ thị trường nội địa giảm mạnh khiến cho sản lượng thủy hải sản bị ùn ứ. Nếu không có giải pháp hữu hiệu trong việc hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm thủy hải sản nuôi trồng, thì nhiều người dân ở Vân Đồn sẽ bị thua lỗ nặng”.

Ngân Hà  (Trung tâm TT-VH Vân Đồn)

Tôm Việt sẽ vượt dịch thành công

Dịch Covid-19 tác động đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, trong đó có ngành tôm Việt Nam. Vậy giá tôm năm 2020 sẽ như thế nào, đây là vấn đề đang nhận được nhiều sự quan tâm, song lại khó đoán định.

Dự kiến nguồn cung giảm mạnh

Tính đến hết tháng 2/2020, XK tôm Việt Nam tăng nhẹ 2,6%, đạt 383 triệu USD, chủ yếu do thị trường Nhật Bản, Mỹ, Hàn Quốc vẫn chưa bị biến động nhiều từ dịch Covid-19. Từ tháng 3/2020, dịch bệnh đã lây lan trên toàn thế giới, các nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất là: Italy, Tây Ban Nha, Đức... Một số DN XK tôm Việt Nam sang thị trường này bị hoãn, hoặc dừng đơn hàng.

Theo đánh giá của ông Gorjan Nikolik - chuyên gia phân tích tại Rabobank, dịch Covid-19 đã ảnh hưởng tới hoạt động nuôi trồng, thương mại tôm của một số thị trường nguồn cung lớn trên thế giới như: Ecuador, Ấn Độ, Indonesia, Thái Lan… và cả Việt Nam. Dự báo, tình hình cung tôm năm 2020 trên phạm vi toàn cầu giảm mạnh so với năm trước.

Phân tích về vấn đề này, TS. Hồ Quốc Lực - Nguyên Chủ tịch Hiệp hội Chế biến và XK thủy sản Việt Nam (VASEP) - cho hay, Trung Quốc và Ấn Độ đang phong tỏa quy mô quốc gia. Điều này khiến chuỗi cung ứng tôm bị gián đoạn. Khả năng hai quốc gia này giảm sản lượng tôm rất lớn, khoảng 20%. Nếu dịch Covid-19 kéo dài hết quý II, mức sụt giảm sẽ cao hơn. Các quốc gia Indonesia, Ecuador, Thái Lan cũng bị ảnh hưởng bởi Covid-19, nhưng mức độ nhẹ hơn, riêng Ecuador đang giới nghiêm vì dịch bệnh lây lan khá phức tạp sẽ tác động đến nuôi trồng và chế biến. Việt Nam, tuy có nửa tháng phong tỏa xã hội, nhưng về tâm lý cũng làm người nuôi tôm lo âu về đầu ra.

Nhiều yếu tố tác động lên giá tôm

Hồ Quốc Lực cho hay, theo dự báo, thông lệ hàng năm, tới đầu mùa mưa thời tiết luôn chuyển mát dịu, tác động tích cực tới sự sinh trưởng tôm nuôi. Tuy nhiên, ngành tôm đang chịu tác động bởi yếu tố thời tiết. TS. Hồ Quốc Lực cho hay, thời tiết khắc nghiệt, biên độ nhiệt độ giữa ngày và đêm là 10 độ, dễ gây sốc cho con tôm, tôm dễ bị nhiễm bệnh, khiến người nuôi tôm chần chừ thả nuôi giai đoạn hiện nay. Sóc Trăng là tỉnh có diện tích nuôi tôm thâm canh lớn nhất nước với gần 25.000 ha, đến thời điểm này diện tích thả nuôi mới đạt gần 15%.

Việc thả giống tôm nuôi chậm lại, khiến giá tôm trong nước sẽ biến động hình sin do thiếu hụt cục bộ, nhất là giai đoạn từ tháng 5. Hiệu ứng domino này khiến các nhà máy chế biến sẽ có khoảng thời gian thiếu hụt nguyên liệu, dẫn tới giá tôm tươi thất thường, tình trạng “đắt đồng, ế chợ” có thể diễn ra...

Yếu tố cầu phù thuộc vào diễn biến của dịch Covid-19. Nếu dịch kéo dài, người dân phải tiết kiệm mọi chi tiêu, dẫn đến sức tiêu thụ càng giảm, kể cả thực phẩm thiết yếu. Tôm nằm trong phân khúc những mặt hàng thủy sản giá trị cao, nên chủ yếu XK sang những thị trường có nền kinh tế phát triển như Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc… Khi những thị trường này gặp khó thì việc chuyển hướng thị trường không dễ.

Theo ông Trương Đình Hòe – Phó Tổng Thư Ký VASEP, những tháng đầu năm, sản lượng tôm của Việt Nam còn ít do chưa vào chính vụ, nếu dịch bệnh chấm dứt sớm sẽ thuận lợi cho ngành tôm trong nước. Theo đó, dịch Covid- 19 lắng xuống trong quý II/2020, nhu cầu tôm trở lại bình thường, giá tôm sẽ tăng theo. Kịch bản khó khăn nhất là dịch bệnh kéo dài, sức cầu giảm, giá tôm không tăng nhưng cũng không giảm nhiều vì nguồn cung giảm.

Theo các DN, tôm là thực phẩm giàu dinh dưỡng và được người tiêu dùng thế giới khá ưa chuộng. Do đó, việc ưu tiên sử dụng sản phẩm này sau khi dịch bệnh lắng xuống sẽ rất cao, các DN cần tăng cường chế biến các sản phẩm ăn liền.

Theo Nguyễn Hạnh/congthuong.vn

LÂM NGHIỆP

Trồng rừng gỗ lớn - Hướng đi bền vững

Triển khai dự án Xây dựng mô hình trồng rừng thâm canh gỗ lớn và chuyển hóa rừng cung cấp gỗ nhỏ sang gỗ lớn do Bộ NN&PTNT chủ trì, giai đoạn 2014-2019 tỉnh Quảng Ninh đã trồng mới 120ha rừng trồng thâm canh gỗ lớn, chuyển hóa được 210ha rừng cung cấp gỗ nhỏ thành gỗ lớn. Những mô hình này đang giúp người dân thay đổi tư duy sản xuất một cách hiệu quả, bền vững.

Theo thống kê của Bộ NN&PTNT, diện tích rừng trồng mới của nước ta là 3,4 triệu ha, tổng trữ lượng rừng trồng 73,5 triệu m3. Tuy diện tích và sản lượng gỗ rừng trồng tăng trong thời gian qua, nhưng chủ yếu là cung cấp gỗ nhỏ làm nguyên liệu giấy, dăm gỗ... giá trị kinh tế thấp; chưa có nhiều giải pháp về kỹ thuật và chính sách để phát triển rừng trồng gỗ lớn phục vụ cho sản xuất đồ mộc và đồ gỗ xuất khẩu. Tại Quảng Ninh, keo lai và keo tai tượng là cây lâm nghiệp chính đang được gây trồng phổ biến ở hầu hết các địa phương. Rừng trồng keo các loại góp phần quan trọng trong cung cấp nguồn nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến gỗ. Tuy nhiên, cho đến nay việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào trồng rừng sản xuất ở các địa phương còn hạn chế. Một mặt do người dân chưa tiếp cận được các nguồn giống mới công nhận đạt chất lượng cao và chưa có mô hình trình diễn về các giống mới để học tập và nhân rộng. Nhằm khắc phục những hạn chế đó, triển khai dự án Xây dựng mô hình trồng rừng thâm canh gỗ lớn và chuyển hóa rừng cung cấp gỗ nhỏ sang gỗ lớn, giai đoạn 2014-2019 tỉnh Quảng Ninh đã trồng mới 120ha rừng trồng thâm canh gỗ lớn cây keo tai tượng xuất xứ Pongakii (Ba Chẽ 70ha; Tiên Yên 50ha); chuyển hóa được 210ha rừng cung cấp gỗ nhỏ thành gỗ lớn (Hải Hà 60ha, Đầm Hà 32ha, Ba Chẽ 45ha, Vân Đồn 33ha, Hoành Bồ 40ha). Mô hình trồng rừng thâm canh gỗ lớn phần lớn được thực hiện trên đất rừng trồng sau khai thác, lập địa tương đối tốt (tầng đất trung bình 0,5m), khí hậu thuận lợi, phù hợp với với đặc điểm sinh thái của cây keo tai tượng. Thời vụ trồng rừng là vụ xuân hoặc xuân - hè. Công tác chăm sóc được thực hiện đúng kỹ thuật và đúng mùa vụ. Việc bón thúc tiến hành cùng với xới chăm sóc cho hiệu quả cao. Công tác bảo vệ được thực hiện tốt, không bị gia súc phá hại, không xảy ra cháy rừng. Mô hình trồng có tỷ lệ sống cao (trên 90%); 86,5% diện tích trồng đúng mật độ; 14,5% trồng dầy hơn từ 10-20%. Nguyên nhân do một số bộ phận người dân vẫn mong muốn trồng dầy để cây thẳng, sau khi rừng khép tán sẽ tỉa thưa để thành rừng gỗ lớn. Mặt khác, do cây keo tái sinh trong quá trình chăm sóc người dân để lại. Ông Bùi Thành Long (người dân xã Đồn Đạc, huyện Ba Chẽ tham gia mô hình) cho biết: Tham gia dự án chuyển hóa rừng gỗ nhỏ sang gỗ lớn đối với cây keo tai tượng, bà con được tiếp cận tiến bộ khoa học trong trồng, chăm sóc, thâm canh gỗ lớn. Dự án góp phần làm thay đổi tư duy trong trồng và chăm sóc cây keo của người dân. Từ trồng rừng với mật độ trên 2.000 cây/ha, nay gia đình tôi chỉ trồng với mật độ thưa, từ 1.200-1.300 cây/ha, sau đó chăm sóc tạo rừng gỗ lớn. Kết quả bước đầu cho thấy phần diện tích chuyển đổi trồng rừng thâm canh gỗ lớn sinh trưởng tốt, tăng sinh khối một cách rõ rệt, từ 2-3 lần so với rừng trồng của nhiều người dân địa phương đang làm. Qua đánh giá 2 mô hình tham gia dự án tại xã Đồn Đạc và xã Nam Sơn (Ba Chẽ) có mật độ 1.216 cây/ha, đạt tỷ lệ sống trên 91%, chiều cao vút ngọn 12,85m, đường kính ngang ngực 16,86cm, chất lượng rừng tốt, không sâu bệnh, gẫy ngọn. So sánh với rừng trồng gỗ nhỏ, mật độ 1.680 cây/ha, chiều cao cao hơn không đáng kể 0,52m (gỗ nhỏ 12,33m), đường kính ngang ngực lớn hơn 2,52cm (gỗ nhỏ 14,34cm). Rừng trồng thâm canh gỗ lớn keo tai tượng năm 2016 tại Phong Dụ, Điền Xá, Tiên Yên, mật độ 1.220 cây/ha, tỷ lệ sống trên 91%, chiều cao vút ngọn 9,87m, đường kính ngang ngực 10,96cm. So sánh với rừng trồng gỗ nhỏ mật độ là 1.620 cây/ha, chiều cao cao hơn không đáng kể 0,67m (gỗ nhỏ 9,20m), nhưng đường kính ngang ngực lớn hơn 2,31cm (gỗ nhỏ 8,65cm).

Thực hiện dự án các hộ dân tham gia mô hình được tiếp nhận chuyển giao khoa học kỹ thuật ứng dụng để chuyển hóa rừng gỗ nhỏ sang gỗ lớn. Bước đầu mô hình mang lại hiệu quả, tăng năng suất, chất lượng gỗ. Hiện trên địa bàn tỉnh một số địa phương như Ba Chẽ đã và đang có những chính sách riêng cho phát triển gỗ lớn. Do đó, khả năng nhân rộng dự án Xây dựng mô hình trồng rừng thâm canh gỗ lớn và chuyển hóa rừng cung cấp gỗ nhỏ sang gỗ lớn có tính khả thi cao, phù hợp định hướng phát triển của các địa phương.

Theo baoquangninh.com.vn

"Tạo điều kiện thuận lợi nhất để người dân, doanh nghiệp tham gia thực hiện trồng rừng gỗ lớn"

Xác định rõ lợi ích của việc trồng rừng gỗ lớn không chỉ mang lại giá trị kinh tế cao mà còn góp phần quan trọng trong việc bảo vệ môi trường, thời gian qua huyện Ba Chẽ tích cực vận động người dân, doanh nghiệp tham gia Đề án trồng rừng gỗ lớn. Đồng chí Đinh Thị Vỹ, Phó Chủ tịch UBND huyện Ba Chẽ trả lời phỏng vấn PV Trung tâm Truyền thông tỉnh. 

 

- Chủ trương trồng rừng gỗ lớn cho thấy những lợi ích, giá trị rõ rệt về kinh tế, môi trường... Bên cạnh thuận lợi, việc triển khai đặt ra những vấn đề gì, thưa đồng chí?

+ Lợi ích của trồng rừng gỗ lớn không chỉ là giá trị kinh tế cao mà còn góp phần quan trọng để tăng khả năng giữ nước, giảm xói mòn, rửa trôi đất, rừng có khả năng điều tiết nguồn sinh thủy, đảm bảo mực nước an toàn cho các hồ, đập và góp phần bảo vệ môi trường. Thời gian qua, huyện đã khuyến khích các hộ trồng rừng theo định hướng này. Huyện đặt ra mục tiêu là đến năm 2025 sẽ hình thành và phát triển ổn định một vùng rừng gỗ lớn với quy mô khoảng 5.000ha, đáp ứng cho nhu cầu chế biến sâu và xuất khẩu. Tuy nhiên, do trồng rừng gỗ lớn thời gian thu hồi vốn dài, điều kiện kinh tế của người dân trồng rừng khu vực vùng cao vẫn còn nhiều khó khăn nên chủ trương này chưa được người dân nhiệt tình hưởng ứng. Kết quả trồng rừng gỗ lớn mà huyện đạt được trong 2 năm gần đây chủ yếu là diện tích của doanh nghiệp, người dân tham gia vẫn còn hạn chế. Bên cạnh đó, việc trồng rừng gỗ lớn đòi hỏi thời gian chăm sóc, bảo vệ (tối thiểu 8 năm) gấp đôi trồng rừng gỗ nhỏ dẫn đến quá trình được khai thác, thu hồi vốn đầu tư lâu...

  • Vậy để việc thực hiện hiệu quả, phát huy thế mạnh địa phương, làm sao để người dân và doanh nghiệp chủ động tham gia thực hiện Đề án này?

+ Để doanh nghiệp, HTX đặc biệt là người dân hiểu, chủ động tham gia thực hiện Đề án, thứ nhất huyện tập trung tuyên truyền ngắn gọn nhất để hiệu quả, dễ đến với người dân. Thứ hai, cán bộ, đảng viên cơ sở, ở các xã đi trước thực hiện làm gương để người dân thấy hiệu quả, yên tâm, tin tưởng làm theo. Thứ ba, tổ chức các chuyến tham quan, học tập kinh nghiệm các mô hình trồng rừng gỗ lớn có hiệu quả trong, ngoài huyện cho các hộ dân tiêu biểu để người dân thấy được hiệu quả kinh tế và áp dụng vào thực tiễn sản xuất tại địa phương, đồng thời tuyên truyền cho nhân dân trên địa bàn huyện tham gia trồng rừng gỗ lớn. Năm 2018 nhân dân trên địa bàn huyện đã thực hiện trồng rừng gỗ lớn với diện tích 22ha, 6 tháng đầu năm 2019 đã thực hiện được 30,4ha. Chúng tôi cũng thấy rõ rằng, hiện nay do đất sản xuất của người dân có một số nơi chưa đến thời kỳ khai thác, cũng như chu kỳ kinh doanh cây gỗ lớn khá dài, trong khi đó người dân kinh tế còn khó khăn, cần quay vòng đồng vốn nhanh để đảm bảo kinh tế, đời sống. Vì thế, điều quan trọng nhất là các giải pháp linh hoạt để người dân chủ động tham gia thực hiện đề án này.

Đó là, có giải pháp, biện pháp linh hoạt để tháo gỡ khó khăn, băn khoăn về quy mô, diện tích rừng theo hướng dẫn của chuyên môn. Cụ thể, hướng dẫn cho bà con lập dự án tổng thể của cả giai đoạn nhằm đảm bảo các điều kiện về quy mô, kỹ thuật, diện tích để bà con tiếp cận được nguồn vốn hỗ trợ của Nhà nước. Đồng thời, huyện hướng dẫn hỗ trợ theo năm để tạo điều kiện người dân có nguồn lực, được "tiếp sức" đặc biệt là đầu tư ban đầu khá tốn kém.

Bên cạnh đó vẫn cần đảm bảo đúng quy trình về hồ sơ, trình tự thủ tục phải đúng chính sách và giám sát người dân thực hiện. Cũng như cần có sự linh hoạt trong cách làm, chính sách để tiếp cận, bố trí vốn "tiếp sức" sản xuất.

- Trong thời gian tới, huyện có các giải pháp gì để tháo gỡ khó khăn, thưa đồng chí?

+ Để chuyển dần từ trồng rừng gỗ nhỏ sang trồng rừng gỗ lớn là bài toán khó, cần thêm nhiều thời gian để vận động, thay đổi nhận thức người dân. Huyện sẽ tiếp tục triển khai công tác tuyên truyền, vận động để người dân hiểu rõ hơn về mục đích, ý nghĩa, lợi ích kinh tế của trồng rừng gỗ lớn, nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức của cán bộ, đảng viên, doanh nghiệp và người dân trên địa bàn. Đồng thời, cần có cơ chế hỗ trợ tốt hơn nữa, đặc biệt là hỗ trợ lãi suất vay vốn ngân hàng trong thời gian dài hơi, hỗ trợ sinh kế cho người dân.

- Xin cảm ơn đồng chí!

Theo baoquangninh.com.vn

Xử lý thực bì không đốt: Phát triển rừng bền vững

Lâu nay việc xử lý thực bì trong lâm nghiệp chủ yếu áp dụng phương pháp sử dụng lửa để đốt. Phương pháp này tiện lợi, ít mất công sức, thời gian, tuy nhiên lại gây nguy cơ cháy rừng, đồng thời còn phá vỡ cấu trúc đất, ảnh hưởng hệ sinh thái động, thực vật trong đất và gây ô nhiễm môi trường không khí… Để phát triển rừng bền vững và mang lại nhiều giá trị cho cuộc sống từ rừng cần phải chuyển đổi sang phương pháp xử lý thực bì an toàn hơn.

Xử lý thực bì được hiểu là hoạt động phát quang, thu dọn các loại cỏ, cây, dây leo, chặt gọn cành không cần thiết ở trên rừng. Trong ngành Lâm nghiệp, rất nhiều các trường hợp cần phải xử lý thực bì, đơn cử như xử lý thực bì để chuẩn bị mặt bằng trồng rừng, để làm đường băng cản lửa, vệ sinh rừng, vệ sinh ven đường bộ nơi có rừng hoặc xử lý thực bì để diễn tập phòng, chống cháy rừng…Quảng Ninh có gần 423.000ha rừng, tất cả đều cần triển khai khâu xử lý thực bì hằng năm hoặc theo chu kỳ, cho thấy việc đốt cháy để xử lý thực bì là rất lớn. Chỉ tính riêng đối với hoạt động đốt để xử lý thực bì nhằm trồng rừng hằng năm đã là hơn 10.000ha. Hiện nay, việc xử lý thực bì bằng phương pháp đốt mặc dù có quy trình cụ thể, biện pháp kiểm soát bằng các đường băng cản lửa, quá trình đốt, người dân có thông báo, phối hợp với lực lượng chức năng… Tuy nhiên, biện pháp này vốn không an toàn nên vẫn xảy ra những sự cố và tác động xấu, nhất là trong điều kiện thời tiết khô nóng bất lợi; các đường băng cản lửa không đạt chuẩn dẫn đến không cản được lửa, làm cháy lan hoặc mất tác dụng đối với những đám cháy nhảy cóc phát sinh từ tàn tro của đám đốt xử lý thực bì. Chính bởi vậy, đốt thực bì là nguyên nhân phổ biến gây ra các vụ cháy lan hoặc cháy nhảy cóc trên địa bàn tỉnh thời gian qua. Bên cạnh đó, sự sinh trưởng, phát triển của cây rừng ngày càng kém cũng do quá trình đốt thực bì đã làm đất đai bị nung nóng, trơ trụi, hệ  sinh thái động, thực vật có lợi trong đất bị tiêu diệt, giảm khả năng thấm nước, giữ nước và tơi xốp đất, mất lớp đất mặt, lớp mùn khi gặp mưa… Trên hết, tác hại lớn do đốt thực bì gây ra chính là tác động xấu đến môi trường đất, nước, không khí... 

Từ thực trạng này, giải pháp đưa ra là áp dụng phương pháp xử lý thực bì không đốt, tức phát dọn thực bì toàn diện, theo băng hoặc theo đám phù hợp với điều kiện lập địa, đặc tính sinh thái của loài cây trồng; thu gom thực bì bằng phương pháp thủ công và di chuyển đến nơi an toàn. Theo đại diện Phòng Sử dụng và phát triển rừng, Chi cục Kiểm lâm tỉnh, cái khó của biện pháp xử lý thực bì không đốt là mất nhiều công sức, thời gian, tăng chi phí nhân công hơn nhiều lần so với đốt thực bì, chính bởi vậy người dân không triển khai.

Được biết hiện nay, để tránh những tác hại do đốt thực bì gây ra, Sở NN&PTNT đã xây dựng, trình UBND tỉnh ban hành chính sách hỗ trợ người dân xử lý thực bì, trước tiên là đối với diện để trồng rừng hằng năm, ước khoảng 10.000ha. Cụ thể, có cơ chế hỗ trợ người dân mức 50% chi phí xử lý thực bì không đốt (không quá 2 triệu đồng/ha) trong vòng 6 năm kể từ khi trồng mới rừng đến khi khai thác. Chủ rừng sẽ được hỗ trợ một lần sau khi đã được đơn vị chức năng nghiệm thu về thiết kế, diện tích trồng rừng, dự toán xử lý thực bì. Tổng chi phí hỗ trợ xử lý thực bì đối với diện tích trồng rừng mới mỗi năm trên toàn tỉnh ước khoảng 20 tỷ đồng.

Xử lý thực bì bằng các biện pháp không đốt đã được các nước tiên tiến trên thế giới triển khai từ lâu và trở thành điều kiện bắt buộc trong quá trình trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng. Sản lượng gỗ của các cánh rừng trồng chỉ được xuất khẩu và mang lại giá trị lớn khi được chứng nhận xử lý thực bì không đốt. Chính bởi vậy, xử lý thực bì không đốt có thể nói là giải pháp bảo vệ, phát triển rừng phù hợp xu hướng phát triển của thế giới, đáp ứng mục tiêu của tỉnh về phát triển rừng bền vững, nâng cao giá trị rừng, ổn định cuộc sống dựa vào lâm nghiệp và trên hết là mang lại lợi ích về môi trường sống.

Theo Baoquangninh.com.vn

Y TẾ

Dịch tễ học hệ gene trong dịch COVID 19: Việt Nam cung cấp “vật liệu” cho thế giới

 Dù chưa nhiều nhưng những đóng góp về thông tin giải trình tự gene virus SARS-CoV-2 của Việt Nam tại cơ sở dữ liệu GISAID không chỉ đem lại một mảng ghép không thể thiếu trên bản đồ lây truyền của loại virus này mà còn cho thấy tâm thế sẵn sàng cùng tham gia vào trận tuyến COVID-19 trên toàn cầu.

Vào ngày 6/4/2020, giáo sư Nông Văn Hải (Viện nghiên cứu Hệ Gene, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam), một nhà nghiên cứu dày kinh nghiệm và từng thực hiện nhiều đề tài của Bộ KH&CN về hệ gene người Việt, hào hứng thông báo: trong số 3.443 trình tự hệ gene virus SARS-CoV-2 (hCoV-19) được đăng ký trên GISAID, Việt Nam đã đăng ký 8 trình tự gene với 6 từ Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương và 2 từ Viện Pasteur TP.HCM.  Với những người nghiên cứu về virus cúm, GISAID không phải là cái tên xa lạ, đây là dữ liệu chia sẻ về virus cúm có tốc độ nhanh nhất thế giới, bằng chứng là vào ngày 6/4/2020 mới có số 3.443 trình tự hệ gene virus được chia sẻ thì đến ngày 8/6/2020, con số này đã lên 4.896 trình tự gene. Là sự hợp tác công – tư giữa Chính phủ Đức và tổ chức NGO Friends of GISAID, nền tảng thông tin này đã cung cấp quyền truy cập tất cả các dữ liệu giải trình tự gene của các loại virus cúm và những dữ liệu lâm sàng và dịch tễ học liên quan. Nó bắt đầu được mở ra từ khi các nhà nghiên cứu nhận thấy sự nguy hiểm của mầm bệnh do virus cúm H5N1 gây ra khi truyền từ gia cầm sang người.

Kể từ đó đến nay, GISAID đã trở thành nơi tin cậy của các nhà khoa học nghiên cứu về cúm trên khắp thế giới, trong đó có Việt Nam.

Theo Baokhoahocphattrien.vn

Ghi nhận ở Trung tâm Y tế huyện Đầm Hà

Với nhiều giải pháp thiết thực, thời gian qua, Trung tâm Y tế huyện Đầm Hà đã trở thành lực lượng nòng cốt trong công tác phòng, chống dịch Covid-19 trên địa bàn huyện.

Theo ông Đinh Khắc Trọng, Giám đốc Trung tâm Y tế huyện Đầm Hà, từ ngày 22/1, Trung tâm Y tế huyện đã xây dựng kế hoạch phòng chống dịch. Mục tiêu của kế hoạch này là phát hiện sớm, xử lý kịp thời, không để dịch lây lan, hạn chế đến mức thấp nhất tử vong do bệnh dịch trên địa bàn. Sự chuẩn bị này rất cần thiết trong bối cảnh QL18 chạy qua huyện nối liền với các địa phương giáp biên, cũng như vấn đề di cư lao động của các khu công nghiệp ngày càng khó kiểm soát và phức tạp. Đi cùng với đó, Trung tâm cũng đảm bảo hoạt động của phòng xét nghiệm các tuyến trong khâu thu thập, bảo quản, vận chuyển bệnh phẩm trên địa bàn huyện. Mặt khác, Trung tâm Y tế huyện cũng thành lập Đội đáp ứng nhanh, chuẩn bị sẵn sàng vật tư, hóa chất, thuốc và các phương tiện điều trị, chống dịch.

Hiện nay, Trung tâm có 3 máy thở, 5 máy monitor; 14 máy truyền dịch; 146 bộ quần áo bảo hộ; 89kg Cloramin B; 8.350 khẩu trang y tế. Tới đầu tháng 2, Trung tâm Y tế huyện đã tích cực phối hợp với các ban, ngành trên địa bàn huyện chỉ đạo các doanh nghiệp, các cơ sở chế biến, kinh doanh, dịch vụ ăn uống nghiêm túc triển khai các giải pháp phòng chống dịch. Đặc biệt là tăng cường tuyên truyền cho nhân viên của cơ sở, nhà máy, xí nghiệp và người đến ăn uống các biện pháp phòng bệnh; thực hiện đầy đủ các điều kiện đảm bảo ATTP theo quy định; mang khẩu trang ở nơi công cộng... Để ngăn chặn, kiểm soát, hạn chế dịch Covid-19 lan rộng trong cộng đồng, với tinh thần "Chống dịch như chống giặc", Trung tâm Y tế huyện Đầm Hà đã thực hiện nghiêm việc phân luồng, sàng lọc, khai báo dịch tễ; thành lập khu cách ly y tế (đến nay đã có 15 trường hợp được cách ly). Tất cả mọi người ra vào cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đều phải đeo khẩu trang. Trung tâm cũng đặt dung dịch sát khuẩn rửa tay nhanh tại các vị trí thuận lợi cho người bệnh, nhân viên y tế, khách đến làm việc, công tác; hạn chế số cổng ra vào các khoa, phòng để kiểm soát có hiệu quả tất cả những người ra vào đơn vị. Đồng thời, Trung tâm Y tế huyện cũng tăng cường hoạt động các trang khám bệnh, đặt hẹn khám bệnh online, cung cấp số điện thoại đặt hẹn khám bệnh trên các phương tiện thông tin đại chúng, giảm tối đa số lượng người bệnh tới khám, chờ khám cùng một thời điểm. Không chỉ vậy, trong thời gian giãn cách xã hội, ngày 14 và 15/4, Trung tâm Y tế huyện còn tổ chức các kíp khám, chữa bệnh tại nhà cho 58 người cao tuổi trên địa bàn xã Tân Bình, thị trấn Đầm Hà (2 địa phương mà trạm y tế không có chức năng khám chữa bệnh).

Tham gia các kíp khám chữa bệnh này ngoài cán bộ Trung tâm Y tế còn có đại diện Hội người cao tuổi tại địa phương, nhân viên trạm y tế. Đặc biệt, để góp phần ngăn chặn dịch bệnh, các y bác sĩ Khoa Khám bệnh, Trung tâm Y tế huyện còn tự làm 30 chiếc tấm chắn giọt bắn để phát cho Phòng khám, Khoa Kiểm soát bệnh tật truyền nhiễm của Trung tâm. Với nhiều giải pháp thiết thực, Trung tâm Y tế huyện Đầm Hà đã, đang là lực lượng nòng cốt trong công tác phòng, chống dịch Covid-19 của huyện nói chung, tạo sự tin tưởng, yên tâm cho người dân trên địa bàn khi đến khám, chữa bệnh.

Theo baoquangninh.com.vn

BẠN NHÀ NÔNG

Quảng Yên phát triển kinh tế từ mô hình nuôi chim bồ câu.

          Những năm gần đây, các sản phẩm từ chăn nuôi gia súc gia cầm truyền thống, như trâu, bò, lợn, gà tăng nhanh... Tuy nhiên, với mong muốn làm phong phú thêm thị trường, có thu nhập ổn định, nâng cao mức sống cho gia đình, anh Bùi Văn Tịnh (thôn 3, xã Hiệp Hòa, TX Quảng Yên) đã quyết định đầu tư mô hình nuôi chim bồ câu. Đến nay, sau hơn 2 năm triển khai, mô hình đã khẳng định hiệu quả kinh tế.

Sau khi được tham gia các lớp tập huấn về sản xuất, chăn nuôi do địa phương tổ chức, anh Bùi Văn Tịnh tiếp

tục tìm hiểu thông tin về các mô hình phát triển kinh tế gia đình. Nhận thấy việc nuôi chim bồ câu không mất nhiều thời gian, công sức; vốn đầu tư ban đầu không lớn; ít rủi ro, nên năm 2018, anh Bùi Văn Tịnh đã chuyển đổi mô hình chăn nuôi lợn và bò với quy mô nhỏ lẻ sang nuôi chim bồ câu. Để có được những đôi chim bố mẹ đảm bảo chất lượng, anh Tịnh đã đến cơ sở cung cấp giống uy tín tại tỉnh Thái Bình để mua vài chục đôi chim về nuôi. Ban đầu tận dụng diện tích nhỏ để nuôi thử nghiệm, mô hình đã nhanh chóng phát huy hiệu quả, anh Tịnh tiếp tục góp vốn mở rộng diện tích, đầu tư chuồng trại theo quy chuẩn nuôi chim bồ câu. Để chim bồ câu sinh trưởng và phát triển tốt, anh Tịnh đã đầu tư một khu nuôi quần thể (theo từng đàn hỗn hợp, cả trống và mái, khi nào trưởng thành sẽ ghép đôi để cho sinh sản); đồng thời xây dựng một khu chuồng nuôi lớn, trong đó chia thành từng lồng nhỏ (mỗi lồng nuôi 1 đôi chim bố mẹ). Hệ thống thoát nước vệ sinh

chuồng trại được bố chí đảm bảo điều kiện thông thoáng, sạch sẽ cho chim phát triển, vừa đảm bảo môi trường xung quanh. Máng ăn, máng uống, máng tắm và ổ đẻ cho chim được bố trí phù hợp, đúng quy định, vì vậy đàn chim của hộ anh Tịnh phát triển và sinh trưởng tốt, không bị lây nhiễm các loại dịch bệnh.

Không chỉ cung cấp chim bán thịt ra thị trường, gia đình anh Tịnh còn cung cấp chim giống cho người dân trên địa bàn và cũng đảm bảo chim giống cho gia đình mà không phải tái đầu tư nguồn giống. Từ vài chục đôi chim bố mẹ ban đầu, đến nay hộ anh Tịnh đã có gần 400 đôi chim bố mẹ, trung bình mỗi năm sản sinh ra 3.200 đôi chim con. Chim thương phẩm có giá bán 130.000 đồng/đôi; chim giống là 250.000 đồng/đôi. Theo anh Bùi Văn Tịnh, chim bồ câu có giá trị kinh tế cao hơn hẳn so với chăn nuôi gia súc, gia cầm khác; chi phí đầu tư không nhiều, chăm sóc đơn giản... Mỗi năm, từ mô hình nuôi chim bồ câu, trừ chi phí, hộ anh Tịnh thu lãi khoảng 150 triệu đồng. Đầu ra cả chim giống và chim thịt hoàn toàn yên tâm bởi người dân địa phương thường đến tận gia đình để thu mua. Sản phẩm của người dân làm ra tiêu thụ tốt nên càng khuyến khích người dân phát triển các mô hình. Gia đình anh chuẩn bị mở rộng diện tích và đầu tư thêm chuồng trại với quy mô nuôi thêm khoảng 400 đôi chim bố mẹ. Ngoài ra, gia đình anh vẫn duy trì mô hình nuôi gà đẻ trứng và gà thịt...Trong quá trình thực hiện mô hình, công tác vệ sinh môi trường thôn được đảm bảo, hiệu quả kinh tế từ mô hình này cao, nâng cao mức sống cho gia đình.

Năm qua, hộ anh Bùi Văn Tịnh được xã Hiệp Hòa tôn vinh là hộ sản xuất kinh doanh giỏi. Để bà con duy trì các mô hình phát triển kinh tế ổn định, xã luôn vận động, khuyến khích bà con phát huy tốt những tiềm năng, lợi thế của địa phương, chủ động đầu tư các mô hình kinh tế đảm bảo tính bền vững.

Theo baoquangninh.com.vn

Ba Chẽ: Nhiều mô hình thanh niên phát triển kinh tế

Phát huy tinh thần xung kích, dám nghĩ, dám làm, tuổi trẻ huyện Ba Chẽ hiện có nhiều mô hình phát triển kinh tế mới, hiệu quả, mang lại thu nhập cao.

Những ngày này, anh Trần Văn Linh (SN 1988, thôn Khe Nháng, xã Thanh Lâm) đang tất bật làm cỏ, tỉa lá, chăm bón cho vườn cây ăn quả kết hợp trồng dược liệu rộng trên 1,5ha của gia đình. Anh Linh chia sẻ: Tôi nghĩ quê hương Ba Chẽ có nhiều tiềm năng, lợi thế để phát triển kinh tế. Vì thế, năm 2019 tôi mạnh dạn vay vốn ngân hàng, đầu tư gần 400 triệu đồng cải tạo đất, san gạt, trồng xen canh 300 gốc bưởi, 600 gốc cam V2, 200 gốc ổi chân châu Đài Loan, trên 1.000 gốc cây ba kích. Các loại cây trồng này đều hợp thổ nhưỡng nên phát triển khá tốt, dự kiến năm 2021 cho thu hoạch vụ đầu tiên; ước tính thu nhập từ 150-200 triệu đồng/năm. Để mô hình thực sự mang lại hiệu quả, tôi tiếp tục học hỏi, tìm hiểu các quy trình chăm bón, phát triển cây trồng và nhu cầu của thị trường.

Cũng với tinh thần xung kích, dám nghĩ, dám làm, anh Chìu Tiến Minh (SN 1996, thôn Đồng Khoang, xã Đạp Thanh) đã vay vốn đầu tư mô hình nuôi nuôi ếch thương phẩm ngay trên chính mảnh đất của gia đình sinh sống để phát triển kinh tế.

Anh Minh cho biết: Thời điểm giữa năm 2018, mô hình nuôi ếch thương phẩm chưa có ai phát triển tại Ba Chẽ. Tuy nhiên, qua tìm hiểu thị trường, tôi thấy mô hình này rất có triển vọng, nên đã mạnh dạn đầu tư, vay vốn của bạn bè, người thân để xây dựng khu nuôi, nhập 3.000 con ếch về nuôi, nhân giống. Phát triển mô hình mới bao giờ cũng gặp khó khăn vì thiếu kinh nghiệm thực tế, do đó thất bại bước đầu cũng là điều khó tránh. Quan trọng là mình không nản chí, sai ở đâu thì học hỏi, tìm hiểu kỹ ở đó, để theo đuổi đến cùng mô hình. Nhờ vậy, đến giữa năm 2019, gia đình tôi đã bán được mẻ ếch đầu tiên cho các thương lái và nhà hàng trên địa bàn huyện, doanh thu trên 50 triệu đồng. Thời gian tới, tôi tiếp tục huy động vốn để phát triển mô hình, mở rộng thị trường tiêu thụ ra các địa bàn khác.

Bên cạnh nuôi ếch thương phẩm, anh Chìu Tiến Minh đang trồng thử nghiệm 1.000 gốc cam V2 và nuôi cá rô phi, cá trê, chim. Thu nhập của gia đình anh hiện khá ổn định, từ 60-70 triệu đồng/năm. Từ năm 2018 gia đình anh đã thoát cận nghèo.

Không chỉ tập trung phát triển kinh tế ở một số khu vực, tại 8/8 xã, thị trấn của huyện Ba Chẽ, lực lượng thanh niên đều đi đầu trong tham gia phát triển các mô hình kinh tế, vươn lên làm giàu, tạo sự lan tỏa sâu rộng. Theo thống kê của Huyện Đoàn Ba Chẽ, từ năm 2017 đến nay đã có 28 mô hình thanh niên phát triển kinh tế cho hiệu quả cao, như: Trồng cây ăn quả, cây dược liệu; nuôi bò, gà, thỏ; xưởng cơ khí…

Đến hết năm 2019, Huyện Đoàn Ba Chẽ có 22 tổ tiết kiệm vay vốn, tổng dư nợ khoảng 44 tỷ đồng. Các tổ tiết kiệm hoạt động hiệu quả, phân bổ vốn vay cho thanh niên vay lập nghiệp; trả nợ vốn vay đảm bảo đúng hạn.

Anh Lê Minh Đạt, Bí thư Huyện Đoàn Ba Chẽ, cho biết: Mỗi năm, Huyện Đoàn xây dựng phương án hỗ trợ từ 1-2 dự án khởi nghiệp trong thanh niên để tạo sự lan tỏa sâu rộng trong giới trẻ. Huyện Đoàn cũng tăng cường phối hợp với các đơn vị chức năng của huyện, của tỉnh mở các lớp tập huấn khởi nghiệp, lập nghiệp; mời chuyên gia, giảng viên từ các sở, ban ngành, doanh nghiệp khởi nghiệp tiêu biểu để trao đổi ý tưởng, cách làm hay với đoàn viên, thanh niên huyện.

Thời gian tới, Huyện Đoàn tiếp tục rà soát, thống kê các mô hình khởi nghiệp do thanh niên đăng ký để hỗ trợ, tạo điều kiện cho thanh niên có động lực vươn lên phát triển kinh tế, thoát nghèo, làm giàu cho gia đình và địa phương./.

Theo Minh Đức/Báo Quảng Ninh

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


Tìm kiếm theo chuyên mục - nội dung - ngày tháng

Tin Nóng
Tin tiêu điểm

Lịch công tác trống

Website liên kết
Thống kê truy cập
Hôm nay: 591
Đã truy cập: 869531