Bản tin khoa học và phát triển số 03 năm 2020

25/09/2020 15:51

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

Đảng bộ Sở KH&CN Quảng Ninh: Dấu ấn một nhiệm kỳ

Đảng bộ cơ quan Sở KH&CN trực thuộc Đảng bộ Khối các cơ quan tỉnh Quảng Ninh, có chức năng lãnh đạo Sở KH&CN thực hiện chức trách nhiệm vụ được giao quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ công về lĩnh vực KH&CN. Đảng bộ đã cụ thể hoá các mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh trong nhiệm kỳ 2015-2020 bằng những việc làm thiết thực, hiệu quả, qua đó góp phần thúc đẩy KT-XH của tỉnh phát triển mạnh mẽ.

Bám sát quy hoạch, chiến lược phát triển KH&CN quốc gia đến năm 2020, ngay sau khi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2015-2020 được thông qua, với sự chỉ đạo sát sao, quyết liệt của Đảng bộ cơ quan Sở KH&CN, Sở KH&CN đã tham mưu, đề xuất với tỉnh thực hiện nhiều nhiệm vụ, giải pháp. Trong đó phát triển nhân lực, đầu tư xây dựng hạ tầng và tăng cường tiềm lực KH&CN được coi là 3 nhiệm vụ trọng tâm nhằm hướng đến mục tiêu phát triển KT-XH nhanh, bền vững của tỉnh.

Đaị biểu Đảng bộ Khối các cơ quan tỉnh tặng hoa chúc mừng Ban chấp hành Đảng bộ Sở KH&CN nhiệm kỳ 2020- 2025

Trên cơ sở đó, Sở đã tham mưu cho tỉnh ban hành nhiều nghị quyết quan trọng để thúc đẩy hoạt động KH&CN như: Nghị quyết 07-NQ/TU về phát triển KH&CN đến năm 2020; Nghị quyết 43/2016/NQ-HĐND về cơ chế, hỗ trợ tổ chức, cá nhân có hoạt động KH&CN; Nghị quyết 148/2018/NQ-HĐND về hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo. Ngoài ra, còn có các đề án, chương trình khác như: Đề án nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ của doanh nghiệp; Đề án phát triển doanh nghiệp KH&CN; Đề án xây dựng trung tâm ươm tạo; Đề án bảo tồn các nguồn gen quý hiếm; Quy định về quản lý các nhiệm vụ KH&CN...

Cùng với đó, Sở cũng chủ động đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng chuyển giao KH&CN hiện đại nhằm nâng cao hiệu quả quản lý sản xuất, kinh doanh; triển khai hoạt động đổi mới sáng tạo; phong trào khởi nghiệp sáng tạo; tăng cường công tác quản lý nhà nước trên các lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng, an toàn bức xạ hạt nhân...

Lãnh đạo Sở KH&CN làm việc tại thị xã Quảng Yên đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết số 07-NQ/TU (ngày 13/3/2017) của Tỉnh ủy về phát triển KH&CN (tháng 2/2020)

Với sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền và sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, trong 5 năm qua, hoạt động KH&CN đã có những bước tiến quan trọng, đóng góp lớn vào phát triển KT-XH, bảo đảm quốc phòng an ninh của tỉnh.

Một trong những chỉ đạo mang tính định hướng quan trọng có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển KH&CN của tỉnh Quảng Ninh trong nhiệm kỳ qua đó là Nghị quyết 07-NQ/TU ngày 13/7/2017 của BCH Đảng bộ tỉnh. Đây chính là “đòn bẩy” để hoạt động KH&CN trên địa bàn tỉnh có những bước chuyển mình mạnh mẽ, đóng góp vào thành tựu phát triển KT-XH của tỉnh.

Với quan điểm coi KH&CN là quốc sách hàng đầu, gắn chặt với yêu cầu phát triển KT-XH của tỉnh, Nghị quyết 07 đặt ra mục tiêu phải đẩy mạnh phát triển, ứng dụng KH&CN theo xu hướng cách mạng công nghiệp lần thứ tư; coi đây là động lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế tri thức, tăng năng suất, chất lượng và năng lực cạnh tranh hội nhập quốc tế, phát triển bền vững và bảo vệ môi trường; phấn đấu đến năm 2020, Quảng Ninh trở thành tỉnh dịch vụ công nghiệp.

Trên tinh thần đó, Nghị quyết cũng đặt ra những yêu cầu cụ thể với từng ngành, lĩnh vực. Đến nay, sau 3 năm triển khai, các mục tiêu, chỉ tiêu của Nghị quyết đã cơ bản hoàn thành.

Có thể thấy, hoạt động KH&CN đã có tác động nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý và cung cấp dịch vụ trong các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, y tế, giáo dục, quản lý đô thị, môi trường, du lịch... Các doanh nghiệp đã tích cực, chủ động đầu tư lớn nguồn lực nghiên cứu khoa học, chuyển giao, ứng dụng và đổi mới công nghệ tiên tiến để phục vụ phát triển sản xuất kinh doanh, bảo vệ môi trường và an toàn lao động. 100% cơ quan hành chính nhà nước từ tỉnh đến cấp xã đã áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến TCVN ISO 9001:2015. 93% sản phẩm hàng hóa nhóm 2 được quản lý bằng quy chuẩn kỹ thuật; chiến lược sở hữu trí tuệ được thực hiện có hiệu quả; bước đầu lưu giữ một số nguồn gen quý, hiếm. KH&CN gắn với xây dựng nông thôn mới thông qua việc phát triển các sản phẩm OCOP được tăng cường. Tỷ trọng giá trị sản phẩm công nghệ cao đạt 45,24%; năng suất lao động bình quân tăng 11,6%; hình thành được các khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại Đông Triều, Đầm Hà.

Lãnh đạo Sở KH&CN thăm Hợp tác xã Hoa Bình Liêu, lắng nghe những chia sẻ, kiến nghị của HTX để đồng hành hỗ trợ HTX trong thời gian tới (tháng 5/2020)

Bên cạnh đó, hoạt động nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao KH&CN ngày càng đi vào chiều sâu, với 87,5% nhiệm vụ, đề tài, kết quả nghiên cứu được ứng dụng vào thực tiễn phục vụ sản xuất và đời sống; tăng 17,5% so với nhiệm kỳ trước. Kết quả này cũng đã góp phần đưa các ngành, lĩnh vực phát triển mạnh mẽ hơn, đảm bảo mục tiêu về tăng trưởng kinh tế, văn hóa, y tế, giáo dục và an sinh xã hội trong nhiệm kỳ vừa qua.

          Những kết quả đó đã minh chứng cho hiệu quả của Nghị quyết 07-NQ/TU ngày 13/7/2017 của BCH Đảng bộ tỉnh đã đi vào cuộc sống. Việc quán triệt, triển khai, thực hiện Nghị quyết 07 về phát triển KH&CN tại các địa phương trong tỉnh được thực hiện nghiêm túc, mang lại kết quả. Các dự án ứng dụng công nghệ thông tin xây dựng Thành phố thông minh được triển khai tại TP Hạ Long, Uông Bí, Cẩm Phả, Móng Cái. Đặc biệt, từ tháng 8/2019, Quảng Ninh đã đưa vào vận hành thí điểm Trung tâm Điều hành thành phố thông minh của tỉnh. Trung tâm này cho phép sử dụng thông tin và công nghệ phân tích để tỉnh có thể đưa ra những quyết sách kịp thời, giúp quản lý được đa dạng các vấn đề.

Với tinh thần “Dân chủ - Kỷ cương - Đoàn kết - Đổi mới - Sáng tạo - Hiệu quả”, Đại hội Đảng bộ cơ quan Sở KH&CN lần thứ III, nhiệm kỳ 2020-2025 đã diễn ra thành công trong tháng 5/2020. Qua đó, quyết định mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp xây dựng, phát triển nhiệm kỳ 2020-2025, góp phần tiếp tục nâng cao vai trò quan trọng của KH&CN và đổi mới sáng tạo đối với sự nghiệp phát triển KT-XH của tỉnh.

   Mục tiêu của nhiệm kỳ 2020-2025 là tiếp tục đổi mới phương thức, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng bộ Sở. Phát huy truyền thống đoàn kết, thống nhất, năng động, sáng tạo, dân chủ, nhằm xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh; hoàn thành xuất sắc các chỉ tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội Đảng bộ cơ quan đề ra.

Đối với việc lãnh đạo công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, thời gian tới, Đảng ủy Sở KH&CN sẽ tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo; tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác chính trị tư tưởng; đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tập trung đẩy mạnh triển khai thực hiện hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Cùng với đó, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng; đổi mới, nâng cao chất lượng công tác tổ chức, cán bộ và chất lượng đội ngũ đảng viên; nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, đẩy mạnh đấu tranh, phòng chống tham nhũng, lãng phí...

Với vai trò là cơ quan chuyên môn, trong thời gian tới, Sở KH&CN sẽ đề ra những mục tiêu, giải pháp để làm tốt vai trò tham mưu cho tỉnh trong lĩnh vực KH&CN. Quán triệt sâu sắc các chủ trương, nghị quyết của Đảng về KH&CN, đổi mới sáng tạo, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, kinh tế số, xã hội số, Sở KH&CN sẽ tập trung tham mưu đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về vai trò của KH&CN. Trong đó, coi KH&CN cùng GD&ĐT là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển KT-XH nhanh, mạnh, bền vững.

Bên cạnh đó, tham mưu cho tỉnh ban hành chiến lược phát triển KH&CN trong giai đoạn tiếp theo phù hợp với điều kiện, tình hình mới của tỉnh. Xây dựng các chương trình khung KH&CN trọng điểm cấp huyện nhằm tạo đột phá về việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và công nghệ cao vào sản xuất, đời sống. Sửa đổi, bổ sung và xây dựng hành lang pháp lý, cơ chế, chính sách đối với hoạt động KH&CN. Dành nguồn lực để tiếp tục đầu tư nâng cấp hạ tầng cốt lõi về KH&CN.

Ngoài ra, Sở cũng sẽ làm tốt các hoạt động phối hợp, tăng cường hoạt động đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp; mở rộng hoạt động quỹ phát triển KH&CN; nâng cao năng lực cung cấp dịch vụ đối với các đơn vị sự nghiệp KH&CN chủ động thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Đồng thời, chủ động đổi mới toàn diện mạnh mẽ, đồng bộ hệ thống tổ chức, cơ chế quản lý; tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về KH&CN.

Với sự vào cuộc mạnh mẽ, quyết liệt  của Đảng bộ Sở KH&CN, chắc chắn rằng, các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh trong nhiệm kỳ tới, 2020 – 2025 về KH&CN sẽ tiếp tục được cụ thể hoá vào cuộc sống, đưa KH&CN cùng GD&ĐT là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển KT-XH nhanh, mạnh, bền vững. Góp phần xây dựng tỉnh Quảng Ninh là tỉnh dịch vụ, công nghiệp hiện đại, xứng đáng là một trong những trung tâm phát triển năng động, toàn diện của cả nước.

Bài, ảnh: Thu Hương

 

Khoa học và công nghệ dẫn đường cho phát triển

Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ (KH&CN) hiện đại đang có bước tiến như vũ bão diễn ra trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đã và đang tạo ra cơ hội hết sức thuận lợi để các quốc gia bứt phá. Kinh nghiệm từ các nước có tốc độ phát triển nhanh trên thế giới và trong khu vực như Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore, Mỹ, Đức… đều chỉ ra rằng: biện pháp để thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng là phải dựa vào việc nghiên cứu, ứng dụng mạnh mẽ KH&CN. Hòa chung “dòng chảy” đó, cùng với cả nước, tỉnh Quảng Ninh cũng đã và đang tập trung trí tuệ, nguồn lực để đưa KH&CN hiện diện rõ nét trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội, quốc phòng – an ninh, trở thành kim chỉ nam, dẫn đường cho sự phát triển. Qua đó, từng bước tiệm cận mục tiêu xây dựng Quảng Ninh trở thành tỉnh dịch vụ, công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.

 Nhận diện rõ thách thức, xác định rõ mục tiêu

KH&CN – nhân tố quyết định tác động và chi phối đến sự phát triển của các mặt đời sống KT-XH. Xác định rõ ý nghĩa, tầm quan trọng này, thời gian qua, tỉnh Quảng Ninh đã dành nhiều sự quan tâm cũng như nguồn lực đầu tư cho lĩnh vực KH&CN. Giai đoạn 2011-2015, tỉnh cũng đã ban hành Nghị quyết chuyên đề 04-NQ/TU của BCH Đảng bộ tỉnh về phát triển KH&CN. Sau 4 năm thực hiện, nghị quyết này cũng đã cho thấy những tác động tích cực: Các chương trình hợp tác, ký kết liên quan đến KH&CN đã được triển khai; hoạt động hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp đổi mới công nghệ, ứng dụng công nghệ tiên tiến bước đầu có hiệu quả; Việc nghiên cứu, ứng dụng KH&CN được quan tâm hơn; nhiều nhiệm vụ được ứng dụng thực tiễn, mang lại hiệu quả thiết thực. Giai đoạn này, tỉnh đã xác định được các sản phẩm ưu tiên, có tiềm năng để đầu tư nghiên cứu; đã xây dựng và phát triển 30 thương hiệu cho sản phẩm nông sản. Đầu tư cho KH&CN bước đầu đã nhận được sự quan tâm của các cấp, ngành, đơn vị, doanh nghiệp…

Dù đã có những bước tiến nhất định, Quảng Ninh cũng thẳng thắn nhìn nhận, hoạt động KH&CN chưa có nhiều bứt phá, thực sự trở thành động lực phát triển KT-XH. Sự quan tâm, nhất là của người đứng đầu một số ngành, địa phương còn chưa đúng mức, thụ động và lúng túng trong triển khai thực hiện các nhiệm vụ KH&CN. Việc huy động nguồn lực xã hội vào hoạt động KH&CN chưa hợp lý. Hầu hết mới chỉ dừng lại ở chi đầu tư, chi sự nghiêp KH&CN còn thấp, hiệu quả sử dụng chưa cao, nhất là trong các doanh nghiệp.

Cùng với đó là quá trình đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp vẫn còn chậm, khả năng cạnh tranh của các sản phẩm còn hạn chế. Các sản phẩm nghiên cứu chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu của thị trường và thị hiếu người tiêu dùng. Môi trường đầu tư kinh doanh và cơ chế, chính sách thu hút các ngành ứng dụng công nghệ tiên tiến chưa đủ mạnh. Đặc biệt, KH&CN dù có hiện diện nhưng vẫn còn khá mờ nhạt ở các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, y tế, giáo dục…

 

Nhận diện rõ những điểm nghẽn, hạn chế, bất cập này, năm 2014, tỉnh Quảng Ninh hoàn thành việc xây dựng và công bố hàng loạt các quy hoạch chiến lược. Một trong 7 quy hoạch quan trọng đó liên quan đến sự phát triển KH&CN của tỉnh đến năm 2020, tầm nhìn 2030. Trong quy hoạch này, những mục tiêu, yêu cầu, giải pháp mang tầm chiến lược để tạo sự đột phá cho KH&CN đều được tỉnh xây dựng kỹ lưỡng dựa trên hiện trạng, cơ sở thực tế và có sự tham vấn, đóng góp của các chuyên gia, nhà hoạch định chính sách trong và ngoài nước. Kỳ vọng được tỉnh nhấn mạnh là phấn đấu đưa KH&CN trở thành nền tảng và động lực then chốt trong tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững; xây dựng Quảng Ninh trở thành tỉnh tiên tiến trong vùng Đồng bằng sông Hồng về KH&CN vào năm 2020.

Sức bật từ Nghị quyết 07

Nhận diện, định vị lại những tiềm năng khác biệt, cơ hội nổi trội, lợi thế cạnh tranh của địa phương, trong nhiệm kỳ 2015-2020, hoạt động KH&CN tiếp tục được đầu tư mạnh mẽ với những quyết sách có trọng tâm, trọng điểm. Trong đó, tỉnh xác định 3 điểm mấu chốt để tiếp cận gần hơn với cách mạng công nghiệp 4.0, đó là: Phải xác định cải cách thể chế, cơ chế, chính sách và biện pháp điều hành làm đột phá; Lấy phát triển hạ tầng, cải cách hành chính đồng bộ, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao làm nền tảng; Lấy ứng dụng, chuyển giao và làm chủ KH&CN, tăng năng suất các yếu tố tổng hợp và định hướng thị trường làm động lực,… Từ quan điểm này, Nghị quyết 07 của BCH Đảng bộ tỉnh về phát triển KH&CN đến năm 2020 ra đời. Đây chính là chính sách động lực, tạo sức bật tăng trưởng cho các ngành, lĩnh vực.

Nghị quyết 07 được xây dựng với 3 mục tiêu cốt lõi: phát triển nguồn nhân lực KH&CN; đầu tư xây dựng hạ tầng Kh&CN; tăng cường tiềm lực KH&CN, đẩy mạnh ứng dụng chuyển giao phục phụ phát triển KT-XH nhanh, bền vững của tỉnh.

Trên cơ sở đó, những mục tiêu cụ thể cũng được xác định rõ ràng như: xây dựng, hình thành được các khu nông nghiệp, thủy sản có ứng dụng công nghệ cao; 100% sản phẩm, hàng hóa nhóm 2 được quản lý bằng quy chuẩn kỹ thuật; phát triển thêm 20 nhãn hiệu sản phẩm gắn với địa danh, loại hình dịch vụ có thế mạnh; số doanh nghiệp áp dụng thành công hệ thống, công cụ quản lý chất lượng tiên tiến cao gấp 2 lần so với năm 2015; thực hiện thí điểm xây dựng thành phố Hạ Long trở thành đô thị thông minh, tiến tới nhân rộng ở một số địa phương, lĩnh vực…

Đặc biệt, Nghị quyết này nhấn mạnh: hàng năm, tỉnh sẽ dành 4%-5% tổng chi thường xuyên ngân sách địa phương cho hoạt động KH&CN, tập trung vào những lĩnh vực trọng tâm như du lịch, dịch vụ thương mại, CNTT, y tế, giáo dục.

Đến nay, sau gần 4 năm triển khai, các mục tiêu, chỉ tiêu của Nghị quyết đã cơ bản hoàn thành. Hoạt động KH&CN cũng tạo được nhiều dấu ấn quan trọng trên các ngành, nghề, từ đó thúc đẩy phát triển KT-XH của tỉnh. 

Hiện, tỉnh đã thành lập được 1 khu nông nghiệp công nghệ cao tại TX Đông Triều với hệ thống nhà màng, tưới tiêu, kiểm soát nhiệt độ công nghệ hiện đại, an toàn, mỗi tháng cung ứng cho thị trường từ 180-200 tấn nông sản chất lượng cao. Năm 2019, tỉnh đã xây dựng được khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao về thủy sản tại huyện Đầm Hà với công nghệ sản xuất tôm giống chất lượng cao, đến nay đã đưa ra thị trường gần 1 tỷ con tôm giống. Hiện chủ đầu tư là Tập đoàn Việt - Úc cũng đang triển khai đưa các nhà khoa học đầu ngành tới huyện Đầm Hà để tìm hiểu, nghiên cứu dự án nhân giống và nuôi sá sùng trên địa bàn. Việc ứng dụng KH&CN vào nông nghiệp cũng được triển khai mạnh mẽ trên địa bàn toàn tỉnh, qua đó, hình thành nên những vùng sản xuất tập trung, chuyên canh có quy mô, chất lượng và đảm bảo an toàn.

Các lĩnh vực khác như y tế, giáo dục cũng từng bước đạt được những thành tựu nhất định. Y tế thông minh với hệ thống bệnh viện thông minh là Sản Nhi, Bãi Cháy và Đa khoa tỉnh đã và đang được hình thành. Việc cung cấp dịch vụ y tế từ “thụ động” đã dần chuyển sang hướng “chủ động”. Công tác quản lý, khám chữa bệnh được nâng cao; giảm thời gian, chi phí cho người bệnh; được người dân đánh giá tích cực, nâng cao mức độ hài lòng của người dân. Trong giáo dục, toàn tỉnh có 66 trường và trên 500 lớp học tiên tiến, thông minh, mang lại nhiều lợi ích cho giáo viên, học sinh, phụ huynh cũng như trong công tác quản lý, giảng dạy và học tập.

Điểm nhấn rõ nét nhất là dáng dấp của các đô thị thông minh với KH&CN là nền tảng cốt lõi tại các thành phố như Hạ Long, Móng Cái, Cẩm Phả, Uông Bí đã dần hiện hữu, tạo nên diện mạo mới cho đô thị Quảng Ninh. Đặc biệt, từ tháng 8/2019, Quảng Ninh đã đưa vào vận hành thí điểm Trung tâm Điều hành thành phố thông minh của tỉnh. Trung tâm này cho phép sử dụng thông tin và công nghệ phân tích để tỉnh có thể đưa ra những quyết sách kịp thời, giúp quản lý được đa dạng các vấn đề. Đồng thời, tăng tính tương tác ngược lại khi người dân có thể gửi ý kiến góp ý, thông báo cho các cơ quan trong tỉnh biết về các sự cố, vấn đề liên quan tới hạ tầng đô thị, giao thông, an ninh an toàn, môi trường... bằng vài thao tác bấm nút cực kỳ đơn giản trên thiết bị di động.

Khẳng định sự nỗ lực của tỉnh trong việc xây dựng thành phố thông minh, Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Thắng chia sẻ: đây là mô hình thể hiện sự tiên tiến, đảm bảo tính khoa học, phù hợp với thực tiễn yêu cầu trong đổi mới quản lý, sáng tạo trong điều hành phát triển KT-XH của tỉnh. Do vậy quan điểm lãnh đạo tỉnh đó là sẽ quyết tâm cao nhất để hoàn thành mô hình thành phố thông minh. Đây là việc làm cần thiết, phù hợp với xu thế đổi mới, phát triển của tỉnh và cụ thể hóa chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường năng lực tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4.

Những bước tiến về KT-XH dưới sự “trợ lực” từ KH&CN đã đưa Quảng Ninh phát triển nhanh, mạnh mẽ, khẳng định hướng đi đúng đắn của tỉnh trên chuyến tàu công nghệ. Thành quả từ giải pháp công nghệ cũng đưa Quảng Ninh vươn tới danh hiệu danh giá “chính quyền số xuất sắc” do tổ chức Công nghiệp Điện toán châu Á - châu Đại Dương trao tặng vào năm 2018, khi những nỗ lực về đẩy mạnh ứng dụng CNTT vào xây dựng chính quyền điện tử.

Cùng với Nghị quyết 07, trong nhiệm kỳ qua, tỉnh cũng tập trung triển khai nhiều cơ chế, chính sách liên quan nhằm tăng cường hơn nữa tiềm lực, khả năng ứng dụng KH&CN vào tất cả các ngành, lĩnh vực. Qua đó, khai thác tốt tiềm năng, lợi thế để phát triển KT-XH một cách bền vững, hiện thực hóa mục tiêu trở thành tỉnh dịch vụ, công nghiệp theo hướng hiện đại vào cuối năm 2020 này.

Bài, ảnh: Nguyên Ngọc

 

HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Nâng cao tiềm lực KHCN cho các địa phương cấp huyện

Nhằm phát huy công tác nghiên cứu và ứng dụng KH&CN vào thực tiễn, tỉnh Quảng Ninh đã quan tâm đầu tư phát triển tiềm lực KH&CN cho các địa phương cấp huyện. Tuy nhiên, để KH&CN thật sự làm tốt vai trò “đòn bẩy” của mình, cần đầu tư nâng cao tiềm lực KH&CN mạnh hơn nữa.

Là thành phố trung tâm của tỉnh, bên cạnh sự đầu tư của tỉnh, TP Hạ Long cũng huy động mọi nguồn lực nâng cao tiềm lực KH&CN của địa phương. Thành phố đã đầu tư cho dự án ứng dụng KH&CN với ngân sách nhà nước trên 3,8 tỷ đồng và 2 tỷ đồng từ các doanh nghiệp. Ngân sách thành phố cũng chi 1,2 tỷ đồng/năm cho triển khai chương trình OCOP và xây dựng hệ thống quản lý chất lượng, quản lý KH&CN.

Với mục tiêu phấn đấu đến hết năm 2020, TP Hạ Long trở thành thành phố du lịch thông minh. Do đó, thành phố đã tập trung nguồn lực xây dựng đô thị thông minh với trọng tâm là chính quyền điện tử, y tế, giáo dục, giao thông, môi trường...

Thành phố đã tăng cường trang sắm, lắp đặt thiết bị hiện đại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hiện đại của 33 xã, phường, với gần 10,5 tỷ đồng. Cùng với đó, TP Hạ Long đã làm chủ đầu tư 5 dự án ứng dụng CNTT trong quản lý, nâng cao hiệu quả hoạt động du lịch thông minh trên địa bàn.

Các doanh nghiệp trên địa bàn cũng tăng cường ứng dụng công nghệ tiên tiến trong sản xuất. Các sản phẩm OCOP của Hạ Long cũng được các doanh nghiệp, hộ sản xuất quan tâm đầu tư công nghệ chế biến, bảo quản nhằm cung cấp sản phẩm đảm bảo ATTP đến người tiêu dùng.

TX Đông Triều cũng là địa phương có sự đầu tư mạnh mẽ cho nghiên cứu và ứng dụng KH&CN vào thực tiễn. Từ năm 2017-2020, thị xã đã triển khai thực hiện 18 nhiệm vụ KHCN, với tổng kinh phí 28,445 tỷ đồng, trong đó ngân sách thị xã là 18,602 tỷ đồng, chiếm 65,4% tổng kinh phí, còn lại từ nguồn xã hội hóa.

Các nhiệm vụ KH&CN tập trung lĩnh vực nông nghiệp, công nghệ thông tin, y tế, giáo dục... Cùng với đó, thị xã đã khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng công nghệ tiên tiến vào sản xuất. Tiêu biểu như Tập đoàn Hoàng Hà xây dựng nhà máy gạch tuynel áp dụng công nghệ mới hoàn toàn tự động giải phóng cho 95% sức lao động, tăng năng suất từ 75 triệu viên lên 90 triệu viên/năm. Công ty TNHH Thanh Tuyền Group đổi mới hoàn toàn công nghệ tận dụng xỉ thải nhà máy Nhiệt điện Đông Triều để sản xuất gạch không nung phù hợp với 50 triệu viện/năm, giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Chi nhánh Công ty TNHH Quang Vinh ứng dụng thiết bị, công nghệ kỹ thuật tiên tiến cho sản xuất Gốm sứ gia dụng chất lượng cao tại nhà máy.

 

Công ty CP đầu tư xây dựng và Thương Mại 188, ứng dụng KH&CN của Isarel và Đài Loan về giống, dây chuyền sản xuất trong trồng rau thủy canh với diện tích 2,5 ha, đã được chứng nhận VietGAP, sản lượng thu từ 3-5 tạ/ngày, cung cấp cho các siêu thị Hà Nội, Hạ Long.

 

Cùng với Hạ Long, Đông Triều, các địa phương trong tỉnh đã có sự quan tâm, đầu tư tiềm lực cho hoạt động KH&CN. Bên cạnh đó, hoạt động KH&CN của các địa phương được lồng ghép với các chương trình, nhiệm vụ lớn, như: Xây dựng nông thôn mới, chương trình "Mỗi xã, phường một sản phẩm", công tác cải cách hành chính, xây dựng chính quyền điện tử, chương trình phát triển đô thị, chương trình chăm sóc sức khỏe toàn dân... Nhiều nhiệm vụ, mô hình ứng dụng KH&CN đã được triển khai thực hiện và mang lại hiệu quả thiết thực.

Tuy nhiên, việc ứng dụng khoa học và chuyển đổi công nghệ mới của các đơn vị, doanh nghiệp tại địa phương còn gặp khó khăn do vốn đầu tư lớn, nhiều rủi ro, vì vậy còn tâm lý e ngại. Năng lực quản lý hoạt động KH&CN của một số cơ quan chuyên môn, đơn vị, địa phương còn hạn chế, đặc biệt trong đề xuất thực hiện các nhiệm vụ hàng năm.

Vì vậy, trong định hướng hoạt động KH&CN, ngoài việc bảo đảm mức chi cho KH&CN từ ngân sách địa phương đạt mức bình quân hàng năm trên 2% tổng chi ngân sách thường xuyên, các địa phương còn được tiếp cận các chính sách ưu đãi cụ thể về thuế, tín dụng, nguồn vốn vay từ các quỹ để hỗ trợ các doanh nghiệp đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh và tăng hiệu quả sản xuất, kinh doanh… Đồng thời, khuyến khích các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế tư n:hân thành lập quỹ phát triển KHCN cơ sở.

Bài, ảnh: Nguyễn Hoa

 

 

 

Lan toả phong trào Năng suất chất lượng tại Quảng Ninh

 Quảng Ninh là một trong những địa phương trên cả nước đã tích cực đẩy mạnh phong trào tăng năng suất chất lượng thực hiện theo Quyết định số 712 ngày 21/5/2010 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình quốc gia “Nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hoá của doanh nghiệp Việt Nam đến năm 2020”. Đến nay các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đã thực hiện khá hiệu quả về  nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ  góp phần tích cực vào phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh. Phong trào năng suất chất lượng ở Quảng Ninh đang thực sự lan toả. 

Sở KH&CN đã tham mưu, xây dựng và trình UBND tỉnh ban hành Quyết định số 1480/QĐ-UBND ngày 11/7/2014 của UBND tỉnh  về việc phê duyệt Đề án nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020. Triển khai thực hiện Đề án này, ngay từ năm 2015, Sở KH&CN đã tổ chức khảo sát trực tiếp tại 40 doanh nghiệp trên địa bàn chọn 15 mô hình điểm để xây dựng và áp dụng các hệ thống, công cụ quản lý chất lượng tiên tiến. Tiếp đến, năm 2018, 2019 tiếp tục khảo sát 24 doanh nghiệp để lựa chọn thêm 15 doanh nghiệp tham gia xây dựng mô hình điểm. Đến nay đã xây dựng được 30 mô hình điểm về nâng cao năng suất chất lượng trên địa bàn tỉnh với các hoạt động cụ thể hỗ trợ doanh nghiệp.

Quang cảnh sản xuất ở Công ty CP Gốm Đất Việt

Có thể thấy, Quảng Ninh đã và đang rất quan tâm đến việc nâng cao năng suất chất lượng để phát triển doanh nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh…bằng những nhóm giải pháp cụ thể để đồng hành, hỗ trợ doanh nghiệp. Ông Hoàng Bá Nam, Giám đốc Sở KH&CN Quảng Ninh cho biết: “Trong rất nhiều nhóm giải pháp đồng hành hỗ trợ doanh nghiệp có đưa chỉ tiêu quan trọng trong Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp là tăng bình quân năng suất lao động từ 11-12%; Tập trung cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, cải thiện chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, tạo môi trường thông thoáng nhất để các doanh nghiệp cùng tham gia phát triển kinh tế xã hội; ...”

Việc hỗ trợ các doanh nghiệp xây dựng, áp dung, duy trì các hệ thống, công cụ nâng cao NSCL bao gồm: Hệ thống quản lý chất lượng - ISO 9000: gồm 16 doanh nghiệp; Hệ thống quản lý an toàn thực phẩm - ISO 22000: gồm 10 DN; Hệ thống phân tích mối nguy và kiểm soát điểm tới hạn – HACCP: gồm 05 doanh nghiệp; Hệ thống quản lý Môi trường – ISO 14001: gồm 07 DN; Thực hành sản xuất nông nghiệp tốt – VietGAP: gồm 03 doanh nghiệp; Hệ thống quản lý sức khỏe và an toàn nghề nghiệp - OHSAS 18001: gồm 01doanh nghiệp; Tiêu chuẩn về yêu cầu và chất lượng đối với các phòng xét nghiệm y tế: ISO 15189: gồm 01 doanh nghiệp; Duy trì hiệu suất thiết bị tổng thể - TPM: gồm 01doanh nghiệp; Kaizen và quản lý trực quan - 5S: gồm 15 doanh nghiệp; Bố trí mặt bằng sản xuất - Work Layout: gồm 04 doanh nghiệp; Chỉ tiêu đánh giá hoạt động – KPIs: gồm 01 doanh nghiệp; Các công cụ thống kê và quản lý chất lượng - 7 Tool: gồm 15 doanh nghiệp. Như vậy trong 30 mô hình điểm đã có 43 hệ thống quản lý và 36 công cụ cải tiến nâng cao năng suất chất lượng đã được áp dụng trong 30 mô hình điểm đó.

Tại Công ty CP Gốm Đất Việt với ngành nghề sản xuất gạch ốp lát cao cấp, ngói lợp từ đất sét nung đã triển khai thực hiện có hiệu quả Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2015; hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn ISO 14001:2015; Công cụ 5S. Anh hùng lao động Nguyễn Quang Mâu, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Gốm Đất Việt cho biết: “Chúng tôi xây dựng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2015, sản xuất gắn liền thân thiện với môi trường, ISO làm cho môi trường xanh sạch đẹp. Với 5S ở Công ty chúng tôi, từ người lao động, phân xưởng, tổ sản xuất, phòng ban đều đã phải xây dựng tiêu chí: sàng lọc, sắp xếp, sẵn sàng, luôn luôn tạo nơi làm việc hợp lý, thông thoáng...”

Tại bệnh viện sản nhi,  là đơn vị trực thuộc Sở Y tế Quảng Ninh có quy mô 500 giường bệnh cũng đã xác định rõ tầm quan trọng của việc triển khai áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng và năng lực phòng xét nghiệm y tế theo tiêu chuẩn ISO 15189; Công cụ 5S. Ông Nguyễn Quốc Hùng, Giám đốc Bệnh viện Sản nhi Quảng Ninh khẳng định: “Chúng tôi áp dụng ISO 15189 cho tất cả cá hệ thống xét nghiệm, sau đó xây dựng cho toàn bệnh viện. Việc chuẩn hoá xét nghiệm bằng tiêu chuẩn chất lượng thì kết quả xét nghiệm được công nhận ở tất cả các lĩnh vực y tế, bệnh nhân sử dụng ISO, xét nghiệm đó vào công đoạn khám chữa bệnh lần sau.  Đối với 5S, chúng tôi áp dụng quản lý hồ sơ bệnh nhân rất thuận lợi, giảm thời gian tìm kiếm lại hồ sơ khi cần”.

Hình ảnh làm xét nghiệm tại bệnh viện sản nhi Quảng Ninh

Hay như Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Thuỷ Sản Quảng Ninh, là đơn vị tinh chế sản phẩm thuỷ sản: ruốc hàu, ruốc trai, ruốc tôm...đã thấy rõ hiệu quả của việc áp dụng Hệ thống quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm như HACCP; ISO 22000; Công cụ 5S. Sau khi xây dựng, áp dụng, duy trì các hệ thống, công cụ nâng cao năng suất chất lượng, Công ty đã tạo được niềm tin đối với khách hàng khi đạt chứng chỉ ISO 22000 và HACCP.  Bà Phạm Thị Thu Hiền, Giám đốc Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Thuỷ Sản Quảng Ninh bày tỏ: “Để đạt được chứng chỉ ISO 22000 và HACCP, chúng tôi đã phải trải qua nhiều bước: ban đầu là tham gia các khoá đào tạo, tiếp đến là hiệu chỉnh toàn bộ nhà máy, cơ sở vật chất để đáp ứng được chứng nhận tiêu chuẩn. Chúng tôi áp dụng từng công đoạn trong quá trình sản xuất đến công tác quản lý của tất cả các bộ phận và kết quả là quá trình nâng cao năng suất chất lượng tốt hơn nhiều”.

Quang cảnh sản xuất ruốc hàu tại Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Thuỷ Sản Quảng Ninh

Đến thời điểm hiện tại, những nội dung chính của Đề án năng suất chất lượng tại Quảng Ninh thuộc Chương trình quốc gia “Nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp Quảng Ninh đến năm 2020” đã cơ bản hoàn thành. Thực tế triển khai cho thấy, các doanh nghiệp khi thực hiện các dự án cải tiến, tối ưu hóa quá trình sản xuất theo các hệ thống tiêu chuẩn, công cụ như: ISO, Lean/Kaizen, 5S... đã có thể cải thiện năng suất tăng từ 15-20%; nâng cao nhận thức về sự cần thiết cải tiến năng suất của lãnh đạo doanh nghiệp; nâng cao năng lực quản trị, điều hành, quản lý công nghệ; tiết kiệm chi phí, nguyên vật liệu và thời gian; nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, giúp cộng đồng doanh nghiệp ngày càng lớn mạnh.

Ông Hoàng Bá Nam, Giám đốc Sở KH&CN khẳng định: Với vai trò là cơ quan tham mưu cho UBND tỉnh Quảng Ninh để đồng hành cùng doanh nghiệp, Sở KH&CN đang tiếp tục thực hiện các nhóm giải pháp nhằm hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng suất chất lượng. Và mới đây, trong cuộc làm việc giữa Sở KH&CN với Tổng cục Tiêu chuẩn đo lường chất lượng về Chương trình năng suất chất lượng tại Quảng Ninh, 2 bên đã trao đổi về những định hướng triển khai hỗ trợ doanh nghiệp trong thời gian tới; các hoạt động đào tạo, tư vấn về quản lý và phát triển doanh nghiệp; cơ chế chính sách nâng cao năng suất chất lượng cho các doanh nghiệp của tỉnh…  Theo đó sẽ xây dựng kế hoạch năng suất chất lượng của tỉnh tập trung vào vấn đề phát triển nguồn nhân lực, nâng cao năng suất chất lượng trên địa bàn tỉnh. Sở KH&CN sẽ khẩn trương đề xuất với UBND tỉnh để xây dựng chương trình phối hợp giữa Sở KH&CN với Viện năng suất chất lượng và Tổng cục TCĐLCL; phối hợp với Viện năng suất chất lượng hỗ trợ Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Thủy sản Quảng Ninh phát triển thành doanh nghiệp KH&CN.  Đề xuất Tổng cục TCĐLCL chọn Quảng Ninh là địa phương làm điểm cho vấn đề chuyển đổi số; đồng thời giúp Quảng Ninh xây dựng chính sách và tổng kết chương trình năng suất chất lượng để tạo ra một nguồn lực mới.

Bài, ảnh: Thu Hương

 

Công ty CP Thuỷ sản Cái Rồng (Vân Đồn) xây dựng và áp dụng Hệ thống quản lý

 

Công ty CP Thuỷ sản Cái Rồng (huyện Vân Đồn) chuyên sản xuất nước mắm bằng phương pháp truyền thống. Sản phẩm nước mắm của Công ty có uy tín và thương hiệu trên thị trường, được đông đảo khách hàng tin dùng hàng chục năm nay. Để sản phẩm có chất lượng cao, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm (VSTP), Công ty đã áp dụng tiêu chuẩn chất lượng ISO 22000: 2015 và ISO 14000: 2017.

  Công ty đã triển khai xây dựng và áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng nâng cao năng lực quản lý của lãnh đạo công ty trong điều hành thực hiện các quy trình trong sản xuất đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và môi trường sản xuất; nâng cao nhận thức và trách nhiệm của công nhân lao động trong quá trình lao động sản xuất, giữ gìn vệ sinh an toàn lao động, an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường; cải tiến kỹ thuật áp dụng khoa học kỹ thuật để nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm của công ty đáp ứng yêu cầu của thị trường.

 

Công nhân Công ty CP Thuỷ sản Cái Rồng sử dụng hệ thống dây chuyền đóng chai hiện đại

 

Ông Đào Đức Yêm, Giám đốc Công ty CP Thuỷ sản Cái Rồng cho biết: “Năm 2017, Công ty áp dụng tiêu chuẩn ISO:2015, Công ty triển khai đến lãnh đạo và toàn thể nhân viên, qua các công đoạn sản xuất để đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Cụ thể là Công ty đã nâng cao tinh thần quản lý cho cán bộ, bố trí, sắp xếp các hệ thống sản xuất đảm bảo hợp lý, đầu tư các trang thiết bị đảm bảo an toàn thực phẩm như sử dụng lò hơi để chưng cất nước mắm thay cho lò đung bằng than trước đấy, sử dụng giàn năng lượng mặt trời trong quá trình phơi góp phần nâng cao chất lượng nước mắm”.

Trong quá trình áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng, Công ty được Sở khoa học công nghệ và đơn vị tư vấn là Trung tâm đào tạo (Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng) tổ chức các buổi tập huấn, tuyên truyền việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng. Đồng thời tư vấn, hướng dẫn cho Công ty thực hiện theo quy định trong các hệ thống quản lý như việc tổ chức sản xuất ngăn ngừa các yếu tố gây hại, tổ chức sản xuất sạch hơn không gây ảnh hưởng đến môi trường như khí thải, rác thải.

Áp dụng theo các tiêu chuẩn chất lượng này, từ khâu thu mua nguyên liệu, đến cách ướp, đánh quậy, phơi nắng, chưng cất, đóng chai… đều phải thực hiện theo quy trình nghiêm ngặt. Nguồn nguyên liệu cá thu mua từ ngư dân phải được chọn lọc là cá tươi có nguồn gốc rõ ràng, tàu cung cấp nguyên liệu cũng phải có giấy chứng nhận đảm bảo tiêu chuẩn về ATTP. Từng công đoạn thu mua, phơi nắng đều phải ghi vào sổ rõ ràng về số lượng, chủng loại, ngày tháng…

Việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng đã giúp Công ty nâng cao năng lực quản lý chất lượng sản phẩm, lãnh đạo Công ty chỉ đạo huy động toàn bộ nhân lực trong sản xuất cùng thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn thực phẩm đồng thời nâng cao năng suất lao động, cải thiện điều kiện làm việc cho công nhân.

Chị Lưu Thị Thu, công nhân tổ sản xuất của Công ty chia sẻ: “Sân phơi mắm trước đây khi chưa cải tiến thì chưa được lát nền, chúng tôi phải gánh nguyên vật liệu vất vả, chưng cất nước mắm bằng lò than, mùi bay lên rất hôi. Từ khi áp dụng tiêu chuẩn chất lượng, sân phơi đều được đổ bê tông, vận chuyển nguyên vật liệu bằng xe kéo hết, việc chưng cất mắm cũng bằng lò hơi, không gây mùi khó chịu, năng suất tăng lên nhiều. Nói chung công nhân chúng tôi đỡ vất vả hơn nhiều so với trước đây. Về vấn đề VS ATTP, hàng năm đều có lớp tập huấn tại Công ty và được cấp chứng chỉ. Chúng tôi phải áp dụng các tiêu chuẩn đảm bảo an toàn VSTP từ khâu lấy nguyên liệu đến khi ra sản phẩm mới đáp ứng được tốt nhu cầu của khách hàng bây giờ”

Những năm qua, Công ty đã đầu tư nhà xưởng và dây chuyền đóng chai hiện đại; đầu tư nhà kính nhằm tăng nhiệt phơi sản phẩm nước cốt sau khi được chắt lọc; thay đổi quy trình phơi ngấu từ 12-16 tháng theo cách truyền thống lên đến 36 tháng. Giải pháp này đã giúp làm bay hơi nước, tinh khiết, nâng cao độ đạm cho sản phẩm. Sản phẩm nước mắm của Công ty không sử dụng chất bảo quản mà dùng phương pháp truyền thống đó là bể muối để lọc, vừa tăng độ tinh khiết vừa bảo quản được sản phẩm lâu.

Nói về hiệu quả của việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng, ông Đào Đức Yêm, Giám đốc Công ty CP Thuỷ sản Cái Rồng khẳng định: “Khi chưa áp dụng hệ thống ISO, nhận thức của cán bộ công nhân ccòn hạn chế, sau khi áp dụng hệ thống ISO, tất cả cán bộ công nhân viên đều được học tập nâng cao về việc giữ gìn an toàn vệ sinh thực phẩm và áp dụng trong mọi công đoạn sản xuất của công ty. Hiệu quả mang lại là các loại sản phẩm nước mắm có chất lượng cao của Công ty tăng 10 – 15%, các loại sản phẩm luôn đảm bảo AT VSTP, có uy tín trên thị trường, được tiêu thụ rộng rãi trong tỉnh cũng như các tỉnh khu vực phía Bắc”.

Nhờ áp dụng hệ thống quản lý chất lượng nên chất lượng, sản phẩm được quan tâm, công tác xây dựng thương hiệu được làm tốt, nước mắm Cái Rồng đã trở thành một sản phẩm độc đáo của huyện đảo Vân Đồn. Riêng sản phẩm nước mắm sá sùng của Công ty được chứng nhận sản phẩm OCOP 4 sao của huyện Vân Đồn. Doanh thu của công ty tăng từ 5 - 10%. Thương hiệu nước mắm của Công ty được thị trường tín nhiệm tin dùng. Nước mắm của Công ty được tiêu thụ rộng rãi tại Quảng Ninh và các tỉnh phía Bắc với hơn 100 đại lý.

Bài, ảnh: Mai Duyên

 

Công ty CP sữa An Sinh: nâng cao năng suất chất lượng

 

Nếu như trước kia nhắc đến sữa tươi, nhiều người sẽ nghĩ ngay Mộc Châu, Ba Vì thì nay tại thị xã Đông Triều- vùng đất đệ tứ chiến khu cũng đã góp tên mình vào bản đồ sữa tươi của Việt Nam. Công ty CP sữa An Sinh (xã An Sinh, thị xã Đông Triều) hiện đang là một trong những địa chỉ tin cậy được người tiêu dùng trong và ngoài tỉnh lựa chọn sử dụng các sản phẩm từ sữa bởi chất lượng sản phẩm của Công ty được nâng cao nhờ xây dựng hệ thống quản lý chất lượng.

Xác định vai trò quan trọng của KH&CN, thời gian qua, Công ty CP Sữa An Sinh đã ứng dụng chuyển giao thực hiện công nghệ thanh trùng sữa tươi, lên men vi sinh sữa chua, làm váng sữa, sản xuất bánh sữa góp phần nâng cao giá trị sản phẩm, liên kết theo chuỗi từ sản xuất, chế biến cho hiệu quả kinh tế cao.

 

Việc áp dụng thành công Hệ thống phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn HACCP đã và đang góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm của công ty CP sữa An Sinh

 

 Công ty CP Sữa An Sinh đã được tỉnh lựa chọn xây dựng Mô hình điểm về nâng cao năng suất chất lượng. Thực hiện dự án, Công ty đã được đào tạo tư vấn áp dụng ISO 9001:2015 và HACCP (hệ thống phân tích mối nguy và kiểm soát điểm tới hạn) với phạm vi sản xuất, kinh doanh sữa và các sản phẩm từ sữa; đồng thời đào tạo và tư vấn áp dụng 5S khu vực nhà xưởng sữa và các sản phẩm từ sữa (5S là: Sàng lọc, Sắp xếp, Sạch sẽ, Săn sóc, Sẵn sàng) .

Ông Ngô Quang Ninh, Giám đốc Công ty CP sữa An Sinh, thị xã Đông Triều cho biết: “Sau khi được hỗ trợ từ Sở KH&CN Quảng Ninh, chúng tôi đã được tiến hành khảo sát và đánh giá thực trạng Công ty; Tiến hành các khoá đào tạo gồm nhận thức chung Hệ thống phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn HACCP, đào tạo phương pháp xây dựng tài liệu Hệ thống phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn HACCP. Đào tạo đánh giá nội bộ Hệ thống Phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn HACCP. Công ty đã ban hành và áp dụng tài liệu Hệ thống phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn HACCP, lập kế hoạch HACCP, xác định các điểm tới hạn HACCP và chương trình tiên quyết. Công ty còn tiến hành đánh giá nội bộ và đăng ký chứng nhận với tổ chức chứng nhận độc lập”.

Đến nay, sau quá trình thực hiện dự án đã mang lại hiệu quả thiết thực. Cụ thể, các mối nguy trong quá trình nhập sữa, gia nhiệt, Lọc, Ủ, chiết rót, bảo quản, lưu kho và vận chuyển được thiết lập. Thiết lập được các giới hạn tới hạn tại tất cả các công đoạn trong quá trình sản xuất sữa và các sản phẩm từ sữa. Các điểm kiểm soát tới hạn CCP đã được nhận biết để kiểm soát. Từ đó, đảm bảo tránh các lây nhiễm chéo và đảm bảo sản xuất An toàn thực phẩm trong quá trình sản xuất sữa và các sản phẩm từ sữa. Các biển bảng hướng dẫn 5S trực quan hoá, góp phần thay đổi ý thức người lao động trong việc làm đâu gọn đấy và duy trì sạch sẽ như ban đầu. Hoạt động 5S gắn với kiểm soát an toàn vệ sinh thực phẩm. Việc duy trì 5S giúp môi trường sạch sẽ hơn, giảm thời gian vệ sinh so với trước mà vẫn đạt yêu cầu An toàn thực phẩm. Trên 20 công nhân làm việc tại công ty đều có thu nhập ổn định từ 6- 8 triệu đồng/tháng.

Chị Nguyễn Thị Thủy, công nhân Công ty CP sữa An Sinh cho biết: Là một công nhân làm việc tại đây chúng tôi được học và áp dụng quy trình HACCP vào sản xuất. Qua đây, chúng tôi thấy mọi quy trình thuận lợi hơn, nguyên vật liệu gọn gàng hơn, tránh được những mối nguy hại liên quan tới chất lượng sản phẩm và tránh nguy cơ lây nhiễm chéo, năng suất lao động tăng lên đáng kể. Gắn bó với công ty ngay từ ngày đầu nên chúng tôi rất yên tâm làm việc với mức thu nhập ổn định.

Cũng theo ông Ngô Quang Ninh, Giám đốc Công ty CP sữa An Sinh thì hiệu quả khi được tham gia xây dựng mô hình điểm về nâng cao nang suất chất lượng tại Công ty mang lại rất lớn. Cụ thể: Nâng cao nhận thức của người lao động về An toàn thực phẩm. Thay đổi nhận thức của cán bộ công nhân viên về môi trường làm việc an toàn, ngăn nắp, khoa học. Kiểm soát hết các mối nguy trong quá trình sản xuất. Do vậy số lượng các sữa và các sản phẩm từ sữa hỏng giảm còn 0,1%/ tháng. Cùng với đó là đảm bảo kiểm soát nghiêm ngặt theo đúng quy trình, chống lây nhiễm chéo và ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm Sữa và các sản phẩm từ Sữa trong quá trình vận chuyển. Đảm bảo tính ổn định – An toàn thực phẩm của các sản phẩm và dịch vụ cung cấp cho khách hàng. Nâng cao uy tín, thương hiệu của Công ty, tin cậy của khách hàng : Chất lượng sản phẩm được ổn định, đảm bảo giao hàng đúng thời gian theo yêu cầu của khách hàng. Lương của người lao động tăng lên 800.000 – 900.000/tháng. Công ty đã được cấp giấy chứng nhận Hệ thống phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn HACCP.

Hiện nay, Công ty CP sữa An Sinh có trên 10 loại sản phẩm bao gồm: sữa tươi, sữa chua, bánh sữa, caramen. Trong đó, sản phẩm sữa tươi thanh trùng là sản phẩm OCOP 3 sao. Năm nay, một số sản phẩm như sữa chua uống các vị hoa quả, sữa chua trân châu cũng đang được công ty hoàn thiện hồ sơ để đăng ký sản phẩm OCOP. Các sản phẩm của Công ty được tiêu thụ trên thị trường trong và ngoài tỉnh, đặc biệt tại các trường học, đơn vị ngành than, trạm dừng nghỉ, siêu thị gia đình trên địa bàn tỉnh. Việc áp dụng thành công Hệ thống phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn HACCP đã và đang góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm của công ty từ đó kết nối người tiêu dùng và quảng bá thương hiệu sữa An Sinh vươn xa hơn.

 

Bài, ảnh: Thu Trang

 

Nâng cao quản lý nhà nước về đo lường đối với hoạt động mua bán điện

 Thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh ngay sau khi có phản ánh của nhân dân về chỉ số hoá đơn tiền điện tăng đột biến, Sở KH&CN đã thành lập Đoàn kiểm tra liên ngành về đo lường, thực hiện việc kiểm tra đo lường mua bán điện tại Công ty Điện lực Quảng Ninh, các Điện lực thành viên và khách hàng mua, bán điện trên địa bàn tỉnh. Thời gian kiểm tra từ ngày 14 đến hết ngày 31/7/2020.

Đối tượng kiểm tra là các phương tiện đo được sử dụng trong mua bán điện đang lưu hành. Đoàn kiểm tra tiến hành kiểm tra sự phù hợp của phương tiện đo với qui định về việc phê duyệt mẫu, kiểm định, hiệu chuẩn; thể hiện yêu cầu kĩ thuật đo lường cơ bản trên phương tiện đo; tiến hành lấy mẫu ngẫu nhiên công tơ điện 1 pha và 3 pha để kiểm tra sai số. Kiểm tra việc thực hiện các qui định về thực hiện hợp đồng mua, bán điện, giá bán điện, phương pháp tính giá điện, việc ghi – chốt chỉ số công tơ, thông báo tiền điện hàng tháng. Kiểm tra hồ sơ giải quyết công tác khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh về dịch vụ của khách hàng….

Đoàn kiểm tra liên ngành kiểm tra ngẫu nhiên công tơ có sản lượng điện bất thường tại địa bàn thành phố Hạ Long

Tại Điện lực TP Hạ Long, là đơn vị có số khách hàng sử dụng điện nhiều nhất trong tỉnh. Hiện đơn vị này đang quản lý 111.090 công tơ vận hành trên lưới điện các loại. Thời gian các tháng 4,5,6/2020, có gần 24.000 hóa đơn có sản lượng điện bất thường. Đoàn kiểm tra liên ngành đã tiến hành xem xét các hồ sơ, tài liệu liên quan đến hoạt động mua bán điện của Điện lực TP Hạ Long; đồng thời, lấy mẫu ngẫu nhiên 11 công tơ có sản lượng điện bất thường trên 30% để kiểm tra sai số. Ông Bùi Quang Dũng, Phó giám đốc kinh doanh Điện lực TP Hạ Long cho biết: “Đơn vị đã phúc tra, phát hiện và sửa sai trước khi thu tiền đối với 26 khách hàng, tổng số tiền trên 10 triệu đồng, kịp thời bảo đảm được quyền lợi cho khách hàng”.

Điện lực TP Uông Bí hiện đang quản lý 38.769 công tơ đang vận hành trên lưới điện. Trong 6 tháng đầu năm 2020, Điện lực TP Uông Bí đã đã tiến hành kiểm tra 231 lượt khách hàng, đã phát hiện 02 vụ vi phạm sử dụng điện, thực hiện truy thu, bồi thường số tiền trên 22 triệu đồng. 3 tháng cao điểm: 4,5,6 năm 2020, Điện lực TP Uông Bí đã tiến hành phúc tra 25.366 khách hàng có sản lượng điện tăng cao bất thường ≥30%, phát hiện ghi sai của 19 khách hàng. Ông Nguyễn Văn Quý, Giám đốc Điện lực TP Uông Bí cho biết: “Điện lực TP Uông Bí đã kịp thời tự phúc tra và sửa sai hóa đơn trước khi gửi đến khách hàng. Mọi đơn thư khiếu nại của khách hàng luôn được được Điện lực thành phố Uông Bí quan tâm giải quyết theo quy định”.

Đoàn kiểm tra liên ngành kiểm tra ngẫu nhiên công tơ có sản lượng điện bất thường tại địa bàn thành phố Uông Bí

Tại thời điểm này, Công ty Điện lực Quảng Ninh đang quản lý 422.366 khách hàng. Qua kiểm tra, rà soát của đơn vị này, trong các tháng 4,5,6/2020 có 247.715 khách hàng sử dụng có sản lượng điện tăng hoặc giảm trên 30%.  Sau phúc tra có 270 khách hàng bị ghi sai chỉ số công tơ. Các khách hàng sau khi phúc tra đã được Điện lực sửa sai hóa đơn trước khi thu tiền tiện. Ông Vũ Đình Tân, Phó Giám đốc Công ty Điện lực Quảng Ninh cho biết: “Khi đoàn kiểm tra liên ngành thực hiện kiểm tra đo lường mua bán điện, Công ty chúng tôi đã phối hợp chặt chẽ với đoàn kiểm tra, bản thân tôi đã bám sát cùng đoàn kiểm tra trong suốt quá trình thực hiện kiểm tra tại 6 Điện lực địa phương. Tôi thấy đoàn kiểm tra rất công tâm để thực hiện nhiệm vụ. Đây chính là dịp để làm rõ những thắc mắc, kiến nghị của nhân dân trong thời gian qua”.

Qua đợt kiểm tra tại Công ty Điện lực Quảng Ninh và 06 Điện lực địa phương (gồm TP Hạ Long, Móng Cái, Hải Hà, Cẩm Phả, Đông Triều, Uông Bí). Kết quả kiểm tra sai số của 65 công tơ có sản lượng tăng cao bất thường trên 30% tại các địa phương, các công tơ này đều đạt yêu cầu kỹ thuật về đo lường (đã tiến hành kiểm tra sai số tại Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng tỉnh Quảng Ninh, thuộc Sở KH&CN). Đoàn kiểm tra chưa phát hiện dấu hiệu vi phạm pháp luật về đo lường đối với hoạt động mua bán điện của Công ty Điện lực Quảng Ninh. Công ty Điện lực Quảng Ninh đã chủ động trong xử lý đơn thư, khiếu nại, tố cáo trên phần mềm, tuy nhiên cần mở thêm sổ theo dõi để tiếp nhận, xử lý những đơn thư khiếu nại, phản ánh trực tiếp.

Đoàn kiểm tra cũng đã yêu cầu Công ty Điện lực Quảng Ninh cần tiếp tục chỉ đạo quyết liệt về công tác quản lý, kinh doanh điện, đảm bảo tính công khai, minh bạch hóa công tác mua bán, đo đếm điện năng, không để xảy ra sai sót tạo dư luận trong kinh doanh điện; bảo đảm quyền lợi của doanh nghiệp và khách hàng”.

Ông Nguyễn Văn Tân, Chi Cục Trưởng Chi cục TCĐLCL, Phó trưởng đoàn kiểm tra liên ngành về đo lường mua bán điện cho biết: “Qua đợt kiểm tra cho thấy: Tất cả công tơ được lấy ngẫu nhiên để kiểm tra đều đạt yêu cầu kỹ thuật về đo lường. Tuy nhiên Công ty Điện lực Quảng Ninh vẫn còn tình trạng giám sát chưa chặt chẽ trong việc ghi chỉ số công tơ điện nên đã để xảy ra tình trạng 270 trường hợp ghi sai chỉ số công tơ, gây dư luận xã hội trong thời gian vừa qua. Để thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về đo lường và minh bạch hoá trong mua bán điện, với chức năng quản lý nhà nước, thời gian tới chúng tôi sẽ tiếp tục hướng dẫn, đôn đốc Công ty Điện lực Quảng Ninh thực hiện tốt các quy định pháp luật về đo lường; từng bước hướng dẫn Công ty Điện lực Quảng Ninh áp dụng các công nghệ để ghi các chỉ số công công tơ điện. Cụ thể là chuyển đổi dần từ công tơ cơ sang công tơ điện tử để áp dụng phần mềm, qua đó có thể đọc chỉ số công tơ bất kỳ thời điểm nào và tính được thất thoát điện năng tại các trạm biến áp, giảm thiểu thấp nhất việc công nhân ghi chỉ số điện thủ công gây sai sót như trong thời gian vừa qua.

 

Bài, ảnh:  Hương Anh

PHỔ BIẾN KIẾN THỨC

Hướng dẫn tầm soát 5 loại ung thư phổ biến theo độ tuổi

Các loại ung thư phổ biến như ung thư vú, ung thư cổ tử cung, ung thư đại trực tràng, ung thư thực quản, ung thư dạ dày... có thể phát hiện sớm để nâng tỷ lệ chữa khỏi lên tới 90%

Theo TS. Nguyễn Hồng Vũ, Viện Nghiên cứu ung thư quốc gia City of Hope (California, Mỹ), đồng thời là cố vấn khoa học cho nhóm Ruy Băng Tím, tổ chức phi lợi nhuận về phòng chống ung thư tại Việt Nam, thì nguyên nhân sâu xa của bệnh ung thư là sự thay đổi bất thường về gene trong tế bào dẫn đến sự phát triển mất kiểm soát của các tế bào đó, khiến chúng có thể xâm lấn, chèn ép các cơ quan lân cận hoặc thậm chí chúng di căn đến những cơ quan xa hơn qua hệ thống máu và bạch huyết.

 

Không ai trả lời được một người bình thường nào đó có thể mắc ung thư hay không, chỉ có thể “đoán” được họ có “nguy cơ” cao hay thấp dựa vào việc tiếp xúc với các tác nhân gây ung thư (carcinogen) hoặc gia đình có sẵn các gen khiếm khuyết di truyền trong phả hệ (tỉ lệ này rất thấp, thường <5%-10%).

 

Với sự phát triển của y học hiện đại ngày nay, việc phát hiện sớm ung thư sẽ có nhiều cơ hội điều trị lành. Tuy nhiên có những loại phát triển rất “kín tiếng” như ung thư tụy, thường chỉ phát hiện khi đã đến giai đoạn muộn. Ngược lại, cũng có một số loại ung thư có thể phát hiện sớm trước khi triệu chứng xuất hiện, như ung thư vú, ung thư cổ tử cung, ung thư đại trực tràng, ung thư thực quản, ung thư dạ dày...

 

Theo thông tin từ Bệnh viện 103, phần lớn các loại ung thư “dễ phát hiện” trên đều năm trong danh sách những loại ung thư phổ biến nhất ở Việt Nam với hàng chục nghìn ca mắc mới và tử vong hằng năm. Tuy nhiên phần lớn các ca bệnh được phát hiện và điều trị ở giai đoạn muộn nên việc điều trị càng khó khăn, tốn kém và hiệu quả điều trị không cao. Ở Việt Nam, tỉ lệ chữa khỏi các bệnh ung thư (tức sống thêm từ 5 năm) ở nam giới là 33%, ở nữ khoảng 40%. Bên cạnh đó, người dân cũng chưa có nhiều hiểu biết về dự phòng và phát hiện sớm ung thư; đồng thời, chi phí chẩn đoán điều trị bệnh còn tốn kém.

Do vậy, việc tầm soát ung thư - tức phát hiện bệnh trước khi xuất hiện triệu chứng - là điều rất quan trọng. Có thể sử dụng các phương pháp khám lâm sàng và xét nghiệm phù hợp để phát hiện sớm ở từng độ tuổi. Đối với những người có nguy cơ cao hơn như đã từng bị ung thư trước đó, có gene khiếm khuyết đã được biết, v.v… có thể sẽ cần tầm soát kỹ hơn theo hướng dẫn của bác sĩ chuyên môn.

Chẳng hạn, với ung thư vú hay ung thư cổ tử cung ở phụ nữ, các bác sĩ cho rằng nếu phát hiện bệnh ở giai đoạn đầu thì có thể chữa khỏi hoàn toàn, và nếu ở giai đoạn 1-2 thì tỷ lệ chữa khỏi sẽ đạt khoảng 50-80%.

Tương tự, với các loại ung thư ở cả nam giới và nữ giới như ung thư đại trực tràng, ung thư thực quản, ung thư dạ dày nếu phát hiện sớm thì tỷ lệ chữa khỏi khoảng 80%-90%. Nếu các loại ung thư phát triển đến giai đoạn 2 hoặc sau nữa thì tỷ lệ chữa khỏi giảm nhanh, đến giai đoạn cuối chỉ dưới 15%.

Các số liệu thống kê cũng chỉ ra một xu hướng đáng báo động là "độ tuổi mắc nhiều loại ung thư đang ngày càng trẻ hóa". Việc chuẩn bị kiến thức và tầm soát ung thư theo độ tuổi có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống hiện đại.

Dưới đây là bảng tóm tắt một số thông tin cần thiết về việc tầm soát ung thư theo độ tuổi, giới tính và các yếu tố nguy cơ khác của 5 loại ung thư phổ biến.

 

Nguồn: Sưu tầm

Tắm vào buổi sáng hay buổi tối tốt hơn

Có nhiều người quan niệm, tắm buổi sáng sẽ giúp cơ thể sảng khoái và nạp năng lượng cho cơ thể. Ngược lại, một số người khác cho rằng, tắm buổi tối giúp thư giãn, giảm stress sau một ngày làm việc vất vả. Vậy tắm vào thời điểm nào thì tốt hơn. Các nhà khoa học đã phân tích và chỉ ra những lợi ích của mỗi thời điểm tắm.


Bác sĩ Damian Jacob Sendler, chuyên gia về tâm thần học tại New York, Mỹ cho biết: "Tắm vào buổi sáng sẽ giúp khởi động và làm mới lại cơ thể. Từ đó, bạn sẽ thấy tươi tắn và sẵn sàng cho một ngày mới." Tắm vào buổi sáng cũng là biện pháp hiệu quả để đánh bay cơn buồn ngủ, giúp bạn tỉnh táo hơn. Các nghiên cứu lâm sàng cho thấy, tắm rửa ở đầu ngày giúp đầu óc bạn trở nên sảng khoái hơn. Đồng thời khiến bạn tràn đầy năng lượng trước khi bắt đầu ngày mới. Thói quen tắm sáng còn làm giảm tình trạng sưng cũng như viêm nhiễm của làn da. Hơn nữa, việc tắm sáng còn hỗ trợ sự lưu thông của máu và thúc đẩy hoạt động của hormone.

Tắm vào buổi sáng cũng rất tốt cho làn da bởi khi vừa thức dậy, làn da luôn ở trong trạng thái mẫn cảm.Vệ sinh sạch sẽ và sử dụng các sản phẩm dưỡng da, chống nắng sẽ giúp bảo vệ da khỏi sự tấn công của các tia UV và bụi bẩn từ môi trường. Thêm vào đó, thói quen làm sạch cơ thể vào buổi sớm còn kích thích các tế bào của da từ sâu bên trong. Bên cạnh đó, nếu bạn có thói quen tập thể dục buổi sáng thì tắm sau khi tập sẽ giúp làm sạch mồ hôi cơ thể.

Lợi ích khi tắm vào buổi tối

Nghiên cứu mới đây từ Thụy Điển đã kết luận rằng tắm buổi tối có lợi cho sức khỏe làn da, vì nó giúp loại bỏ sự tích tụ bụi bẩn, vi trùng và ô nhiễm tích tụ trên da trong suốt cả ngày. Nếu bạn sử dụng các sản phẩm như gel xịt tóc, mỹ phẩm, việc tắm trước khi đi ngủ là thiết yếu, để tránh các vi khuẩn gây bệnh sinh sôi trên da. Tắm buổi tối cũng sẽ giúp những vi khuẩn và chất có hại này không xuất hiện trên giường, nơi bạn ngủ trong nhiều tiếng sau. Ngoài ra, khi ở bên ngoài, cơ thể cũng bị nhiễm bẩn từ khói bụi và vi khuẩn, khiến việc bỏ qua công đoạn tắm trước khi đi ngủ có thể gây tổn hại tới sức khỏe của bạn.

Bên cạnh đó, việc tắm nhẹ nhàng, thư giãn mỗi buổi tối sẽ giúp bạn có giấc ngủ ngon hơn, đặc biệt là đối với những người khó ngủ. Khi ngâm mình trong làn nước ấm áp, nhiệt độ cơ thể sẽ tăng một chút, giúp giải tỏa căng thẳng, giảm đau nhức cơ, khiến giấc ngủ trở nên ngon lành. Anna Guanche, một bác sĩ da liễu tại Viện da Bella ở California, Mỹ chia sẻ: "Những người hay bị dị ứng hoặc hen suyễn nên dành khoảng 30 phút để tắm trước khi ngủ. Điều này sẽ cải thiện tình trạng sức khỏe".

Các nhà khoa học kết luận, tần suất cũng như thời điểm tắm nào tốt hơn còn phụ thuộc vào thói quen sinh hoạt của mỗi người. Mỗi thời điểm tắm đều có lợi ích riêng, nhưng tốt hơn cả, bạn vẫn nên làm sạch cơ thể hai lần mỗi ngày vào cả sáng lẫn tối để bảo vệ toàn diện cho làn da, thể chất lẫn tinh thần.

Nguồn: Sưu tầm

 

TIN HOẠT ĐỘNG

Đảng bộ cơ quan Sở KH&CN tổ chức Hội nghị học tập, quán triệt Nghị quyết của Đảng

 Sáng 11/9, Đảng bộ cơ quan Sở KH&CN tổ chức Hội nghị học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ Khối các cơ quan tỉnh lần thứ IX, nhiệm kỳ 2020 – 2025 tới toàn thể cán bộ, đảng viên trong toàn Đảng bộ.

Đồng chí Hoàng Bá Nam – Tỉnh Uỷ viên, Bí thư Đảng bộ đã trực tiếp quán triệt 03 chuyên đề Nghị quyết, Chỉ thị quan trọng của Đảng: Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ Khối các cơ quan tỉnh lần thứ IX, nhiệm kỳ 2020 – 2025; Nghị quyết số 23-NQ/TU ngày 05/08/2020 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh thực hiện NQ số 51-NQ/TW của Bộ Chính trị; Chỉ thị số 42-CT/TU ngày 04/8/2020 của Ban Thường vụ Tỉnh Uỷ về Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực, hiệu quả Quản lý nhà nước trong đấu tranh ngăn chặn, xử lý, gỡ bỏ, triệt phá thông tin giả.

Đây là đợt sinh hoạt chính trị có ý nghĩa quan trọng nhằm tạo sự chuyển biến về nhận thức, thống nhất ý chí, hành động trong Đảng; cổ vũ, động viên cán bộ, đảng viên trong Đảng bộ phát huy cao độ tinh thần yêu nước, ý chí tự lực tự cường, thực hiện thắng lợi các Nghị quyết của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ Khối các cơ quan tỉnh lần thứ IX, nhiệm kỳ 2020 – 2025.

Đợt sinh hoạt chính trị này còn góp phần quan trọng tăng cường xây dựng Đảng về chính trị tư tưởng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong Đảng; thuyết phục, chấn chỉnh, uốn nắn những nhận thức lệch lạc; đấu tranh có hiệu quả với các quan điểm sai trái, thù địch; đấu tranh ngăn chặn, xử lý, gỡ bỏ, triệt phá thông tin giả; tích cực nêu cao tinh thần bảo vệ an ninh quốc gia.

Hương Anh

 

Hướng dẫn về cấp quyền sử dụng nhãn hiệu và đăng ký nhãn hiệu các sản phẩm tham gia Chương trình OCOP của Tỉnh

Theo Kế hoạch, từ ngày 16/9/2020 – 15/10/2020, cán bộ Sở KH&CN sẽ đến tất cả các địa phương trong tỉnh để trực tiếp hướng dẫn cấp quyền sử dụng nhãn hiệu cho các sản phẩm xây dựng nhãn hiệu có gắn địa danh; tư vấn hướng dẫn đăng ký nhãn hiệu, ghi nhãn hàng hoá, đăng ký và sử dụng mã số, mã vạch, truy suất nguồn gốc các sản phẩm tham gia Chương trình OCOP của tỉnh theo quy định của pháp luật.

Từ ngày 16/09 đến nay, cán bộ Sở KH&CN đã hướng dẫn được 4 địa phương trong tỉnh, gồm: thị xã Quảng Yên; thị xã Đông Triều, thành phố Uông Bí và thành phố Hạ Long. Các địa phương được hướng dẫn đã bố trí địa điểm và mời các tổ chức, cá nhân có nhu cầu được hướng dẫn, tư vấn đến dự đông đủ. Rất nhiều ý kiến của các doanh nghiệp, Hợp tác xã nêu ra đã được cán bộ Sở KH&CN giải đáp, hướng dẫn tận tình đảm bảo theo quy định của pháp luật.

Đây là việc làm thiết thực, ý nghĩa được Sở KH&CN triển khai thực hiện thường xuyên theo định kỳ hàng năm. Qua đó giúp các địa phương trong tỉnh thực hiện duy trì, phát triển các sản phẩm đã xây dựng thương hiệu phát huy quyền sử dụng thương hiệu; các đơn vị có sản phẩm tham gia Chương trình OCOP của Tỉnh hoàn thiện các nội dung về đăng ký bảo hộ nhãn hiệu, ghi nhãn hàng hoá, chất lượng sản phẩm trước khi đưa ra thị trường, đảm bảo các quy định của pháp luật.

Hương Anh

 

Trung tâm Ứng dụng và Thống kê KH&CN


Tìm kiếm theo chuyên mục - nội dung - ngày tháng

Tin Nóng
Tin tiêu điểm

Lịch công tác trống

Website liên kết
Thống kê truy cập
Hôm nay: 638
Đã truy cập: 978560