Bản tin khoa học và đời sống số tháng 3 năm 2020

25/03/2020 10:05

  CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH

Cải cách hành chính để thúc đẩy phát triển doanh nghiệp

Cải cách hành chính (CCHC) là một trong những yếu tố quan trọng để thu hút các doanh nghiệp vào đầu tư, thúc đẩy sự phát triển nhanh và bền vững của tỉnh. Xác định rõ điều này, những năm gần đây, Quảng Ninh đã chỉ đạo quyết liệt và triển khai đồng bộ nhiều giải pháp cải cách thủ tục hành chính (TTHC), tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp phát triển sản xuất, kinh doanh.

Quảng Ninh hiện là một trong những địa phương đứng tốp đầu cả nước về thu hút đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội. Một trong những điểm nhấn tạo nên vị thế này là môi trường đầu tư kinh doanh của tỉnh ngày càng được cải thiện, các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh ngày càng có nhiều bước tiến mới. Số doanh nghiệp và đơn vị phụ thuộc thành lập mới giai đoạn 2016-2019 trên địa bàn tỉnh là 8.777, tăng bình quân 13,1%/năm. Lũy kế đến hết năm 2019, toàn tỉnh có 19.129 doanh nghiệp và đơn vị phụ thuộc, tạo việc làm cho hàng trăm nghìn lao động và đóng góp tích cực vào ngân sách tỉnh.

Để tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp thành lập mới cũng như các doanh nghiệp đang hoạt động, các cấp, các ngành trong tỉnh đã tập trung đẩy mạnh thực hiện cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” tại các sở, ngành và các huyện, thị xã, thành phố, giúp tiết kiệm thời gian cũng như chi phí cho doanh nghiệp khi giải quyết TTHC. Các TTHC liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp nói riêng đều được kiểm tra, rà soát, cắt giảm từ 40-50% thời gian giải quyết và bãi bỏ những thủ tục không còn phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi tối đa về thời gian, kinh tế cho doanh nghiệp.

Công tác kiểm tra CCHC cũng được Sở Nội vụ phối hợp với các đơn vị liên quan tiến hành thường xuyên, liên tục, phát hiện và nhanh chóng khắc phục hạn chế, tồn tại, nâng cao năng lực quản lý, điều hành của các cấp, các ngành. Đặc biệt, phương châm “4 tại chỗ”, “5 tại chỗ” tiếp tục được Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh, các Trung tâm Hành chính công cấp huyện thực hiện nghiêm túc, đạt hiệu quả cao; việc phân cấp, ủy quyền trong giải quyết TTHC được làm tốt, góp phần hạn chế tình trạng chậm, trễ hẹn và tăng trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị trong quá trình thẩm định, giải quyết TTHC cho doanh nghiệp.

Công tác CCHC của Quảng Ninh đã được nhiều tổ chức, doanh nghiệp ghi nhận và đánh giá cao. Các TTHC không cần thiết đã được đẩy mạnh rà soát và tinh giản; thời gian nộp thuế, thông quan hàng hóa, bảo hiểm xã hội, thủ tục xuất nhập khẩu, cấp phép xây dựng, thủ tục đầu tư được rút ngắn; nhiều mô hình CCHC hiệu quả đã được tỉnh thí điểm triển khai và được Trung ương nhân rộng...

Kết quả khẳng định cho những nỗ lực của tỉnh trong công tác CCHC, xây dựng một nền hành chính phục vụ, lấy sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp là thước đo thành công chính là sự bứt phá trong bảng xếp hạng Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI). Từ vị trí 20 toàn quốc vào năm 2012 vươn lên và duy trì trong nhóm 5 địa phương dẫn đầu cả nước và đứng đầu trong Vùng đồng bằng sông Hồng từ năm 2013 đến nay. Đặc biệt, trong hai năm liên tiếp 2017 và 2018, Quảng Ninh giữ vững “ngôi vương” PCI toàn quốc và tin tưởng sẽ tiếp tục giữ vững tốp đầu năm 2019. Quảng Ninh đã và đang là “mảnh đất vàng” để các doanh nghiệp đầu tư, phát triển, nhất là các nhà đầu tư chiến lược như Vingroup, Sun Group, FLC, MyWay... với các dự án lớn, động lực trong nhiều lĩnh vực, tổng vốn đầu tư hàng chục ngàn tỷ đồng; cùng với đó là sự phát triển nhanh và tương đối hiệu quả của cộng đồng doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.

Để hiện thực hóa mục tiêu đến hết năm 2020, toàn tỉnh sẽ có 22.000 doanh nghiệp và đơn vị phụ thuộc hoạt động ổn định, chất lượng, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội nhanh, mạnh và bền vững của tỉnh, một trong những nội dung được xác định là trọng tâm vẫn sẽ là công tác CCHC, tạo điều kiện thuận lợi tối đa, khuyến khích doanh nghiệp phát triển và đồng hành cùng doanh nghiệp. Trong đó, tỉnh sẽ duy trì, phát huy những kết quả tốt đã đạt được, đồng thời tiếp tục tập trung đẩy mạnh CCHC, trọng tâm là cải cách TTHC; đồng hành, chia sẻ, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp.

Theo đó, tỉnh sẽ đẩy mạnh hơn nữa ứng dụng dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 ở các sở, ngành, địa phương; duy trì và nâng cao chất lượng tổ chức các chương trình gặp gỡ, tiếp xúc doanh nghiệp hàng tháng, hàng quý, các chương trình cafe doanh nhân; đẩy mạnh việc sử dụng chữ ký điện tử, hồ sơ điện tử, con dấu thứ 2; tăng cường công tác tuyên truyền, hướng dẫn, hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện dịch vụ công... Đặc biệt nhất, với chủ đề công tác năm 2020, việc nâng cao chất lượng đạo đức, tinh thần, thái độ và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong toàn tỉnh sẽ là một nội dung được tập trung thực hiện tốt, nhằm tạo môi trường công vụ chuyên nghiệp, hiện đại.

Theo baoquangninh.com

Xây dựng sản phẩm OCOP chuyên nghiệp

          Năm 2020 là năm cuối cùng của chương trình mỗi xã, phường một sản phẩm (OCOP) giai đoạn 2. Thực hiện mục tiêu đưa OCOP trở thành chương trình phát triển kinh tế quan trọng, năm nay, chương trình có chủ đề là "Sản phẩm chuyên nghiệp”. 

           Ông Vũ Thành Long, Trưởng Ban Xây dựng NTM, Thường trực Ban Chỉ đạo OCOP tỉnh, cho biết: Năm nay, tỉnh sẽ tiếp tục tập trung củng cố, nâng cao chất lượng sản phẩm OCOP đã có, phát triển sản phẩm mới theo định hướng đạt thương hiệu cấp quốc gia; củng cố các tổ chức kinh tế; đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại.

           Trên cơ sở đó, Ban Chỉ đạo OCOP tỉnh đã đề ra mục tiêu cụ thể, phát triển thêm ít nhất 50 sản phẩm mới theo chu trình OCOP chuẩn; 100% đơn vị sản xuất có sản phẩm phát triển mới đạt yêu cầu dự thi đánh giá và xếp hạng; phát triển mới ít nhất 10 tổ chức kinh tế; đưa thêm ít nhất 10 sản phẩm vào tiêu thụ tại chuỗi các trung tâm thương mại, siêu thị trong và ngoài tỉnh. Điều này cho thấy sự quyết tâm nâng cao chất lượng sản phẩm OCOP của tỉnh. 

          Việc chuyên nghiệp hóa sản phẩm được Ban Chỉ đạo OCOP tỉnh tập trung thực hiện trong năm nay. Theo đó, đặt ra mục tiêu công nhận thêm từ 30-40 sản phẩm đạt từ 3 đến 5 sao, ít nhất 5 sản phẩm đạt tiêu chuẩn OCOP 5 sao tại cuộc thi cấp quốc gia, ít nhất 10 sản phẩm chủ lực sản xuất theo chuỗi cung cấp thực phẩm an toàn, 90% sản phẩm trở lên được dán tem điện tử, mã số, mã vạch truy xuất nguồn gốc. 

          Để hoàn thành mục tiêu của năm 2020 và giai đoạn 2017-2020, Ban Chỉ đạo OCOP tỉnh sẽ có nhiều đổi mới từ công tác quản lý chương trình, tuyên truyền, đào tạo, phát triển sản phẩm... Từ năm nay, các đơn vị có sản phẩm đăng ký mới sau khi được chấp thuận tham gia OCOP phải xây dựng kế hoạch sản xuất. Cấp huyện thẩm định kế hoạch sản xuất đồng thời tổng hợp nhu cầu hỗ trợ của đơn vị sản xuất.

Trên cơ sở đó, Ban Chỉ đạo OCOP tỉnh sẽ thẩm định, báo cáo UBND tỉnh quyết định phân bổ hỗ trợ trong nguồn kinh phí xây dựng NTM hoặc bố trí từ nguồn phân bổ cho địa phương. Giải pháp này không chỉ hạn chế tình trạng đầu tư, hỗ trợ dàn trải mà còn nâng cao trách nhiệm của tổ chức, cá nhân tham gia cũng như tăng cường vai trò quản lý của địa phương. 

          Công tác thanh, kiểm tra cơ sở sản xuất, điểm bán hàng, sử dụng nhãn hiệu... sẽ được tăng cường trong năm nay. Qua đó, xử lý nghiêm các tổ chức sản xuất có các sản phẩm không đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng theo quy định. Ban Chỉ đạo OCOP tỉnh sẽ vận động thành lập hội hoặc câu lạc bộ doanh nhân OCOP Quảng Ninh, nhằm tập hợp các tổ chức kinh tế tham gia chương trình.

          Từ đó, hình thành tổ chức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hội viên, hỗ trợ nhau hoạt động có hiệu quả, nâng cao trách nhiệm xã hội, tổng hợp ý kiến. Đồng thời, xây dựng thí điểm một số mô hình khởi nghiệp sáng tạo chương trình OCOP gắn với đào tạo nghề cho lao động nông thôn.

Đối với việc phát triển sản phẩm, năm 2020 các địa phương sẽ tập trung khảo sát phát triển sản phẩm thuộc nhóm thủ công mỹ nghệ, trang trí nội thất, làm quà lưu niệm cho khách du lịch đến Quảng Ninh.

          Đồng thời, xây dựng dự án liên kết chuỗi đối với 31 sản phẩm OCOP chủ lực cấp huyện, 12 sản phẩm cấp tỉnh và 6 sản phẩm định hướng cấp quốc gia. Bên cạnh đó, Ban Chỉ đạo OCOP tỉnh cũng xây dựng đề án phát triển thương mại điện tử đối với sản phẩm OCOP nhằm đáp ứng nhu cầu của người dân, tích cực quảng bá sản phẩm, mở rộng thị trường tiêu thụ.  

          Triển khai chủ đề chương trình OCOP năm 2020 “Sản phẩm chuyên nghiệp”, Ban Chỉ đạo OCOP tỉnh sẽ khảo sát thực trạng, lập kế hoạch và triển khai các hoạt động mở rộng thị trường toàn quốc và xuất khẩu. Đồng thời, lựa chọn từ các sản phẩm 5 sao cấp tỉnh và các sản phẩm có tiềm năng phát triển để nâng cấp sản phẩm, nâng cấp chuỗi giá trị, kiện toàn tổ chức đáp ứng các tiêu chí sản phẩm quốc gia.

Theo baoquangninh.com

Phát triển sản phẩm OCOP theo hướng chất lượng - hiện đại

          Năm 2014, Quảng Ninh mới chỉ có 40 sản phẩm OCOP thì đến nay đã phát triển lên tới 336 sản phẩm, trong đó có 192 sản phẩm đạt từ 3-5 sao (theo Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng của tỉnh). Qua thực tế tổ chức 13 hội chợ OCOP của tỉnh, các sản phẩm OCOP ngày càng được nâng cấp về chất lượng, mẫu mã, được người tiêu dùng.

          Chị Trần Thị Lành (phường Trần Hưng Đạo, TP Hạ Long) chia sẻ: "Gia đình tôi đã thường xuyên tin tưởng sử dụng sản phẩm OCOP của tỉnh hằng ngày và làm quà biếu. Các sản phẩm OCOP ngày càng được nâng cao về chất lượng, mẫu mã, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng".

          Bên cạnh các hội chợ thường niên của tỉnh, các hội chợ hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm, hội chợ OCOP kết hợp thương mại của các địa phương trong tỉnh là một trong những hoạt động hiệu quả nhằm nâng cao việc quảng bá và xây dựng thương hiệu sản phẩm OCOP Quảng Ninh, mở rộng thị trường tiêu thụ. Việc gia tăng số lượng và chất lượng sản phẩm OCOP tham gia các hoạt động xúc tiến thương mại, hội chợ... cũng là một trong những yếu tố quan trọng để tạo dựng được niềm tin với người tiêu dùng. Minh chứng rõ nét nhất là doanh thu từ các gian hàng OCOP Quảng Ninh tăng từ 10-15% qua mỗi kỳ hội chợ.

          Mới đây nhất, Hội chợ OCOP Quảng Ninh - Xuân 2020 được tổ chức tại Cung Quy hoạch, Hội chợ và Triển lãm tỉnh từ ngày 15-20/1, tiếp tục thành công trong việc thu hút các sản phẩm, tạo được lòng tin với người tiêu dùng. Số lượng các sản phẩm tham gia hội chợ tương đối phong phú, chủ yếu là các nông sản, đặc sản với trên 360 sản phẩm OCOP Quảng Ninh, góp phần đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của nhân dân và du khách dịp Tết. Hội chợ thu hút hơn 72.300 lượt người dân và du khách đến tham quan, mua sắm, tăng 11,57%; tổng doanh thu bán hàng gần 9,73 tỷ đồng, tăng 8,13%, trong đó doanh thu các gian hàng trong tỉnh gần 6 tỷ đồng, tăng 9,1% so với Hội chợ OCOP Quảng Ninh - Xuân 2019.

          Năm 2020 là năm tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện chương trình OCOP Quảng Ninh giai đoạn 2017-2020, với mục tiêu tiếp tục nâng cao chất lượng, xây dựng và quản lý hiệu quả, nhằm đưa sản phẩm OCOP trở thành hàng hóa có thương hiệu mạnh mẽ hơn nữa trên thị trường, góp phần thúc đẩy  “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, tạo dựng niềm tin với người tiêu dùng.

          Ông Lê Hồng Giang, Phó Giám đốc Sở Công Thương, cho biết: Để tạo dựng được niềm tin với người tiêu dùng, hằng năm Sở Công Thương phối hợp chặt chẽ với Ban Chỉ đạo OCOP tỉnh thường xuyên rà soát, đánh giá và đưa ra khỏi chương trình những sản phẩm không đủ khả năng sản xuất và phát triển, không đảm bảo được chất lượng, không đáp ứng được nhu cầu của thị trường... Thời gian tới, Sở tiếp tục mở rộng quảng bá, xây dựng hình ảnh, thương hiệu sản phẩm OCOP của tỉnh theo hướng chất lượng - hiện đại. Đồng thời, đẩy mạnh tổ chức các hội nghị kết nối tiêu thụ sản phẩm, đưa sản phẩm OCOP vào các hệ thống phân phối hiện đại trong nước và nước ngoài.

Theo baoquangninh.com

 

NÔNG  NGHIỆP

Đẩy mạnh ứng dụng KHCN trong sản xuất nông nghiệp

Việc ứng dụng khoa học công nghệ (KHCN) vào sản xuất nông nghiệp đang là hướng đi tất yếu hiện nay, đáp ứng yêu cầu tái cơ cấu ngành nông nghiệp Quảng Ninh theo hướng nâng cao giá trị và phát triển bền vững. 

Tại TX Đông Triều, hiện nay mô hình canh tác nông nghiệp chất lượng cao, áp dụng khoa học kỹ thuật trong các khâu sản xuất đã được Công ty CP Đầu tư xây dựng và thương mại 188 (phường Mạo Khê) triển khai hiệu quả. Với diện tích sản xuất hơn 1,5ha, gồm 12 nhà lưới trồng rau thủy canh và trồng trên giá thể đã giúp doanh nghiệp này ổn định sản xuất quanh năm với các chủng loại rau: Xà lách, muống, cải canh, cải ngọt, cải ngồng, cải bó xôi, dưa leo baby, dưa lưới, cà chua, ớt chuông, cà rốt...

Bà Bùi Thị Thể, Giám đốc Công ty CP Đầu tư xây dựng và thương mại 188, cho biết: Bằng việc áp dụng KHCN, các khâu cấy giống, chăm sóc, thu hoạch đều được thực hiện một cách đồng bộ, qua đó cho năng suất và chất lượng ổn định. Đơn cử, như trong việc trồng rau thuỷ canh, các công thức chất dinh dưỡng được tính toán dựa trên các chỉ tiêu phân tích mẫu nước, mẫu đất, mẫu giá thể, phân bón để tạo nên các chất dinh dưỡng đầy đủ, đáp ứng cho nhu cầu của cây. Mô hình này còn giúp cây trồng cách ly được mầm bệnh, nguồn nước ô nhiễm, tránh được các độc tố từ chất hóa học... Nhờ vậy, các sản phẩm của đơn vị đều đảm bảo chỉ tiêu về an toàn thực phẩm và đã có mặt tại các hệ thống siêu thị Vinmart, BigC, Intermex, các nhà hàng, khách sạn, trường học trên địa bàn.

Cùng với Công ty CP Đầu tư xây dựng và thương mại 188, thời gian qua, việc ứng dụng KHCN trong sản xuất nông nghiệp đã được đẩy mạnh triển khai trên địa bàn tỉnh. Để làm căn cứ thực hiện nội dung này, Quảng Ninh đã linh hoạt thực hiện đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với triển khai có hiệu quả đề án “Tỉnh Quảng Ninh - Mỗi xã, phường một sản phẩm”. Qua đó, tập trung nhân rộng mô hình sản xuất, xây dựng các mô hình ứng dụng tiến bộ KHCN mới; xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm đặc thù địa phương, phát triển vùng sản xuất nông sản tập trung áp dụng theo tiêu chuẩn VietGAP. Tỉnh cũng chỉ đạo các sở, ngành chuyên môn tập trung triển khai các nhiệm vụ KHCN vào nghiên cứu sản xuất giống các đối tượng có giá trị kinh tế cao như: Sá sùng, ngao giá, giống lúa mới, dòng na mới; bảo tồn nguồn gen các loài động thực vật đặc hữu, quý hiếm, có giá trị cao (ngán, hải sâm, tu hài, ba kích tím, gà Bang Trới...). Bên cạnh đó, các địa phương trong tỉnh đã chủ động hợp tác với các viện nghiên cứu, trường đại học trong việc hỗ trợ chuyển giao công nghệ phát triển sản phẩm thuộc Chương trình OCOP. Đến nay, trên địa bàn tỉnh đã hình thành nhiều vùng sản xuất tập trung, ứng dụng KHCN đồng bộ cho hiệu quả cao như: Vùng lúa chất lượng cao đạt 4.690ha tại Đông Triều; vùng trồng rau an toàn đạt 348ha tại Quảng Yên; vùng trồng vải 972ha tại Uông Bí; vùng nuôi tôm tập trung 9.662ha tại Đầm Hà... Tỉnh cũng ưu tiên, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư phát triển nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ, cơ giới hóa để nâng cao năng suất, chất lượng nông sản. Cho đến nay, nhiều tập đoàn và các nhà đầu tư lớn đã triển khai ứng dụng KHCN vào sản xuất trên địa bàn tỉnh như: Khu nông nghiệp công nghệ cao Evinco tại xã Hồng Thái Tây (Đông Triều) của Công ty TNHH VinEco, thuộc Tập đoàn Vingroup làm chủ đầu tư, trung bình mỗi tháng cung ứng cho thị trường từ 180-200 tấn nông sản chất lượng cao. Hay dự án sản xuất tôm giống và nuôi tôm thương phẩm công nghệ cao siêu thâm canh trong nhà kính tại xã Tân Lập, huyện Đầm Hà do Tập đoàn Việt - Úc làm chủ đầu tư, đến năm 2019 đã chính thức sản xuất mẻ tôm giống thẻ chân trắng đầu tiên với 12 triệu con tôm, đáp ứng nhu cầu con giống tại chỗ phục vụ người nuôi tôm trong tỉnh; ước tính công suất tối đa trong thời gian tới gần 600 triệu con tôm giống cho thị trường. Với những cơ chế, chính sách và nguồn lực đầu tư thích đáng cho hoạt động ứng dụng KHCN, ngành nông nghiệp đã có những bước phát triển hiệu quả. Nhiều lĩnh vực ứng dụng KHCN hiện đại vào sản xuất đạt hiệu quả cao như: Nuôi tôm siêu thâm canh bằng hệ thống nuôi tôm tuần hoàn trong nhà; sản xuất giống hoa lan cao cấp bằng công nghệ invitro và kiểm soát môi trường tự động của Đài Loan; sản xuất rau, quả bằng công nghệ Israel tạo sản phẩm đạt tiêu chuẩn cung cấp trong hệ thống BigC, Vinmart, Lotte...

Việc hiện đại hoá ngành nông nghiệp Quảng Ninh, trong đó đặc biệt là ứng dụng KHCN vào sản xuất đang góp phần đưa ngành nông nghiệp phát triển đúng hướng và bước đầu đã đạt được hiệu quả tích cực. Đây sẽ là tiền đề để tỉnh nâng tỷ trọng, giá trị ngành kinh tế nông nghiệp, phát triển nền nông nghiệp hiện đại, bền vững và giàu có, góp phần thay đổi bộ mặt nông thôn trong thời gian tới.

Theo Baoquangninh.gov.vn

Để ngành chăn nuôi phát triển bền vững

Với vai trò là một bộ phận quan trọng của nền nông nghiệp, ngành chăn nuôi có đóng góp lớn vào cơ cấu kinh tế, xóa đói giảm nghèo trên địa bàn tỉnh. Hiện nay, trong xu thế của một nền nông nghiệp đang tái cơ cấu, đặc biệt là trong tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm ngày càng phức tạp, đòi hỏi ngành chăn nuôi cần có những bước đi mới theo hướng phát triển bền vững.

2019 là năm có nhiều khó khăn đối với ngành chăn nuôi trên cả nước nói chung và tỉnh Quảng Ninh nói riêng, nhất là khi dịch tả lợn châu Phi bùng phát trên diện rộng. Trước tình hình bệnh diễn biến phức tạp, thực hiện chỉ đạo của tỉnh, ngành Nông nghiệp và các địa phương trong tỉnh đã khẩn trương triển khai nhiều giải pháp khoanh vùng, khống chế dịch. Qua đó, dịch bệnh cơ bản đã được kiểm soát. Tuy nhiên, những thiệt hại đối với ngành chăn nuôi tương đối lớn. Năm 2019, tổng số lợn ốm, chết và buộc phải tiêu hủy là hơn 143.000 con (chiếm trên 38,4% tổng đàn lợn), trọng lượng tiêu hủy trên 6.000 tấn. Đáng chú ý, phần lớn lợn bị dịch đều của những hộ chăn nuôi nhỏ lẻ trên địa bàn tỉnh. Theo thống kê của Sở NN&PTNT, dịch tả lợn châu Phi xảy ra tại 16.062 hộ/968 thôn, khu, ở 162 xã, phường trên địa bàn tỉnh. Việc phát triển chăn nuôi nông hộ chủ yếu theo kiểu tự phát, nên thiếu sự ổn định, bền vững. Bên cạnh đó, việc áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, tiêm vắc xin phòng bệnh cho đàn vật nuôi chưa được chú trọng, do đó năng suất, hiệu quả chăn nuôi thấp, các loại dịch bệnh dễ phát sinh và lây lan...

Trước thực tế đó, đòi hỏi ngành chăn nuôi cần thay đổi hình thức. Theo đó, việc phát triển, đổi mới chăn nuôi nông hộ không chú trọng gia tăng số lượng đàn nuôi một cách cơ học mà hướng tới chăn nuôi có kiểm soát, nâng cao tính cạnh tranh. Trong đó, chú trọng khâu chọn giống. Bên cạnh đó, tăng cường tuyên truyền, phổ biến cho nhân dân con giống có chất lượng tốt. Điển hình, TX Đông Triều - địa phương bị thiệt hại nặng nề nhất của dịch tả lợn châu Phi cũng tích cực thay đổi mô hình phát triển kinh tế. Tại khu vực có diện tích rừng lớn như An Sinh, Bình Khê, Tràng Lương, người dân đã kết hợp chăn nuôi đàn bò vàng, đàn trâu giống bản địa theo hình thức chăn thả dưới tán rừng. Tại Yên Đức, Nguyễn Huệ, Thủy An, Hoàng Quế, người dân chú trọng phát triển đàn dê và tập trung chăn nuôi thỏ tại Bình Dương, Tân Việt; chăn nuôi đà điểu sinh sản tại Xuân Sơn...

Ngành Nông nghiệp tỉnh đang tiến hành rà soát vùng chăn nuôi gia súc, gia cầm tập trung đã được quy hoạch; xây dựng quy định cụ thể về khu vực được chăn nuôi và vùng cấm nuôi; chú trọng thực hiện kiểm soát dịch bệnh để chăn nuôi phát triển theo hướng bền vững. Đặc biệt, với những vùng đã từng có lợn bị bệnh dịch tả lợn châu Phi buộc phải tiêu hủy, Sở NN&PTNT không khuyến khích thực hiện tái đàn tại các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, các trang trại, doanh nghiệp chăn nuôi nằm trong khu dân cư. Các hộ, trang trại, doanh nghiệp muốn tái đàn cần xem xét các điều kiện, như: Không nằm trong khu vực đông dân cư, sau 60 ngày không xuất hiện ca bệnh mới và thực hiện đầy đủ các biện pháp phòng dịch tiêu hủy, cách ly, vệ sinh, khử trùng, tiêu độc, xử lý môi trường và trên hết là phải đảm bảo các điều kiện về an toàn sinh học...

Theo ông Trần Xuân Đông, Chi cục trưởng Chi cục Chăn nuôi và Thú y (Sở NN&PTNT), mấu chốt quan trọng trong chăn nuôi an toàn sinh học là các yếu tố về môi trường và quản lý dịch bệnh phải được bảo đảm. Trong đó, yếu tố môi trường gồm bên trong và cả bên ngoài chuồng trại cần bảo đảm; quản lý dịch bệnh hiệu quả bằng việc thực hiện tốt các yêu cầu, quy trình tiêm phòng, các biện pháp phòng, chống dịch bệnh khác của cơ quan chức năng đưa ra...

Trong thời gian tới ngành Nông nghiệp tiếp tục bám sát mục tiêu tăng trưởng về giá trị sản xuất của ngành, trên cơ sở tăng tỷ trọng giá trị sản xuất thủy sản, tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi, giảm tỷ trọng trồng trọt, lâm nghiệp. Trong đó, mô hình chăn nuôi phát triển theo hướng tập trung chuyển từ chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán sang phát triển chăn nuôi tập trung theo trang trại, gia trại; duy trì chăn nuôi nông hộ nhưng theo hình thức công nghiệp và ứng dụng công nghệ, kỹ thuật tiên tiến. Qua đó, lợi ích kinh tế của người chăn nuôi ngày càng được bảo đảm, góp phần cho sự phát triển ổn định của ngành Nông nghiệp.

Theo baoquangninh.com

Khi Luật Chăn nuôi có hiệu lực

Dịch bệnh, ô nhiễm môi trường, cung vượt cầu… là những bài toán khó của ngành chăn nuôi nhiều năm qua. Tuy nhiên, từ ngày 1/1/2020, khi Luật Chăn nuôi năm 2018 (số 32/2018/QH14) có hiệu lực với nhiều cơ chế đặc biệt, được kỳ vọng góp phần thúc đẩy ngành chăn nuôi phát triển ổn định, bền vững.

Thực tế những năm qua, ngành chăn nuôi của tỉnh phát triển nhanh về số lượng đàn gia súc, gia cầm cũng như các hộ nuôi.Tuy nhiên cũng phát sinh những vấn đề về dịch bệnh trên gia súc, gia cầm; ô nhiễm môi trường; xuất hiện tình trạng nhập lậu gia súc, gia cầm không qua kiểm dịch; sử dụng kháng sinh, chất cấm trong chăn nuôi, ảnh hưởng đến sức khoẻ người dân.

Những năm gần đây, đã xuất hiện tình trạng dư thừa sản phẩm, cung vượt cầu, công nghiệp giết mổ và chế biến chưa phát triển, dịch bệnh khó kiểm soát, dẫn đến giá sản phẩm giảm sâu, khó xuất khẩu...Ngoài ra, một số quy định của Pháp lệnh giống vật nuôi năm 2004 đến nay không còn phù hợp hoặc trái với quy định của luật khác. Đây không chỉ là vấn đề riêng của Quảng Ninh mà trở thành bài toán chung của ngành chăn nuôi cả nước. Vì vậy, khi Luật Chăn nuôi năm 2018 có hiệu lực là cơ sở pháp lý và điều kiện để thực hiện tái cơ cấu theo hướng sản xuất. Luật có 8 chương và 83 điều. Một trong những điểm mới của Luật là các cơ sở chăn nuôi phải di dời ra khỏi thành phố, thị xã, thị trấn, khu dân cư. Theo đó, quy định cụ thể về các tiêu chí khu vực thuộc nội thành, nội thị, khu vực đông dân cư không được phép chăn nuôi; khu vực được phép chăn nuôi; các chính sách, cơ chế hỗ trợ di dời cơ sở chăn nuôi…Bên cạnh đó, khoản 1, Điều 54 của Luật quy định tổ chức, cá nhân phải kê khai hoạt động chăn nuôi với UBND xã, nhằm kiểm soát được quy mô chăn nuôi và có quy hoạch cụ thể từng vùng. Đáng chú ý, tổ chức, cá nhân đã thực hiện kê khai hoạt động chăn nuôi theo quy định sẽ được hỗ trợ thiệt hại, khôi phục sản xuất khi bị thiên tai, dịch bệnh. Luật còn quy định việc chăn nuôi trang trại phải có biện pháp xử lý chất thải, tiếng ồn trong chăn nuôi trang trại và nông hộ; quản lý sản phẩm xử lý chất thải chăn nuôi…, để từng bước kiểm soát vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, giải quyết dịch bệnh, ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi.

Để Luật Chăn nuôi đi vào cuộc sống, Sở NN&PTNT đã quán triệt đến ngành Nông nghiệp các địa phương, tổ chức tuyên truyền, cung cấp thông tin về Luật cho nông dân thông qua các chương trình, hội nghị; lồng ghép trong các buổi họp tổ dân, khu phố, thôn, bản để người dân nắm bắt. Sở dự kiến xây dựng nghị quyết trình HĐND tỉnh quy định khu vực thuộc nội thành, nội thị, khu vực dân cư không được phép chăn nuôi và chính sách hỗ trợ khi di dời cơ sở chăn nuôi ra khỏi khu vực không được phép chăn nuôi trên địa bàn tỉnh. Đây là những nội dung quan trọng, góp phần kiểm soát số lượng đàn gia súc, gia cầm, đảm bảo tình hình chăn nuôi trên địa bàn, nhất là vấn đề vệ sinh môi trường. Theo ông Trần Xuân Đông, Chi cục trưởng Chi cục Chăn nuôi và Thú ý (Sở NN&PTNT): Chủ trương của ngành chỉ khuyến khích các cơ sở đủ điều kiện, chủ động nguồn giống sạch, thực hiện cải tạo hạ tầng, đảm bảo an toàn sinh học để đầu tư nuôi mới. Chi cục cũng tham mưu cho Sở đề nghị UBND tỉnh chỉ đạo các địa phương rà soát, báo cáo đề xuất khu vực nội thành, nội thị, khu dân cư không được phép chăn nuôi; vùng chăn nuôi tập trung và cơ chế hỗ trợ di dời các cơ sở chăn nuôi ra khỏi khu vực không được phép chăn nuôi trên địa bàn tỉnh trong quý I/2020.

Đồng thời, chỉ đạo các địa phương triển khai tốt Nghị quyết số 231 ngày 7/12/2019 của HĐND tỉnh "Về kết quả giám sát công tác quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh từ năm 2017 đến nay"; yêu cầu các cấp, các ngành tập trung chỉ đạo khắc phục những tồn tại, hạn chế trong thực hiện công tác quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh.Phấn đấu đến hết năm 2021, 100% các địa phương xây dựng được cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tập trung phù hợp với điều kiện thực tiễn và cơ bản xóa các cơ sở giết mổ nhỏ lẻ trong khu dân cư trên địa bàn, thực hiện có hiệu quả Luật Chăn nuôi năm 2018.

Theo baoquangninh.com

Nâng cao giá trị nông sản

Ngành công nghiệp chế biến nông sản trên địa bàn tỉnh có bước phát triển về quy mô và cơ cấu ngành hàng. Theo thống kê của Sở NN&PTNT, toàn tỉnh hiện có 420 cơ sở sơ chế, chế biến nông sản. Thông qua việc đầu tư KHCN, giá trị các mặt hàng nông sản đã nâng lên rõ rệt.

          Ông Phan Văn Khôi, chủ cơ sở sản xuất chân giò nướng Ba miền (thôn Tân Mai, xã Tân Lập, huyện Đầm Hà) chia sẻ: Gia đình tôi có truyền thống làm nghề chân giò nướng từ lâu đời, nhưng chủ yếu sản xuất quy mô nhỏ lẻ, thu nhập không cao. Năm 2017, được sự tư vấn của huyện, gia đình tôi đã đưa sản phẩm chân giò nướng tham gia vào chương trình OCOP, đồng thời đầu tư gần 500 triệu đồng để xây dựng nhà xưởng, máy móc và các thiết bị phụ trợ, đảm bảo các quy chuẩn sản xuất khép kín và chất lượng cho sản phẩm. Từ khi tham gia vào chương trình OCOP, giá của sản phẩm tăng từ 200.000 đồng/kg lên 250.000 đồng/kg, lượng tiêu thụ nhiều hơn vì vậy doanh thu cũng tăng gấp đôi so với trước, khoảng 450-500 triệu đồng/năm.

          Không chỉ gia đình ông Khôi, việc đầu tư trang thiết bị, KHCN trong chế biến nông sản đã giúp nâng cao số lượng cũng như chất lượng sản phẩm. Như ở Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp chất lượng cao Hoa Phong (TX Đông Triều), đơn vị đã đầu tư hàng loạt máy móc, thiết bị trong sản xuất gạo nếp cái hoa vàng như: Dàn máy xay, xát và đóng gói bao bì sản phẩm liên hoàn với mức đầu tư trên 200 triệu đồng; nhà xưởng và kho chứa thóc rộng 450m2, trị giá gần 1 tỷ đồng. Nhờ vậy, chi phí đã giảm tới 30% so với sản xuất theo kiểu truyền thống, giảm số lượng nhân công tới 40% so với trước kia. Doanh thu sản phẩm nếp cái hoa vàng đạt 400-500 triệu đồng/năm, được thị trường trong và ngoài tỉnh đón nhận. Thời gian vừa qua, nhiều nông sản, trong đó có các sản phẩm OCOP đã được đẩy mạnh ứng dụng kỹ thuật, KHCN cao. Tiêu biểu như: Công nghệ cô đặc nước mắm Vân Đồn bằng năng lượng mặt trời; công nghệ sấy bột dong riềng Bình Liêu; chế biến ruốc hàu, ruốc tôm; công nghệ chế biến sữa tươi Đông Triều thành một số sản phẩm bơ, kem; công nghệ sấy lúa; hạ thủy phần mật ong Uông Bí...Để nâng cao chất lượng và số lượng cho mặt hàng nông sản, các cấp, ngành đã đặt ra những mục tiêu, định hướng rõ nét cho ngành công nghiệp chế biến nông sản. Tại hội nghị trực tuyến "Thúc đẩy phát triển công nghiệp chế biến nông sản và cơ giới hóa nông nghiệp" ngày 21/2, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã nhấn mạnh, tầm nhìn phát triển công nghiệp chế biến nông sản của Việt Nam phấn đấu đến năm 2030 đứng trong tốp 10 thế giới, là một trung tâm chế biến sâu và logistics nông sản toàn cầu.

Tại tỉnh Quảng Ninh, để bảo đảm triển khai tốt các nhiệm vụ trọng tâm trên, tỉnh Quảng Ninh đã và đang có những giải pháp chiến lược trên cơ sở khai thác tốt những lợi thế, tiềm năng của địa phương. Với định hướng đến năm 2030, tỉnh phát triển các vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung, quy mô lớn, khuyến khích phát triển nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ gắn với xây dựng nhà máy chế biến để giảm chi phí sản xuất cho những sản phẩm ngành hàng chủ lực của tỉnh, tăng lợi thế cạnh tranh. Đồng thời, tăng cường sản xuất nông, lâm, thủy sản theo chuỗi từ cung ứng giống, vật tư đầu vào đến kỹ thuật nuôi trồng, chế biến nông sản, trong đó, ưu tiên các sản phẩm OCOP. Cụ thể, chuyển dịch cơ cấu sản phẩm chế biến theo hướng nâng cao tỷ trọng các sản phẩm có giá trị kinh tế cao, nâng cao chất lượng và an toàn thực phẩm, hạ giá thành sản phẩm. Đến năm 2030, giá trị kinh tế các ngành nông, lâm, thủy sản tăng bình quân 30% so với hiện nay, đối với một số ngành hàng chủ lực của tỉnh: Gạo nếp cái hoa vàng tăng 40%, chè tăng 30%, thủy sản tăng 30%, đồ gỗ tăng trên 20%.

Để thực hiện nội dung đó, Sở NN&PTNT tiếp tục thực hiện tái cơ cấu ngành Nông nghiệp theo hướng tổ chức sản xuất hàng hóa gắn với lợi thế từng vùng, thị trường. Nhất là, triển khai có hiệu quả Nghị quyết 194/NQ-HĐND ban hành ngày 30/7/2019 về việc ban hành chính sách khuyến khích đầu tư, liên kết trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Đây được coi là tiền đề, động lực cho ngành chế biến sản phẩm nông nghiệp với hàng loạt các chương trình cụ thể hóa chính sách, quy định của Trung ương. Đồng thời, triển khai nhiều ưu đãi, hỗ trợ đặc thù của tỉnh giúp cho doanh nghiệp tăng cường nguồn vốn, nhận được ưu đãi lãi suất, cơ sở hạ tầng thuận lợi cho đầu tư, sản xuất.

Theo baoquangninh.com

LÂM NGHIỆP

Hải Hà: Bảo vệ rừng phòng hộ

Trong những năm qua, các lực lượng chức năng trên địa bàn huyện Hải Hà đã tích cực tuyên truyền, phổ biến cho nhân dân sống trong vùng rừng phòng hộ hiểu biết về lợi ích, tầm quan trọng của công tác bảo vệ, phát triển rừng. Đồng thời, tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát, xử lý những vi phạm các quy định về bảo vệ rừng. Do đó, tình trạng cháy rừng, chặt phá, khai thác rừng phòng hộ được kiểm soát. Tỷ lệ che phủ rừng duy trì 61%.

         Theo kết quả rà soát 3 loại rừng năm 2018, huyện Hải Hà có 33.189,1ha đất quy hoạch đất lâm nghiệp, trong đó có 15.485,3ha rừng phòng hộ và 17.703,8ha rừng sản xuất. Để quản lý, bảo vệ, phát triển rừng bền vững, huyện Hải Hà đã thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện Kế hoạch bảo vệ, phát triển rừng huyện Hải Hà giai đoạn 2011-2020. Trên cơ sở các văn bản quy định, hướng dẫn triển khai thực hiện liên quan đến công tác quản lý, bảo vệ rừng phòng hộ, UBND huyện Hải Hà đã chỉ đạo các ngành chức năng, các địa phương tổ chức tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng phòng hộ trên địa bàn cho người dân thông qua các buổi sinh hoạt, hội nghị; thực hiện tuyên truyền trên loa phát thanh của các thôn, bản để người dân nâng cao ý thức, trách nhiệm về quản lý, bảo vệ rừng phòng hộ, không chặt phá rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng phòng hộ ven biển. Từ năm 2013, BQL Rừng phòng hộ Trúc Bài Sơn được giao quản lý, bảo vệ 6.681ha rừng phòng hộ đầu nguồn tại xã Quảng Sơn. Để bảo vệ, phát triển rừng, BQL đã phối hợp với đơn vị tư vấn, xã Quảng Sơn tiến hành phân giới cắm mốc ngoài thực địa để thuận lợi cho công tác quản lý, bảo vệ rừng cũng như để người dân biết được ranh giới, phạm vi rừng phòng hộ. Duy trì 3 trạm quản lý, bảo vệ rừng trên 3 tuyến cửa rừng: Trạm Quảng Sơn, Trạm bờ hồ Trúc Bài Sơn và Trạm ngã ba Tài Chi - Cấu Lìm. Mỗi trạm có 3-4 cán bộ nhân viên trực 24/24h, thường xuyên tổ chức tuần tra, kiểm tra những khu vực trọng điểm để kịp thời phát hiện và ngăn chặn những hành vi xâm hại đến tài nguyên rừng. BQL Rừng phòng hộ Trúc Bài Sơn đã thực hiện hiệu quả công tác giao khoán, bảo vệ rừng đến 13 nhóm hộ dân sống gần rừng để nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ rừng với diện tích hơn 3.000ha. Hạt Kiểm lâm huyện đã tham mưu cho BQL chỉ đạo thực hiện Kế hoạch bảo vệ phát triển rừng huyện Hải Hà giai đoạn 2011-2020 và công tác PCCCR. Đồng thời, các địa phương đã phối hợp chặt chẽ với lực lượng chức năng, huy động lực lượng quần chúng trên địa bàn phát hiện và ngăn chặn kịp thời những hành vi xâm hại đến rừng phòng hộ. 

           Tại Hải Hà, rừng phòng hộ phân bố chủ yếu ở các xã Quảng Sơn, Quảng Đức, Cái Chiên, theo kết quả rà soát 3 loại rừng, hiện có 830,13ha rừng sản xuất sau khi rà soát được quy hoạch là rừng phòng hộ và 378,34ha được quy hoạch là rừng phòng hộ nhưng chưa có quyết định giao đất cho BQL Rừng phòng hộ Trúc Bài Sơn, trong khi đó một số hộ dân vẫn đang sản xuất, trồng rừng trên diện tích này, gây khó khăn cho công tác quản lý của ngành chức năng; vẫn còn tình trạng người dân lén lút vào rừng khai thác gỗ, phát rừng, lấn chiếm rừng; chăn thả gia súc trong khu vực rừng phòng hộ. Đối với 100ha rừng sản xuất của 30 hộ dân xã Cái Chiên đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nay quy hoạch thành rừng phòng hộ cũng đang gặp nhiều khó khăn.

Theo baoquangninh.com

Phát triển lâm nghiệp bền vững

Ngày 28/11/2019, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Nghị quyết 19-NQ/TU về phát triển lâm nghiệp bền vững tỉnh Quảng Ninh đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030. Nghị quyết được kỳ vọng là đòn bẩy để ngành lâm nghiệp phát triển bền vững, góp phần chuyển đổi mục tiêu tăng trưởng từ "nâu" sang "xanh" của tỉnh.

Theo báo cáo của ngành lâm nghiệp, Quảng Ninh hiện có gần 70% diện tích tự nhiên là rừng và đất quy hoạch lâm nghiệp. Đến hết năm 2019 độ che phủ rừng trên địa bàn đạt khoảng 54,75%, hệ sinh thái rừng tương đối phong phú, đa dạng. Những năm qua, tỉnh đã luôn chú trọng công tác lãnh đạo, chỉ đạo quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; độ che phủ rừng tăng lên, chất lượng rừng có bước cải thiện đáng kể. Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 đã được phê duyệt và triển khai thực hiện, là cơ sở để đầu tư nghiên cứu thống kê, bảo vệ và phát huy giá trị đa dạng sinh học của tỉnh. Cơ cấu vốn đầu tư cho ngành lâm nghiệp giai đoạn 2015-2019 của địa phương (chiếm gần 6% so với tổng chi cho ngành Nông nghiệp) luôn cao hơn tỷ lệ vốn của trung ương (chiếm 2,47%) và vốn ODA cho ngành lâm nghiệp của tỉnh. Tuy nhiên, trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh còn một số hạn chế, yếu kém, tồn tại, như: Hệ thống cơ chế, chính sách của tỉnh chưa tạo đột phá trong phát triển sản xuất lâm nghiệp. Đặc biệt là trong lĩnh vực trồng mới, chuyển rừng sản xuất sang rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng trồng gỗ nhỏ thành rừng gỗ lớn gắn với chế biến sâu, phát triển cây dược liệu. Công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia bảo vệ, phát triển rừng và phát triển kinh tế từ các sản phẩm của rừng chưa được quan tâm đúng mức. Tình trạng sang nhượng, cho tặng, chuyển đổi mục đích rừng, đất rừng trái phép, xâm lấn đất lâm nghiệp; lợi dụng các dự án trồng, bảo vệ rừng để khai thác lâm sản, khoáng sản hoặc xây dựng trái phép các công trình trên đất lâm nghiệp vẫn còn xảy ra. Cùng với đó là những khó khăn, như: Tính đa dạng sinh học, chất lượng rừng đặc dụng, rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng cảnh quan nhiều nơi giảm sút; việc giao đất, giao rừng ở một số địa phương còn chậm; các cơ sở chế biến lâm sản nhỏ lẻ, manh mún; thực hiện chính sách phát triển lâm nghiệp một số nơi còn hạn chế;...

 Nguyên nhân của những khó khăn trong phát triển lâm nghiệp của tỉnh thời gian qua đã được tỉnh nhìn nhận, đánh giá một cách cụ thể. Trong đó, nguyên nhân cơ bản được xác định là do nhận thức của một số cấp ủy, chính quyền địa phương, nhất là người đứng đầu về tầm quan trọng của rừng còn hạn chế, chưa thực sự quan tâm, thiếu quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo; hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực lâm nghiệp nhiều nơi chưa đáp ứng được yêu cầu, phân công trách nhiệm chưa rõ ràng và thiếu sự liên thông giữa các chủ thể quản lý.

Từ việc nhận diện những thuận lợi, khó khăn cũng như xác định rõ tầm quan trọng trong công tác phát triển lâm nghiệp, Nghị quyết số 19-NQ/TU đặt mục tiêu tạo chuyển biến căn bản, sâu sắc trong nhận thức, trách nhiệm, hành động của các cấp ủy đảng, chính quyền, hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và toàn xã hội về vai trò quan trọng của rừng và đất lâm nghiệp. Đồng thời, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường của từng loại rừng, tăng giá trị rừng sản xuất trên đơn vị diện tích; góp phần giảm nhẹ thiên tai, bảo vệ môi trường sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học; ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng; phát triển bền vững du lịch sinh thái. Nghị quyết cũng đặt mục tiêu phải thu hút các doanh nghiệp lớn đầu tư theo chu trình khép kín, bền vững; tạo các sản phẩm theo chuỗi có giá trị kinh tế cao. Một số chỉ tiêu cơ bản giai đoạn 2019-2025, như: Nâng độ che phủ rừng toàn tỉnh đạt 55% vào năm 2020; bảo vệ, phục hồi hiệu quả khoảng 122.749ha rừng tự nhiên, 19.741ha rừng ngập mặn; tốc độ tăng trưởng của ngành lâm nghiệp đạt từ 5,5-6%; xây dựng mức tối thiểu 1 nhà máy chế biến lâm sản tổng hợp khép kín công suất 400.000m3/năm...  Đến giai đoạn 2025-2030: Duy trì ổn định tỷ lệ che phủ rừng trên 55% và nâng cao chất lượng rừng; tốc độ tăng trưởng của ngành lâm nghiệp đạt từ 4-5%; cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững thêm 15.000ha rừng trồng sản xuất; chuyển hóa 6.000ha rừng keo gỗ nhỏ thành rừng gỗ lớn; giảm số lượng cơ sở chế biến nhỏ xuống dưới 170 cơ sở....

Để Nghị quyết đi vào cuộc sống, ngay trong những ngày đầu năm 2020, UBND tỉnh đã xây dựng Chương trình hành động (số 60/Ctr-UBND, ngày 6/1/2020) thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TU. Trong đó yêu cầu: các sở, ngành, địa phương khẩn trương triển khai, thực hiện Nghị quyết trên cơ sở cụ thể hóa bằng các giải pháp khả thi, phù hợp, có trọng tâm, trọng điểm, gắn với tình hình thực tế của tỉnh và từng địa phương, đơn vị; xác định rõ mục tiêu, lộ trình, tiến độ thực hiện. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện kế hoạch phải đặt dưới sự chỉ đạo, điều hành chặt chẽ của các cấp ủy đảng, chính quyền và gắn với công tác vận động, giám sát của MTTQ, các tổ chức đoàn thể, sự vào cuộc tích cực của cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân. Song song với đó, cần đổi mới phương thức phối hợp giữa các cơ quan nhà nước, giữa Nhà nước và doanh nghiệp, tạo sự liên kết giữa các ngành, lĩnh vực, địa phương để phát triển lâm nghiệp bền vững trên địa bàn tỉnh.

Thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh, các sở, ngành, địa phương đang tích cực nghiên cứu xây dựng Chương trình thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TU của đơn vị, địa phương mình, để triển khai đạt kết quả.

Theo baoquangninh.com

 

NGƯ NGHIỆP

Phát triển nuôi tôm theo hướng bền vững

Năm qua, lĩnh vực thủy sản của tỉnh có sự bứt phá mạnh, trong đó riêng sản lượng nuôi tôm công nghiệp toàn tỉnh tăng 15% so với năm 2018. Có được kết quả đó là do Quảng Ninh luôn chủ động về con giống sản xuất phục vụ nuôi trồng. Bên cạnh đó, các hộ nuôi tôm cũng tích cực ứng dụng công nghệ để tăng năng suất và giá trị con tôm.

Ngay sau khi hoàn thiện cơ sở hạ tầng, vào tháng 3/2019, Tập đoàn Việt Úc chính thức cho ra những mẻ tôm giống tôm thẻ chân trắng đầu tiên tại huyện Đầm Hà phục vụ nguời nuôi tôm trong tỉnh. Như vậy sau nhiều năm khó khăn về nguồn giống tại chỗ, “nút thắt“ đã được tỉnh tháo gỡ, không chỉ đáp ứng nhu cầu về con giống rõ nguồn gốc, kiểm soát chất lượng con giống đầu vào mà còn thúc đẩy lĩnh vực nuôi tôm công nghiệp trên địa bàn. Anh Vũ Văn Tuấn - một trong nhiều chủ hộ nuôi tôm công nghiệp ở thôn Nhâm Cao, xã Đại Bình (Đầm Hà), cho biết: Năm vừa rồi khi Đầm Hà có cơ sở sản xuất tôm giống của Việt Úc, gia đình tôi cũng mua về thả. Quá trình nuôi tôi thấy tôm giống khỏe mạnh, phát triển tốt, con tôm to đều và đẹp.

Cũng nhờ chủ động con giống tại chỗ, việc nuôi tôm công nghiệp trên địa bàn Đầm Hà được thúc đẩy. Kết thúc năm 2019, sản lượng nuôi tôm công nghiệp của huyện đạt 2.340 tấn, bằng 103,11% so với năm 2018 và đóng góp vào tốc độ tăng trưởng của lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp tăng 38%. Ông Phạm Văn Kha, Phó Chủ tịch UBND huyện Đầm Hà, khẳng định: Đạt được kết quả này là do trên địa bàn đã có cơ sở sản xuất tôm giống tại chỗ, phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng nên người dân đã lựa chọn đưa vào sản xuất thâm canh. Bên cạnh đó, người dân cũng học tập kinh nghiệm áp dụng khoa học kỹ thuật mới vào trong nuôi trồng. Đây cũng là tiền đề để chúng tôi tiếp tục định hướng cho người dân mua con giống và áp dụng trong năm 2020 cũng như những năm tiếp theo.

Hiện nay các địa phương trên địa bàn tỉnh có thế mạnh nuôi tôm công nghiệp, là: Móng Cái, Đầm Hà, Hải Hà, Tiên Yên, Quảng Yên. Các địa phương tiếp tục dành nguồn lực đầu tư hạ tầng dùng chung, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế của người dân. Tại Tiên Yên, đã triển khai Dự án cơ sở hạ tầng vùng nuôi trồng thủy sản tại xã Hải Lạng với tổng mức đầu tư 170 tỷ đồng trong 2 năm (2019-2020). Qua đó, đã thúc đẩy các hộ nuôi tôm áp dụng công nghệ nuôi an toàn như nuôi bằng công nghệ vi sinh, nuôi 2 giai đoạn, nuôi bể ươm di động để tăng năng suất, sản lượng. Riêng xã Hải Lạng, năm qua sản lượng nuôi tôm công nghiệp đạt 830 tấn, tăng 15% so với năm 2018. Nhờ có hạ tầng được đầu tư, chính quyền địa phương thường xuyên phối hợp quan trắc môi trường gửi mẫu về Trung tâm thủy sản 2 Hải Phòng cảnh báo cho các hộ nuôi nên tỷ lệ dịch bệnh giảm 60% so với những năm trước. Với các giải pháp đầu tư cho lĩnh vực nuôi tôm công nghiệp được tỉnh và các địa phương quan tâm đầu tư, năm 2019 diện tích nuôi tôm công nghiệp của tỉnh đã đạt gần 4.500ha, tăng khoảng 15% so với năm 2018. Điều này đã góp phần tạo sự bứt phá mạnh về sản lượng nuôi tôm công nghiệp của tỉnh năm qua đạt 15 nghìn tấn, tăng 2 nghìn tấn so với năm trước. Năng suất bình quân 1ha nuôi tôm công nghiệp đạt 3 tấn. Ông Nguyễn Văn Công, Phó Giám đốc Sở NN&PTTN, khẳng định: Tôm là đối tượng chủ lực của tỉnh. Năm 2019 tăng trưởng về sản lượng 15% đã đóng góp lớn vào cơ cấu chung của ngành với tổng giá trị sản xuất 1.500 tỷ đồng. Kết quả này có sự đầu tư của tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp, người dân trong ứng dụng công nghệ mới sản xuất nuôi tôm theo quy mô công nghiệp. Đặc biệt, năm 2019 Tập đoàn Việt Úc đã sản xuất trên 600 triệu con giống cung ứng cho thị trường. Cùng với Tập đoàn Việt Úc, các đơn vị sản xuất cung ứng giống tôm thẻ chân trắng phục vụ nuôi tôm công nghiệp trên địa bàn tỉnh đều đảm bảo rõ nguồn gốc và đảm bảo chất lượng theo đúng quy định.

Với những kết quả đã đạt được, năm 2020, ngành Nông nghiệp Quảng Ninh tiếp tục tăng cường quản lý nhà nước trong quản lý chất lượng đầu vào của con tôm. Đồng thời tổ chức lại sản xuất theo hướng liên kết giữa các khâu gắn với tiêu thụ. Ngành cũng triển khai có hiệu quả Nghị quyết số 194/NQ-HĐND tỉnh về việc ban hành chính sách khuyến khích đầu tư, liên kết trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp tỉnh nhằm đa dạng các nguồn lực để đầu tư phát triển tôm và thúc đẩy mạnh mẽ các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn của tỉnh. Cùng với đó, tỉnh tiếp tục áp dụng quy trình nuôi tôm VietGAP cũng như thực hiện cấp mã vùng nuôi tôm để truy suất nguồn gốc, đáp ứng tốt nhu cầu tiêu thụ trong nước cũng như xuất khẩu.

Theo Baoquangninh.gov.vn

Gỡ khó cho nông sản

Theo đánh giá sơ bộ của ngành Nông nghiệp, do ảnh hưởng từ dịch Covid-19, việc tiêu thụ nhuyễn thể và trứng gà Tân An đang rất khó khăn cả ở thị trường nội địa và xuất khẩu. Trong thời gian tới, một số nông sản sẽ vào vụ thu hoạch chính như: Chè khô khoảng 700 tấn, tôm khoảng 400 tấn và các loại thủy sản khai thác khoảng 2.500 tấn... Trong bối cảnh tình hình dịch Covid-19 còn diễn biến phức tạp, thời gian dịch tiếp tục kéo dài, một số sản phẩm trước đây xuất khẩu sang thị trường chính là Trung Quốc sẽ gặp khó khăn và có nguy cơ tồn đọng rất lớn.

Với diện tích trang trại khoảng 5ha, quy mô nuôi trên 6 vạn con gà, ước tính mỗi ngày trang trại trứng gà Tân An (TX Quảng Yên) cung cấp cho thị trường khoảng 40.000-50.000 quả trứng. Do đảm bảo tiêu chuẩn VietGAP nên thị trường tiêu thụ của trang trại trong những năm qua khá ổn định. Khách hàng chủ yếu là siêu thị BigC Hạ Long, các trường học, nhà hàng, khách sạn... trên địa bàn tỉnh. Từ đầu năm đến nay, dịch bệnh Covid-19 diễn ra khiến các trường học tạm thời đóng cửa, nhiều quán ăn, nhà hàng, khách sạn cũng rơi vào tình trạng hoạt động cầm chừng do vắng khách. Vì vậy, việc cung ứng trứng gà Tân An khá chậm. Hiện trang trại đang bị tồn 180.000 quả trứng và dự kiến lượng tồn tăng cao trong thời gian tới.

Tương tự, các nhuyễn thể ở các địa phương trong tỉnh như Vân Đồn, Quảng Yên và Hải Hà, cũng đang ứ đọng do lượng tiêu thụ giảm mạnh. Thống kê sơ bộ từ các địa phương này, hiện có khoảng 3.000 tấn ngao hai cùi và 7.000 tấn hàu Thái Bình Dương, hàu cửa sông đã đến vụ thu hoạch nhưng chưa tiêu thụ được. Nguyên nhân là do phía Trung Quốc đã tạm ngừng nhập khẩu các sản phẩm hàng hóa từ Việt Nam, trong đó có nhuyễn thể. Đáng chú ý, đây lại là thị trường tiêu thụ chủ lực của người dân, chiếm trên 90% sản lượng.

Ông Nguyễn Văn Dũng, Giám đốc Công ty CP Tân An (TX Quảng Yên), chia sẻ: Sản phẩm hàu cửa sông của chúng tôi rất được thị trường Trung Quốc ưa thích, mỗi năm thu hoạch khoảng 400 tấn hàu, nhưng vẫn gần như không đủ để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của họ. Thế nhưng từ đầu năm đến nay, các đơn hàng từ phía Trung Quốc đều đã bị đóng băng, khiến cho Công ty đang bị tồn khoảng 3.000 tấn. Trong khi sản lượng tiêu thụ nội địa rất thấp, chỉ được 3-4 tấn/ngày.

Đứng trước những nguy cơ này, tỉnh cũng đang tích cực triển khai nhiều giải pháp để giải bài toán tiêu thụ cho người nông dân. Theo đó, ngày 21/2, trong buổi làm việc với các đơn vị ngành Than và 12 địa phương của tỉnh, đồng chí Ngô Hoàng Ngân, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy đã đề nghị Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) tăng cường việc tiêu thụ các sản phẩm OCOP của tỉnh và đặc biệt là những sản phẩm nhuyễn thể đang bị tồn đọng lớn do dịch bệnh Covid-19. Tiếp đó, từ ngày 25/2 đến nay, Sở Công Thương đã có văn bản gửi TKV, các doanh nghiệp lớn trên địa bàn tỉnh để đề nghị hỗ trợ tiêu thụ nông sản cho người dân và làm việc trực tiếp với UBND huyện Vân Đồn để triển khai các hoạt động kết nối, lên phương án hỗ trợ tiêu thụ cho các cơ sở nuôi trồng lớn đang gặp khó khăn. Đồng thời, báo cáo Bộ Công Thương và tích cực phối hợp với Bộ để sớm kết nối, đưa các sản phẩm vào tiêu thụ tại các siêu thị, trung tâm thương mại lớn trên toàn quốc. Cùng với sự vào cuộc của Sở Công Thương, hiện Sở NN&PTNT cũng đã tiến hành việc rà soát, thống kê, lên danh sách cụ thể các cơ sở sản xuất sản phẩm nông nghiệp có nguy cơ mất cân đối cung cầu, gặp khó khăn trong xuất khẩu và tiêu thụ. Đối với những sản phẩm nằm trong danh mục xuất khẩu, đủ điều kiện xuất khẩu, Sở cũng đang phối hợp với Bộ NN&PTNT để cấp chứng thư cho các doanh nghiệp xuất khẩu sang Trung Quốc theo đường chính ngạch và các thị trường khác.

Ông Nguyễn Văn Công, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT, cho biết: Cùng với sự vào cuộc của các đơn vị chức năng, người sản xuất cũng cần chủ động tìm kiếm thị trường tiêu thụ mới trong nội địa, cũng như chú trọng đến việc sản xuất đảm bảo VSATTP và có sự liên kết theo chuỗi để không bị động trước những diễn biến phức tạp của dịch Covid-19 trong thời gian tới.

 

Theo baoquangninh.com

Xuất khẩu tôm Việt Nam được dự báo thuận lợi hơn trong năm 2020

Các doanh nghiệp xuất khẩu tôm sang EU, Mỹ và Nhật Bản có nhiều cơ hội nhờ EVFTA, chiến tranh thương mại Mỹ - Trung và Thế vận hội Tokyo.

Theo Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản (VASEP), năm 2019, xuất khẩu (XK) tôm của Việt Nam đạt 3,36 tỷ USD, giảm 5,4% so với năm 2018. Mặc dù không đạt kết quả khả quan như kỳ vọng nhưng xuất khẩu tôm Việt Nam sang các thị trường nhập khẩu (NK) chính cũng cho thấy những tín hiệu tích cực trong năm 2020. Năm 2019, XK tôm chân trắng giảm 3,4% đạt 2,4 tỷ USD, chiếm 70,1% giá trị tôm XK, tôm sú giảm mạnh 15,9% đạt trên 687 triệu USD, chiếm 20,4%, các sản phẩm tôm biển và tôm khác đạt 317,6 triệu USD, chiếm gần 9,4%.

Nửa đầu năm 2019, sản lượng tôm tăng, giá tôm nguyên liệu giảm, trong khi lượng tồn kho tôm tại các thị trường cao, nguồn cung tôm từ các nước khác cũng tăng khiến giá tôm NK tại các thị trường hạ thấp hơn so với năm ngoái, do vậy XK tôm tiếp tục xu hướng sụt giảm từ năm 2018. Trong khi đó, Trung Quốc siết chặt kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn gốc tại biên giới và những diễn biến khó lường của cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung. XK tôm giảm chủ yếu do kết quả XK nửa đầu năm kém. Nửa cuối năm, XK tôm hồi phục dần nhờ giá tôm nguyên liệu và XK tăng.

EU là thị trường nhập khẩu tôm lớn nhất của Việt Nam, chiếm tỷ trọng 20,5% trong tổng giá trị XK tôm của Việt Nam. Năm 2019, XK tôm Việt Nam sang thị trường EU đạt 689,8 triệu USD, giảm 17,7% so với năm 2018. XK tôm Việt Nam sang EU năm 2019 sụt giảm so với năm 2018 tuy nhiên Hiệp định EVFTA dự kiến có hiệu lực năm 2020 có thể tạo kỳ vọng cho XK tôm Việt Nam sang thị trường này trong năm 2020. Theo EVFTA, thuế NK hầu hết tôm nguyên liệu (tươi, đông lạnh, ướp lạnh) NK vào EU sẽ được giảm từ mức thuế cơ bản 12-20% xuống 0% ngay khi hiệp định có hiệu lực, thuế NK tôm chế biến sẽ về 0% sau 7 năm kể từ khi hiệp định có hiệu lực. Mỹ đứng thứ 2 về NK tôm Việt Nam, chiếm tỷ trọng 19,4%. Năm 2019, XK tôm Việt Nam sang thị trường Mỹ đạt 653,9 triệu USD, tăng 2,5% so với năm 2018. Từ đầu năm 2019, mặc dù tăng trưởng không cao nhưng XK tôm Việt Nam sang Mỹ duy trì được giá trị XK ổn định so với năm 2018. Nhu cầu NK tôm của Mỹ từ Việt Nam giai đoạn cuối năm 2019 tích cực hơn nhờ Mỹ có xu hướng giảm NK từ Ấn Độ, Thái Lan và giảm mạnh NK từ Trung Quốc. Trong tháng 8/2019, Bộ Thương mại Mỹ (DOC) đã công bố kết quả cuối cùng của đợt rà soát hành chính lần thứ 13 (POR 13) về thuế chống bán phá giá tôm Việt Nam vào Mỹ với 31 doanh nghiệp được hưởng mức thuế 0%. Thông tin này giúp tạo thêm động lực cho các DN XK tôm Việt Nam sang Mỹ. Căng thẳng thương mại Mỹ-Trung khiến Mỹ tăng thuế 25% đối với 250 tỷ hàng hóa NK từ Trung Quốc trong đó có sản phẩm tôm. XK tôm của Trung Quốc sang Mỹ càng thêm khó khăn, tạo cơ hội cho các nguồn cung đối thủ của Trung Quốc trên thị trường Mỹ trong đó có Việt Nam. Mặt hàng tôm bao bột từ Việt Nam XK sang Mỹ cạnh tranh tốt hơn với Trung Quốc trên thị trường Mỹ. 10 tháng đầu năm 2019, XK tôm bao bột từ Việt Nam sang Mỹ đạt 9.045 tấn, trị giá 64,9 triệu USD, tăng 52% về khối lượng và 49% về giá trị so với cùng kỳ năm 2018. XK tôm bao bột từ Trung Quốc sang Mỹ đạt 16.113 tấn, trị giá 85,3 triệu USD, giảm 31% về khối lượng và giảm 38% về giá trị so với cùng kỳ năm 2018. XK tôm Việt Nam sang Nhật Bản năm 2019 đạt trên 618,6 triệu USD, giảm 3,3% so với năm 2018. Trong cơ cấu tôm XK sang Nhật Bản, tôm chân trắng chiếm 58%, tôm sú 23,4% và tôm biển 18,7%.

Thế vận hội Olympics Tokyo 2020 sẽ thúc đẩy tiêu dùng thủy sản trên thị trường Nhật Bản, đặc biệt là tôm nên nhu cầu tiêu thụ tôm dự kiến tăng, tạo cơ hội cho các nhà XK tôm trên thế giới. XK tôm năm 2020 dự kiến sẽ thuận lợi hơn so với năm 2019. Thuế chống bán phá giá tại thị trường Mỹ đã về 0%. Hiệp định EVFTA khả năng có hiệu lực từ tháng 6/2020, sẽ giúp tăng trưởng XK tôm vào thị trường châu Âu nhờ lợi thế về thuế suất. Đối với thị trường Trung Quốc, hiện từ 75 - 80% hàng thủy sản của Việt Nam đã XK chính ngạch là yếu tố quan trọng giúp cho việc hồi phục và tăng trưởng XK tôm vào thị trường này trong thời gian tới./.

Theo vov.vn

Y TẾ

Bệnh viện Đa khoa tỉnh ứng dụng kỹ thuật y học hạt nhân trong điều trị tim mạch

Xác định tim mạch là lĩnh vực chuyên sâu mũi nhọn, Bệnh viện Đa khoa tỉnh mới đây đã tiếp nhận chuyển giao kỹ thuật xạ hình SPECT tưới máu cơ tim từ Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Đây là một trong những ứng dụng y học hạt nhân quan trọng trong chuyên ngành tim mạch, nâng cao chất lượng chẩn đoán, điều trị cho người bệnh, mở ra chiến lược phát triển chuyên môn theo hướng hội nhập quốc tế.

Hiện nay, lĩnh vực tim mạch hạt nhân trong đó tiêu biểu là kỹ thuật xạ hình tưới máu cơ tim (Myocardial Perfusion Imaging - MPI) là một trong những xu hướng phát triển của y học thế giới, làm cải thiện chẩn đoán, thay đổi hiệu quả điều trị bệnh. Đây là phương pháp chẩn đoán không chảy máu, có độ nhạy và độ đặc hiệu cao nhất trong chẩn đoán bệnh động mạch vành (thiếu máu cơ tim cục bộ). Kỹ thuật này đã được triển khai thường quy trên thế giới, đặc biệt là ở Mỹ với khoảng 9-10 triệu lượt bệnh nhân thực hiện mỗi năm. Tại Việt Nam, xạ hình tưới máu cơ tim ứng dụng sớm nhất với hiệu quả cao tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 và Bệnh viện Chợ Rẫy. Với sự quan tâm đầu tư của tỉnh và ngành Y tế, Bệnh viện Đa khoa tỉnh đã được đầu tư trang bị máy SPECT – hệ thống xạ hình chuyên dụng hiện đại thế hệ mới ứng dụng cho kỹ thuật MPI và đưa vào triển khai cho đợt bệnh nhân đầu tiên vào ngày 9/8 dưới sự hỗ trợ chuyển giao của Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Đến thời điểm hiện tại, Bệnh viện Đa khoa tỉnh là bệnh viện tuyến tỉnh đầu tiên của miền Bắc triển khai kỹ thuật này.

Ông Lưu Văn H. (81 tuổi), trú tại phường Hồng Hải, TP Hạ Long, là một trong những bệnh nhân đầu tiên được ứng dụng phương pháp xạ hình tưới máu cơ tim tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh. Qua khai thác tiền sử được biết, bệnh nhân đã từng can thiệp đặt stent động mạch vành nhánh mũ do bị nhồi máu cơ tim cấp, 2 nhánh còn lại là động mạch liên thất trước và động mạch vành phải hẹp khoảng 70-80%. Gần đây, ông thấy xuất hiện các cơn đau tức ngực bên trái. Các bác sĩ Khoa Tim mạch quyết định thực hiện chụp xạ hình SPECT tưới máu cơ tim cho bệnh nhân.

Ths.Bs Nguyễn Thị Thoa, Trưởng Khoa Tim mạch, Bệnh viện Đa khoa tỉnh, cho biết: “Để đánh giá hiệu quả can thiệp trước đó, đồng thời có hướng điều trị đúng đắn tiếp theo thì việc chỉ định cho bệnh nhân chụp xạ hình tưới máu cơ tim là phù hợp hơn cả. Qua kết quả chụp xạ hình tưới máu cơ tim cho thấy, vùng cơ tim do phần cung cấp máu của động mạch mũ được tưới máu tốt, chức năng co bóp vận động ổn định, chứng tỏ cơ tim bị tổn thương sau can thiệp tái tưới máu lần đầu đã hồi phục hoàn toàn. Các vùng cơ tim còn lại không có hình ảnh khuyết xạ hoàn toàn, tuy nhiên vùng cơ tim của động mạch vành phải cấp máu có biểu hiện thiếu máu nhẹ trong pha gắng sức.

Với kết quả này, bệnh nhân sẽ được điều trị nội khoa tối ưu mà chưa phải xét can thiệp ngay. Nếu sau điều trị, tình trạng tiến triển tích cực thì bệnh nhân sẽ không nhất thiết phải can thiệp. Trong trường hợp các triệu chứng đau ngực không cải thiện, chúng tôi sẽ nong và đặt stent cho nhánh mạch phải để tái tưới máu cơ tim. Nhờ phương pháp này đã giúp bác sĩ chẩn đoán mức độ bệnh chính xác cũng như xác định đúng vị trí và thời điểm can thiệp, hạn chế chỉ định thừa gây hệ lụy cho bệnh nhân”. Cùng với bệnh nhân H., Bệnh viện Đa khoa tỉnh còn thực hiện xạ hình tưới máu cơ tim cho 11 bệnh nhân khác mắc bệnh lý mạch vành trong đợt chuyển giao pha 2 của Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Kỹ thuật này sử dụng công nghệ chụp SPECT chuyên dụng không chỉ ứng dụng để chẩn đoán, mà còn có giá trị tiên lượng và phân tầng nguy cơ bệnh động mạch vành, nhằm định hướng chiến thuật điều trị đúng đắn bằng nội khoa, can thiệp hay phẫu thuật. Sâu hơn là đánh giá tình trạng sinh - bệnh lý của các tổn thương hẹp động mạch vành, đánh giá khả năng sống còn của vùng cơ tim tổn thương, phân biệt cơ tim đông miên còn cơ hội phục hồi sau tái tưới máu động mạch vành với cơ tim đã bị sơ hoá, hoại tử không thể phục hồi kể cả khi can thiệp. Ngoài ra, kỹ thuật này còn hỗ trợ bác sĩ đánh giá tiến triển sau quá trình điều trị nội khoa và theo dõi sau can thiệp tái tưới máu. Trước khi triển khai xạ hình tưới máu cơ tim, phương pháp chẩn đoán hiện đại được áp dụng là chụp mạch vành cản quang, nhưng đây là một thăm dò chảy máu và ẩn chứa nguy cơ. Bên cạnh đó, chụp động mạch vành phù hợp với trường hợp nguy cơ cao, bệnh lý cấp tính, chủ yếu đánh giá về cấu trúc giải phẫu, mức độ hẹp tắc của các nhánh mạch mà không thể đánh giá khả năng sống còn của cơ tim. Mặc dù có các phương pháp chẩn đoán không xâm lấn khác, như: Điện tâm đồ, siêu âm tim… tuy nhiên chúng đều không có đủ độ nhạy để phát hiện ra những tiến triển bất thường. Vì vậy, xạ hình SPECT tưới máu cơ tim là một phương pháp chẩn đoán bổ sung hữu hiệu về tình trạng sinh bệnh lý, chức năng và chuyển hoá của cơ tim gây nên do tổn thương động mạch vành, làm thay đổi mạnh mẽ hiệu quả điều trị đối với chứng thiếu máu cục bộ, giúp bác sĩ xác định chiến thuật điều trị tối ưu trong từng trường hợp. Ngay từ khi nhận được nguồn đầu tư trang thiết bị công nghệ cao của tỉnh và ngành Y tế, Bệnh viện Đa khoa tỉnh đã chủ động cử các kíp bác sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên của Khoa Tim mạch và Chẩn đoán hình ảnh tham gia khóa đào tạo, chuyển giao kỹ thuật tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Trong đợt chuyển giao pha 1 tại tuyến trên, các giáo sư chuyên gia đầu ngành của Bệnh viện 108 trực tiếp giảng dạy, cung cấp lý thuyết tổng quan, quy trình kỹ thuật và cách thức vận hành máy, đồng thời tổ chức thực hành bài bản tại chỗ cho các học viên.

PGS.TS Lê Ngọc Hà, Trưởng Khoa Y học hạt nhân, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, đánh giá: “Bệnh viện Đa khoa tỉnh có cách thức tiếp cận rất tốt trong việc tổ chức kíp phối hợp giữa tim mạch và chẩn đoán hình ảnh cùng tham gia đào tạo, chuyển giao kỹ thuật. Điều này sẽ phát huy được thế mạnh, năng lực chuyên môn của các bác sĩ trong từng chuyên ngành. Với kíp đào tạo bài bản này, chắc chắn việc triển khai kỹ thuật xạ hình tưới máu cơ tim tại đây trong thời gian tới sẽ mang lại những kết quả đáng mong đợi, khẳng định sự đúng đắn của Ban Giám đốc Bệnh viện khi tổ chức mô hình đào tạo tiên tiến, phù hợp với xu thế tương lai”. Quy trình thực hiện kỹ thuật xạ hình tưới máu cơ tim tương đối phức tạp, đòi hỏi sự chuẩn bị chu đáo, phối hợp nhịp nhàng của nhiều khoa, phòng trong tất cả các khâu. Bởi vậy để đảm bảo việc triển khai tại cơ sở diễn ra thuận lợi, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 đã cử kíp chuyển giao là các giáo sư, chuyên gia đầu ngành giàu kinh nghiệm trực tiếp xuống hỗ trợ “cầm tay chỉ việc” trong đợt vận hành đầu tiên. “Cùng với hệ thống máy móc trang thiết bị đồng bộ hiện đại thì kíp bác sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên của Bệnh viện Đa khoa tỉnh đã cơ bản thực hiện tốt, đáp ứng mọi yêu cầu nghiêm ngặt trong tất cả quy trình: Từ khi thăm khám chỉ định, thực hiện gắng sức, pha chế dược chất phóng xạ và tiêm cho người bệnh đến khâu chuẩn bị máy móc, thực hiện chụp xạ hình, phân tích kết quả và theo dõi, chăm sóc bệnh nhân sau tiêm…, đảm bảo hệ thống SPECT tim hoạt động chính xác tuyệt đối, an toàn cho người bệnh”, PGS.TS Lê Ngọc Hà khẳng định.

Với quyết tâm cập nhật và đón đầu xu thế, Bệnh viện Đa khoa tỉnh đã mạnh dạn phát triển tim mạch hạt nhân, đưa vào triển khai kỹ thuật xạ hình SPECT tưới máu cơ tim, nhằm thay đổi căn bản việc chẩn đoán và điều trị bệnh động mạch vành, mở ra nhiều cơ hội điều trị tối ưu nhất cho người bệnh. Đây là bước đột phá lớn trong lĩnh vực tim mạch của Bệnh viện Đa khoa tỉnh nói riêng và của ngành Y tế Quảng Ninh nói chung, giúp người dân trên địa bàn tỉnh và các vùng lân cận được tiếp cận với những kỹ thuật y học tiên tiến trên thế giới, hướng tới xây dựng một trung tâm tim mạch tuyến tỉnh uy tín hàng đầu khu vực phía Bắc.

Theo baoquangninh.com

Vững vàng y tế cơ sở

Mạng lưới y tế cơ sở ngày càng có vai trò quan trọng trong bảo vệ, chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân. Nếu y tế cơ sở chất lượng, hoạt động đảm bảo thì vừa giảm gánh nặng cho tuyến trên, vừa tiết kiệm chi phí, thời gian cho người bệnh. Do vậy, đổi mới, nâng cao chất lượng y tế cơ sở được ngành y tế Quảng Ninh xác định là nhiệm vụ quan trọng để hướng tới thực hiện bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân.

Hiện nay, tuyến y tế cơ sở (y tế thôn, bản, xã, phường, thị trấn, huyện, thị xã, thành phố) trên địa bàn tỉnh gồm có 12 trung tâm y tế (TTYT) tuyến huyện, trong đó có 9 TTYT đa chức năng; 2 bệnh viện đa khoa tuyến huyện; 9 phòng khám đa khoa khu vực; 177 trạm y tế tuyến xã. Nhờ mạng lưới y tế cơ sở phát triển rộng khắp mà Quảng Ninh đạt nhiều kết quả quan trọng trong chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân.

Ngành y tế tỉnh tiếp tục thực hiện trạm y tế tuyến xã theo 3 mô hình, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương và theo nhu cầu của người dân, đã phát huy hiệu quả, tiết giảm kinh phí đầu tư. Hầu hết các trạm y tế đã được đầu tư xây dựng khang trang, trang thiết bị tương đối đồng bộ, đáp ứng nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu... Toàn tỉnh có 143 trạm y tế xã có bác sĩ hoạt động, còn lại là các y sĩ; trên 95% thôn, bản có nhân viên y tế thôn bản hoạt động. Duy trì 100% xã đạt Bộ tiêu chí Quốc gia về y tế xã đến năm 2020 theo quy định của Bộ Y tế. Nhằm đổi mới hoạt động của trạm y tế, từ tháng 4/2019, TX Đông Triều là địa phương đầu tiên trong toàn tỉnh triển khai mô hình trạm y tế hoạt động theo nguyên lý y học gia đình. Nguyên lý y học gia đình hướng tới mục tiêu mỗi người dân, mỗi gia đình đều được chăm sóc, quản lý sức khỏe toàn diện, liên tục. Theo đó, Đông Triều đã đầu tư hơn 40 tỷ đồng để sửa chữa, nâng cấp và xây mới cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị nhằm thực hiện có hiệu quả mô hình này. Năm 2020, TP Cẩm Phả cũng xây dựng Đề án triển khai mô hình trạm y tế hoạt động theo nguyên lý y học gia đình. Trong phương hướng nhiệm vụ năm 2020, ngành y tế tỉnh cũng xác định mục tiêu nhân rộng mô hình trạm y tế hoạt động theo nguyên lý y học gia đình. Sau khi hợp nhất thành TTYT đa chức năng, năng lực phòng chống dịch bệnh, khám chữa bệnh của các đơn vị được duy trì và tăng cường cả về nguồn lực, chất lượng chuyên môn. Các TTYT tuyến huyện tiếp tục được quan tâm đầu tư nâng cấp về cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, chú trọng về đào tạo, phát triển nguồn nhân lực để phát triển các dịch vụ kỹ thuật y tế và hỗ trợ trực tiếp, thiết thực về chuyên môn cho trạm y tế xã.

Để tiếp tục nâng cao chất lượng khám chữa bệnh ở tuyến huyện, ngành y tế đã triển khai giải pháp sử dụng chung nguồn nhân lực chất lượng cao kết hợp với hoạt động chỉ đạo tuyến và hỗ trợ chuyên môn giữa các bệnh viện trong tỉnh. Nhờ đó, các y, bác sĩ tại tuyến huyện đã thực hiện được nhiều kỹ thuật cao, khó của tuyến tỉnh, như: Phẫu thuật nội soi, phẫu thuật sọ não, thận nhân tạo, mổ phaco thay thuỷ tinh thể, chụp cắt lớp vi tính và nhiều kỹ thuật khó khác...

Đặc biệt, đối với những đơn vị y tế tuyến huyện năng lực chuyên môn còn hạn chế, ở các địa phương vùng khó khăn như Cô Tô, Bình Liêu, Ba Chẽ, Đầm Hà, Sở Y tế đã chỉ đạo và phân công 4 bệnh viện tuyến tỉnh chịu trách nhiệm hỗ trợ toàn diện, thường xuyên, liên tục cho các đơn vị y tế của 4 địa phương trên. Trong năm 2019, Sở Y tế đã tổ chức Hội nghị sơ kết đánh giá hiệu quả công tác hỗ trợ toàn diện đối với 4 TTYT tuyến huyện, theo đó, tiếp tục phân công các bệnh viện thực hiện hỗ trợ toàn diện cho 5 TTYT huyện trên địa bàn. Cụ thể, Bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí hỗ trợ TTYT Ba Chẽ; Bệnh viện Đa khoa quốc tế Vinmec hỗ trợ TTYT Vân Đồn; Bệnh viện Đa khoa tỉnh hỗ trợ TTYT Đầm Hà; Bệnh viện Bãi Cháy hỗ trợ TTYT Bình Liêu; Bệnh viện Sản Nhi tỉnh hỗ trợ TTYT Cô Tô.

Đối với 9 phòng khám đa khoa khu vực, Sở Y tế đang rà soát lại thực trạng và hiệu quả hoạt động, từ đó tiếp tục đề xuất Tỉnh ủy, UBND tỉnh kiện toàn tổ chức và hoạt động, sắp xếp lại các phòng theo hướng tinh gọn, hiệu quả, phục vụ thiết thực và thuận lợi cho lợi ích của người dân, nhất là các địa bàn khó khăn. Đối với những phòng khám phát huy hiệu quả, Sở đề xuất tỉnh đầu tư, nâng cấp, nhằm đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng cao của người dân.

 

Theo Baoquangninh.com

Trạm y tế dưới hầm lò...

Xuất phát từ đặc thù công việc, những năm gần đây, các mỏ khác thác hầm lò thuộc TKV đều lập trạm y tế dưới hầm lò ở mức sâu hàng trăm mét, là mô hình còn khá mới mẻ. Ngày đêm, trong lòng đất sâu có biết bao y, bác sĩ không quản hiểm nguy, gian khó, đang âm thầm, lặng lẽ cống hiến, vì sức khỏe, an toàn của thợ lò.

"MONG ĐƯỢC THẤT NGHIỆP!"

Chiếc “thang máy” của mỏ Mông Dương từ từ đưa chúng tôi xuống mức -97,5m. Từ đây, phải đi bộ hơn 1km đường lò nữa mới tới nhà ga, nơi chiếc xe song loan đang chờ chở chúng tôi tới Trạm Y tế mức -250, khu Trung tâm mỏ Mông Dương. Để xóa tan không gian âm u, vắng vẻ của đường lò, bác sĩ Đinh Hải Long, Trạm trưởng Trạm Y tế Công ty CP Than Mông Dương, kể cho tôi nghe về mô hình này. Theo anh, do sản xuất than luôn đối mặt với nhiều bất trắc và rủi ro, nên việc chăm sóc sức khỏe, bảo đảm môi trường làm việc an toàn cho người thợ luôn là ưu tiên hàng đầu với các đơn vị hầm lò. Vì thế, những năm gần đây, cùng với trạm y tế trên mặt bằng, các đơn vị ngành Than đã triển khai áp dụng mô hình trạm y tế dưới lòng đất.

Công ty CP Than Mông Dương chính thức đưa mô hình này vào hoạt động năm 2015 - sau trận mưa lụt lịch sử ở Quảng Ninh. Với hàng nghìn CNLĐ làm việc trong 3 ca sản xuất ở các đường lò dài hàng chục km dưới lòng đất, trạm y tế dưới hầm sẽ hỗ trợ rất nhiều trong việc trực cấp cứu, khám xử lý, sơ cứu những trường hợp thợ lò đau ốm, bị tai nạn lao động ngay tại khu vực khai thác, giúp công nhân yên tâm sản xuất. Trạm y tế dưới hầm lò được bố trí đủ y sĩ thay phiên đi 3 ca, nhằm xử lý nhanh các vấn đề liên quan đến sức khỏe, sự an toàn của người thợ.

Sau khoảng 20 phút đi bộ và 10 phút đi xe song loan trong lòng đất, chúng tôi tới được Trạm Y tế mức -250. Trạm chỉ rộng khoảng 20m2, nằm giữa vị trí cánh Đông, cánh Tây của mỏ để tiện cho việc cấp cứu.

Trong ánh sáng mờ mờ phát ra từ chiếc đèn nhỏ, anh Chu Hồng Thái, y sĩ trực ca 1, đang khám bệnh cho một số thợ lò đau bụng, sốt nhẹ. Trước khi xuống lòng đất, tôi đã được nghe bác sĩ Đinh Hải Long giới thiệu qua. Chu Hồng Thái là y sĩ lâu năm nhất ở Trạm với 8 năm công tác, trong đó 4 năm làm dưới lò. Nhưng quả thực khi gặp Thái (SN 1989), với vẻ ngoài trông rất trắng trẻo, đẹp trai như “công tử”, tôi khó có thể hình dung Thái có thể bám trụ với mỏ lâu như thế.

Thái chia sẻ: “Tốt nghiệp Trung cấp Y Quảng Ninh, em được nhận vào mỏ Mông Dương. Thế nhưng đây cũng chỉ là lý do sau cùng đưa em đến với mỏ. Bố mẹ em đều làm ở đây. Công việc này cũng là nghề cha truyền con nối. Duyên nghề của em có lẽ đến từ những câu chuyện kể thường ngày của bố về thợ lò, về mỏ, về nghề”.

Trước khi chưa lập trạm y tế dưới lòng đất, Thái làm ở mặt bằng Bắc Mông Dương. Từ năm 2015 Thái cùng 2 đồng nghiệp được bố trí làm ở mức -250m. Đối với một thanh niên, theo Thái thừa nhận là còn khá ham chơi nữa, khi được điều động làm việc dưới lò, nhiều người bảo cậu: “Chắc được mấy bữa!”. Nhưng từ đó đến nay đã hơn 4 năm.

“Làm việc dưới lò buồn lắm. Một mình một ca trực, quanh ra quẩn vào 4 bức tường. Không có việc làm thường xuyên, song lúc nào cũng ở trong tư thế sẵn sàng. Nhưng em cũng như các y sĩ chỉ "mong mình thất nghiệp” - Thái cười chia sẻ.

Dưới hầm lò có những bất chắc không nói trước được. Mong muốn của Thái đôi khi khó mà được hoàn toàn như ý. Thái hồi tưởng: “Năm ngoái, đúng ca trực của em, trong không gian yên ắng lúc 3 giờ sáng, chuông điện thoại réo inh ỏi khiến em giật mình. Nhận được tin báo 4 thợ lò bị vùi lấp do tụt lò ở Phân xưởng Đào lò 6, em vội vàng điện thoại báo Trạm Y tế Công ty đến hỗ trợ, sau đó huy động thêm một số anh em mang cáng, nẹp, thuốc, bóng bóp, máy cứu sinh… đến hiện trường”.

Sau bao nỗ lực cùng các đồng nghiệp đào bới than đưa nạn nhân ra ngoài, người thứ nhất đã được tìm thấy. Thái vội vã kiểm tra. “Ơn trời! Anh ấy vẫn sống”, Thái thốt lên mừng rỡ, rồi vội vàng hô hấp, xử lý vệ sinh, băng sơ cầm máu và sau đó chuyển lên trên điều trị. 6 giờ sáng, các nạn nhân lần lượt được tìm thấy. Thái cùng các y, bác sĩ của Trạm Y tế sơ cứu nạn nhân và chuyển lên Bệnh viện Đa khoa khu vực Cẩm Phả. 3 trong số họ nhờ được sơ cứu kịp thời đã hồi phục, 1 người không may đã ngừng thở trước khi được tìm thấy. Thái nghẹn lời: “Đó là những phút giây em nhớ mãi. Thế nên chẳng bao giờ chúng em mong mình có bệnh nhân”. Những phút giây sinh tử, khát khao cứu được đồng đội cũng chính là lý do mà Thái không bỏ nghề. Anh đã từ chối biết bao cơ hội ở các bệnh viện lớn mà nhiều người mơ ước. Với Thái khi cứu được một đồng nghiệp khỏi tay tử thần, anh vui sướng lắm, như là mình được cứu mạng vậy. Nhưng khi những người đồng chí ra đi, nằm trong vòng tay mình, dù không phải lỗi của anh song anh cảm thấy vô cùng bất lực, đau xót, như chính người thân mình đã ra đi.

Không phải bất kỳ y sĩ nào cũng có thể điều động làm việc dưới lò. Bởi phải có sức khỏe, có kỹ năng sơ cứu tốt trong hầm lò, biết làm công tác tâm lý cho nạn nhân, chịu được sự buồn tẻ, không giao tiếp, không điện thoại, chấp nhận gian khổ, hy sinh… Nếu không có tình yêu hẳn Thái và những y sĩ dưới lòng đất khó mà bám trụ được với nghề. Thái kể, có những y sĩ từng làm việc 4-5 tháng dưới lò nhưng không chịu được đã bỏ việc.

Y sĩ Nguyễn Hữu Tuân, Công ty Than Dương Huy, đã chia sẻ rất thật rằng: Gần 30 năm gắn bó với Dương Huy thì có 6 năm anh làm dưới hầm lò. Dù ngày hay đêm, anh khó lòng mà chợp mắt được, bởi khí dưới mỏ rất nặng. Hôm nào quên mang khẩu trang thì hôm sau ho suốt cả ngày. Anh đã từng phải đi điều trị viêm phế quản nửa tháng ở Bệnh viện Lao và Phổi Quảng Ninh. Từ ngày làm việc trong lòng đất, dưới ánh sáng mờ mờ, thị lực của anh bị giảm sút nhiều. 

Năm 2013, Công ty Than Dương Huy lập Trạm Y tế mức -100, anh Tuân cùng 3 đồng nghiệp được điều động làm việc dưới lò. Để trải nghiệm trước, các anh được đưa xuống lò và học an toàn. Nhưng khi vào làm việc mới thấy nhiều việc khó lường. “Mỗi khi mìn nổ, cả mỏ rung chuyển, do chưa quen, tôi sợ muốn bắn tim ra ngoài. Ngày làm việc đầu tiên, trong không gian yên tĩnh, bỗng đâu ngay trên đầu mình có tiếng động rất mạnh. Tôi hô hét anh em chạy bán sống bán chết. Sau mới biết đó chỉ là một mũi khoan thăm dò, không phải bục lò như tôi tưởng…”.

Lo là thế, nhưng mỗi khi có tai nạn xảy ra, trong đầu anh chỉ nghĩ “Tất cả vì đồng đội”. Năm ngoái xảy ra vụ sạt than ở Công trường Khai thác 5, nhận được tin báo, anh cùng 1 đồng nghiệp vác dụng cụ chạy vào sơ cứu, nếu thiếu may mắn, cả 2 đã bị gông sắt rơi trúng đầu. Song những cái khó, khổ, hiểm nguy chưa bao giờ làm chùn bước chân của những y sĩ này, vì phía trước họ là tính mạng của đồng đội. Tinh thần kỷ luật và đồng tâm của thợ lò là như thế. Trong gian nguy không bao giờ bỏ mặc nhau.

Bác sĩ Đinh Hải Long nói: “Không chỉ môi trường làm việc nguy hiểm, độc hại, các y sĩ dưới lòng đất thiệt thòi lắm. Họ không được thường xuyên va chạm, tiếp xúc với bệnh nhân, nên khó có điều kiện để nâng cao trình độ chuyên môn”. Các đơn vị cũng thường xuyên tổ chức các chương trình huấn luyện nâng cao trình độ cho các y sĩ, như Thái đã được Công ty  cho đi học nâng cao trình độ ở Bệnh viện Việt Pháp, Bệnh viện 103. Dù vậy, không phải ai cũng có điều kiện đi học được.

Thiệt thòi như vậy, nhưng thu nhập của y sĩ dưới lòng đất chỉ khoảng 5 triệu đồng/tháng; đơn vị nào cao hơn thì 7-8 triệu đồng/tháng. Với thu nhập như vậy không khó để họ kiếm được một công việc trên mặt đất.

Với những đòi hỏi khắt khe cũng như sự hy sinh như vậy, nên “việc tuyển sinh các y sĩ làm việc dưới lò vô cùng khó” - Bác sĩ Đinh Hải Long nói. Song vì “duyên nghề, đam mê và tình yêu đã giữ chân các y sĩ ở lại”.

Để giữ chân cũng như thu hút y, bác sĩ đang ngày đêm làm việc vì sự an nguy của thợ mỏ thì còn nhiều việc phải làm. Anh Tuân và Thái đã từng chia sẻ rằng, họ mong: Môi trường mỏ ngày càng được cải thiện tốt hơn, công tác an toàn phải được giám sát chặt chẽ hơn nữa, cũng như sớm phát hiện được nguy cơ bục nước, cháy nổ khí mê tan để bảo vệ tính mạng cho tất cả những người làm việc trong mỏ. Các đơn vị, TKV cần tăng cường tập huấn nghiệp vụ, tiếp cận các phương pháp khám chữa bệnh tiên tiến; cải thiện thu nhập, chế độ đãi ngộ cho đội ngũ này.

 

Theo Baoquangninh.com

Động lực làm giàu của nông dân

Nòng cốt là tạo công ăn việc làm, phát huy hiệu quả của Quỹ Hỗ trợ nông dân (HTND), hội viên giúp nhau vượt khó, thoát nghèo, ngày càng nhiều hộ nông dân có thu nhập ổn định, phát triển kinh tế. Đây là một trong những kết quả đáng mừng, mở ra niềm hy vọng một năm mới mùa màng bội thu, cuộc sống ấm no hơn.

Con số thu nhập 1 tỷ đồng/năm đối với nhiều hộ nông dân hiện nay không còn là mục tiêu xa vời. Các lĩnh vực mang lại thu nhập tiền tỷ cho hội viên nông dân tập trung ở lĩnh vực trồng cây ăn quả, cây lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản.

Có thể kể đến hộ ông Trần Văn Hậu, chủ HTX Nông trang (thôn Cái Bầu, xã Vạn Yên) là một trong những người tiên phong trong xây dựng thương hiệu cam Vân Đồn gắn với đảm bảo VSATTP. Với thu nhập bình quân đạt 1,2 tỷ đồng năm, HTX đã tạo việc làm ổn định cho 7 lao động, lương trung bình 7 triệu đồng/tháng/người. Hay như trường hợp của hộ ông Nguyễn Đình Giang, xã Sơn Dương, TP Hạ Long tập trung phát triển các cây lâm nghiệp, không chỉ làm giàu cho gia đình mà còn giải quyết việc làm thường xuyên cho 12 lao động, giúp đỡ 5 hộ vươn lên thoát nghèo.

Còn ở Móng Cái, có lẽ trong nuôi tôm không ai không biết đến hộ ông Bùi Văn Trình, xã Vạn Ninh. Với sự chăm chỉ, đầu tư công nghệ, gia đình ông Trình đã thu nhập gần 2 tỷ đồng/năm từ việc nuôi tôm. Đồng thời, tạo việc làm thường xuyên cho 8 lao động. Không những thế, hằng năm ông còn giúp đỡ, tạo việc làm cho 55 lao động; giúp 26 hộ nghèo, khó khăn về kiến thức, kinh nghiệm, khoa học kỹ thuật tham gia nuôi trồng tôm, ổn định kinh tế.

Sự phát triển của các hộ dân này là động lực cho nông dân trong tỉnh đồng lòng sản xuất, phấn đấu nâng cao thu nhập trong những năm sắp tới. Các hộ đạt thu nhập từ 500 triệu đến dưới 1 tỷ đồng cũng ngày càng nhiều. Đặc biệt giai đoạn 2013-2018, phong trào tuy không tăng về số lượng nhưng đi vào thực chất, nâng cao chất lượng, hiệu quả kinh tế, tăng cao mức thu nhập. Năm 2015, số hộ đạt mức thu nhập từ 451 triệu đến dưới 1 tỷ đồng là 3.762 hộ, thì đến năm 2019, số hộ đạt gần 6.500 hộ, tăng gần 1,5 lần. Các hộ SXKD giỏi đã tạo việc làm cho hàng nghìn lao động, tích cực giúp đỡ, trợ giúp kỹ thuật, cây giống, con giống cho những hộ nghèo, hộ khó khăn, hộ chính sách vươn lên thoát nghèo bền vững. Nhiều hộ nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi đã tự nguyện hiến đất và ủng hộ kinh phí xây dựng các quỹ ở địa phương.

Bên cạnh việc giúp nhau làm kinh tế giỏi của các hội viên nông dân thì Quỹ HTND được coi là "bạn đồng hành", “cứu cánh” giúp các hội viên mạnh dạn đầu tư, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Trong năm 2019, Quỹ đã cho vay gần 38 tỷ đồng cho hơn 1.200 hộ vay, triển khai 161 dự án phát triển sản xuất trên toàn tỉnh.

Ông Đào Thanh Lưỡng, Chủ tịch HND tỉnh cho biết: Thu nhập của nông dân là mục tiêu hàng đầu trong kế hoạch năm 2020. Mục tiêu của tỉnh là thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn năm 2020 đạt 43,7 triệu đồng/người/năm. Vì vậy, bám sát vào chỉ đạo đó, HND nỗ lực đẩy mạnh các giải pháp, hiện thực hóa mục tiêu trên. Trong đó, coi việc phát triển Quỹ HTND là một trong những giải pháp hữu hiệu.

Thời gian tới HND tỉnh sẽ tập trung thực hiện một số giải pháp cụ thể như: Hội sẽ tiếp tục tổ chức tập huấn nâng cao năng lực quản lý điều hành quỹ các cấp; tiến hành công tác kiểm tra theo kế hoạch tại các huyện, thị xã, thành phố trong toàn tỉnh; thực hiện công tác cho vay đảm bảo đúng mục đích, đúng đối tượng, có hiệu quả.

Cùng với đó, nâng cao chất lượng các dự án vay vốn, xây dựng và nhân rộng mô hình ứng dụng tiến bộ KHCN, kịp thời lập kế hoạch, luân chuyển dự án thu hồi, không để tồn đọng vốn; phối hợp với các đơn vị chuyên môn, các hộ có kinh nghiệm hướng dẫn kỹ thuật, xây dựng mô hình trong các lĩnh vực sản xuất cho người vay để phát huy hiệu quả nguồn vốn.

Đồng thời, HND tỉnh đặt mục tiêu phối hợp dạy nghề cho hơn 2.000 lao động nông thôn; trong đó, tỷ lệ có việc làm đạt 70% trở lên. Bên cạnh đó, 100% HND cấp huyện tổ chức các hoạt động dịch vụ tư vấn, hỗ trợ nông dân. Ít nhất 70% hội viên nông dân được tiếp cận kiến thức cần thiết về kỹ năng, thông tin, thị trường, khoa học kỹ thuật, công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp...

Theo Baoquangninh.gov.vn

 BẠN NHÀ NÔNG

Quảng Ninh: Làm giàu từ mô hình chăn nuôi gia cầm

Với quyết tâm học hỏi, dám nghĩ, dám làm, anh Nguyễn Mạnh Hà ở thôn 1, xã Quảng Thắng, huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh đã từng bước làm giàu với mô hình chăn nuôi gia cầm và trồng rừng. Anh cũng là một tấm gương điển hình trong phong trào nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi của huyện...

Sau khi đã trải qua nhiều nghề như xây dựng, mộc… nhưng không hiệu quả, năm 2014 vợ chồng anh Nguyễn Mạnh Hà chuyển hướng phát triển kinh tế, mạnh dạn đầu tư nuôi thử nghiệm hơn 500 con gà ri. Ngay lứa đầu tiên, đàn gà phát triển tốt, trừ chi phí gia đình có lãi trên 20 triệu đồng. Nhận thấy việc chăn nuôi gà nếu được đầu tư bài bản có thể cho hiệu quả kinh tế cao nên gia đình đã vay vốn để đầu tư mở rộng chuồng trại và quy mô chăn nuôi. Hiện nay, trong trang trại của anh mỗi năm nuôi 4 lứa gà, ngan, bình quân 1.000 -  2.000 con gà/lứa; 500-1.000 con ngan/lứa và hàng chục con lợn nái mỗi năm. Trừ mọi chi phí, mỗi năm gia đình anh thu về gần 200 triệu đồng. Cùng với việc đầu tư mở rộng trang trại chăn nuôi gia cầm, anh Hà còn cung ứng gà giống cho các hộ gia đình chăn nuôi khác tại địa phương, tạo công ăn việc làm cho nhiều lao động thời vụ.

Anh Nguyễn Mạnh Hà chia sẻ: Những ngày đầu, do kỹ thuật chăn nuôi chưa có nên anh đã phải tự tìm tòi, học hỏi cách chăm sóc và phòng bệnh cho gà. Sau hơn 3 năm xây dựng thành công mô hình, đến nay anh đã liên kết hợp tác, ký kết được hợp đồng tiêu thụ sản phẩm với một số nhà hàng, cửa hàng kinh doanh ăn uống trên địa bàn huyện và TP. Móng Cái. Năm 2016, trang trại của gia đình đã bán được hơn 10 tấn gà thịt và hàng nghìn gà giống. Bên cạnh việc đầu tư trang trại chăn nuôi gia cầm, gia đình còn đầu tư trồng rừng, cây ăn quả với diện tích hơn 2ha keo, hàng trăm gốc đào và một số loại cây ăn quả khác. Trong thời gian tới, anh Hà sẽ tìm hiểu, học hỏi kỹ thuật nuôi lươn để phát triển kinh tế và mở rộng trang trại.

Mô hình chăn nuôi gia cầm của anh Nguyễn Mạnh Hà phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng của địa phương đã góp phần tích cực vào việc chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng vật nuôi, tạo ra sản phẩm hàng hóa có chất lượng cao. Từ đó, giúp cho nông dân đổi mới suy nghĩ, cách làm, xây dựng thêm nhiều mô hình hiệu quả, sáng tạo trong vận dụng những tiến bộ mới vào sản xuất, thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp, nông thôn một cách bền vững, nâng cao thu nhập và mức sống của người dân.

Cùng với mô hình chăn nuôi của gia đình anh Nguyễn Mạnh Hà, hiện nay, trên địa bàn xã Quảng Thắng đã có nhiều hộ gia đình đầu tư chăn nuôi gà thả vườn theo hướng an toàn sinh học và đều cho hiệu quả kinh tế cao, tăng thu nhập hàng trăm triệu đồng mỗi năm./.

Theo Baoquangninh.gov.vn

Làm giàu từ mô hình nuôi gà Đông Tảo lai

Nhờ tinh thần ham học hỏi, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, nhiều năm qua, gia đình anh Trịnh Kế Hạnh, xã Yên Hòa, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên đã phát triển hiệu quả mô hình nuôi gà Đông Tảo lai. Không chỉ làm giàu cho gia đình, anh Hạnh còn tích cực giúp đỡ, tạo việc làm cho nhiều lao động tại địa phương.

Với mong muốn làm giàu trên chính mảnh đất quê hương, anh Trịnh Kế Hạnh sinh năm 1971, xã Yên Hòa, huyện Yên Mỹ luôn trăn trở trong việc tìm cho bản thân và gia đình một công việc phù hợp để phát triển kinh tế gia đình. Khi biết đến giống gà Đông Tảo lai đang đang có xu hướng phát triển trên thị trường nhờ đặc tính dễ nuôi, kháng bệnh tốt, tăng trưởng nhanh, giá giống rẻ, đặc biệt, chất lượng thịt gà vượt trội được nhiều người ưa chuộng, anh Hạnh quyết tâm lập nghiệp gắn với giống gà này.

Ngày đầu khởi nghiệp với biết bao khó khăn về kinh nghiệm, về vốn, kỹ thuật chăn nuôi... Sau nhiều ngày tìm hiểu, nghiên cứu gia đình anh Hạnh đã mạnh dạn đầu tư mở lò ấp trứng gà Đông Tảo lai kết hợp với nuôi gà Đông Tảo lai sinh sản và bao tiêu sản phẩm của các hộ gia đình ở địa phương.

 Để đảm bảo nguồn con giống có chất lượng cao, bên cạnh việc kiểm tra kỹ lưỡng cơ sở cung cấp trứng anh còn đầu tư 5 máy ấp trứng phục vụ cho gia đình và các hộ tại địa phương. Nhờ đó, tỷ lệ trứng nở cao, đồng đều, tạo ra những con giống đạt chất lượng, đáp ứng nhu cầu của thị trường. Thông thường cứ 100 quả trứng cho vào lò ấp thì nở được trên 80 gà con, mỗi tháng gia đình anh cho ra lò 20 vạn con gà.

Bên cạnh việc nhận ấp trứng, mỗi năm, gia đình anh còn nuôi 500 -700 con mái, đồng thời nhập gà con của các hộ thuê ấp trứng để cung cấp cho các hộ gột gà con của địa phương trong và ngoài tỉnh. Với mô hình trên, thương hiệu “gà giống lai Đông Tảo” của gia đình anh đã tạo uy tín với các hộ chăn nuôi ở địa phương và các vùng lân cận. Đặc biệt, mô hình này được Hội Nông dân huyện, tỉnh quan tâm, nhân rộng nhằm bảo tồn con giống, vật nuôi. Từ việc phát triển chăn nuôi và làm dịch vụ đúng hướng, từ năm 2016 đến nay, trừ mọi chi phí, mỗi năm gia đình anh thu lãi 750 triệu đồng, trong đó chăn nuôi 150 triệu đồng, ấp trứng, kinh doanh gà con 600 triệu đồng. Giờ đây, gia đình anh đã trở thành địa chỉ tin cậy, thường xuyên cung cấp giống gà Đông Tảo lai cho các hộ và thương lái trên địa bàn tỉnh và một số tỉnh lân cận.

Nhận thấy mô hình phát triển kinh tế của gia đình anh Hạnh mang lại hiệu quả kinh tế cao, nhiều hộ gia đình trong xã và các địa phương khác đã tìm đến học hỏi kinh nghiệm làm ăn. Với kinh nghiệm tích lũy được sau nhiều năm gắn bó với nghề ấp và nuôi gà, anh Hạnh luôn nhiệt tình chia sẻ với mọi người về phương pháp, kỹ thuật trong ấp trứng gà cũng như trong chăn nuôi của gia đình. Theo anh Hạnh, bí quyết thành công từ mô hình kinh tế của gia đình anh bên cạnh việc cần cù, chịu khó học hỏi kinh nghiệm từ những người đi trước, trên sách, báo, mạng internet, cần phải mạnh dạn áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất để nâng cao chất lượng sản phẩm.

Không chỉ đưa gia đình vươn lên làm giàu, gia đình anh còn tạo công ăn việc làm cho 20 lao động có việc làm ổn định, thường xuyên. Hơn thế nữa, anh còn nhận giúp đỡ thêm 10 hộ chăn nuôi có hoàn cảnh khó khăn như hỗ trợ về giống, vốn bằng phương pháp cung cấp gà con, thức ăn chăn nuôi... Mặt khác, để giúp bà con có được sản phẩm có chất lượng cao và yên tâm về đầu ra, không chỉ là đầu mối cung cấp giống mà gia đình anh còn nhận bao tiêu gà lai Đông Tảo giống cho các hộ nông dân, do vậy, cả người mua và người bán đều tin tưởng, phấn khởi. Từ sự giúp đỡ, tạo điều kiện đó đã giúp hàng trăm hộ chăn nuôi mỗi năm tiêu thụ trên 200 vạn con gà giống. Nhờ đó, nhiều hộ gia đình trong xã có thêm việc làm, thu nhập ổn định và nhiều hộ đã vươn lên thoát nghèo. 

Với anh Hạnh, những trăn trở, mong muốn gắn với mô hình kinh tế đang theo đuổi vẫn còn nhiều, song dự định trước mặt của gia đình anh là sẽ tiếp tục mở rộng quy mô lò ấp trứng đạt tiêu chuẩn kỹ thuật cao. Hơn nữa, anh sẽ áp dụng khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi gà sinh sản để tỷ lệ trứng nở cao, gà con giống đạt chuẩn nhằm đưa giống gà quê anh có thương hiệu bền vững trên thị trường.

Bên cạnh việc làm kinh tế giỏi, vợ chồng anh còn tích cực tham gia công tác xã hội ở địa phương. Hằng năm, gia đình anh hăng hái tham gia các phong trào thi đua, ủng hộ, đóng góp các loại quỹ do địa phương phát động.

Từ những kết quả đã đạt được, anh Trịnh Kế Hạnh 2 lần được nhận Bằng khen của chủ tịch UBND tỉnh giai đoạn 2003-2008 và giai đoạn 2011-2014. Vừa qua, anh được Hội Nông dân tỉnh tặng Bằng khen vì có thành tích xuất sắc trong phong trào nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững.

Theo Baohungyen.vn

Trung tâm Ứng dụng và Thống kê KH&CN


Tìm kiếm theo chuyên mục - nội dung - ngày tháng

Tin Nóng
Tin tiêu điểm

Lịch công tác trống

Website liên kết
Thống kê truy cập
Hôm nay: 529
Đã truy cập: 869469