Bản tin khoa học và đời sống số tháng 6 năm 2020

25/06/2020 09:12

CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH

Đẩy mạnh ứng dụng KHCN trong sản xuất

           Từ thực tế cho thấy, việc ứng dụng khoa học công nghệ (KHCN) vào sản xuất đã và đang mang lại hiệu quả tích cực. Do đó, các đơn vị trên địa bàn tỉnh đang tích cực ứng dụng tiến bộ KHCN nhằm đẩy mạnh sản xuất, nâng cao năng suất lao động, giảm thiểu tác động tới môi trường.

 

Hệ thống nghiền phối liệu siêu mịn sản xuất gạch Cotto của Công ty CP Gốm Đất Việt.

Những năm qua, Công ty CP Gốm Đất Việt là doanh nghiệp đi đầu ứng dụng KHCN trong sản xuất. Tháng 4/2020, Công ty đã lắp đặt hệ thống nghiền phối liệu siêu mịn sản xuất gạch Cotto. Đây là dây chuyền đầu tiên trong ngành đất sét nung tại Việt Nam. Công nghệ này cho ra đời dòng sản phẩm gạch mới có chất lượng cao với bề mặt mịn, màu tươi, chịu độ va đập cao, độ mài mòn vượt trội so với tất cả những sản phẩm sản xuất cùng chất liệu. Mỗi khâu trong dây chuyền sản xuất các sản phẩm của Công ty đều được ứng dụng công nghệ mang tính đột phá như: Hệ thống dán vỏ hộp tự động, robot bốc xếp sản phẩm, dập cắt pavia tự động... qua đó giảm số lượng công nhân cho một quy trình, tạo mặt bằng xưởng sản xuất thoáng gọn, tiết kiệm chi phí.

Công ty cũng tích cực khuyến khích cán bộ, nhân viên, người lao động tìm tòi, nghiên cứu, phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật trong sản xuất. Qua đó, đã có hàng trăm sáng kiến được ứng dụng đem lại hiệu quả hàng chục tỷ đồng như: Tận dụng, thu hồi nhiệt từ hệ thống khí thải, khí thừa để sấy sản phẩm; sản xuất men màu nung một lần trên lò nung tuynel...Bằng việc ứng dụng KHCN, đến nay năng suất của Công ty đạt 8 triệu m2/năm, gấp 2 lần so với công suất thiết kế, doanh thu bình quân đạt 311 tỷ đồng/năm. Đây là minh chứng rõ ràng nhất cho thành công của đầu tư ứng dụng KHCN của đơn vị.

Ông Nguyễn Quang Mâu, Chủ tịch HĐQT Công ty, cho biết: Thời gian tới, Công ty sẽ đầu tư công nghệ mới, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất. Qua đó, không chỉ thực hiện mục tiêu của đơn vị là đưa sản phẩm Gốm Đất Việt là số 1 trong lĩnh vực đất sét nung tại Việt Nam, mà còn góp phần xây dựng nhà máy xanh sạch đẹp, giảm thiểu tối đa tác động đến môi trường. Không chỉ ở lĩnh vực công nghiệp, nhiều dự án KHCN đã được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, gia tăng giá trị sản phẩm, giảm thiểu sự phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên.

Trong cuộc cách mạng 4.0 hiện nay, việc ứng dụng tiến bộ của khoa học vào sản xuất không chỉ giúp chính các cơ sở sản xuất tăng sản lượng, giảm thiểu rủi ro, nâng cao doanh thu, mà còn cải thiện điều kiện làm việc, năng suất và thu nhập của người lao động. Đây cũng là xu thế tất yếu để khẳng định giá trị, thương hiệu, chất lượng trên thị trường.

Theo Baoquangninh.com.vn

3 đột phá chiến lược

Trong nhiệm kỳ qua, với sự chủ động, quyết tâm, linh hoạt trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành cùng cách làm sáng tạo, hiệu quả, TP Uông Bí đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, trong đó có việc thực hiện “3 đột phá chiến lược”. “3 đột phá chiến lược” bao gồm xây dựng kết cấu hạ tầng, cải cách hành chính và phát triển đội ngũ nhân lực là nhiệm vụ xuyên suốt mà Uông Bí đã thực hiện trong 5 năm qua.

 

Không gian đô thị của thành phố ngày càng được mở rộng với nhiều công trình mới.

 

          Đến nay Uông Bí đã đưa vào sử dụng 74 tuyến đường với tổng chiều dài 27,5km và hàng chục công trình hạ tầng thương mại và du lịch, giá trị đầu tư hàng ngàn tỷ đồng. Uông Bí sớm đưa vào hoạt động hiệu quả Trung tâm HCC thành phố và bộ phận một cửa xã phường. Trong 5 năm qua, Uông Bí luôn đứng thứ nhất tỉnh về ứng dụng công nghệ thông tin, chính quyền điện tử; đứng thứ 2 về cải cách hành chính…

Nguồn nhân lực được phát triển đồng bộ cả về số lượng, chất lượng. Tỷ lệ lao động qua đào tạo của thành phố tăng bình quân 4,4%/năm, năm 2020 tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 90%.

Thu Trang ( Báo Quảng Ninh)

 

NÔNG NGHIỆP

TP Hạ Long: Ứng dụng công nghệ sinh học vào sản xuất nông nghiệp

Việc ứng dụng công nghệ sinh học (CNSH) trong các lĩnh vực, đặc biệt là nông nghiệp được xem là xu hướng chung của cả nước và nhiều quốc gia trên thế giới. Đây được xem là bước đột phá để xây dựng một nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, công nghệ cao. Tại TP Hạ Long, giải pháp này cũng được chú trọng trong những năm vừa qua nhằm thúc đẩy phát triển nông nghiệp một cách bền vững.

Thời gian qua, TP Hạ Long đã tích cực phối hợp với các trung tâm, viện nghiên cứu về cây trồng, vật nuôi tập trung nghiên cứu, áp dụng tiến bộ khoa học vào lĩnh vực nông nghiệp. Trong đó, tập trung đẩy mạnh ứng dụng CNSH trên nhiều lĩnh vực: Từ giống cây trồng, gia súc, gia cầm, nuôi trồng thủy sản, công nghệ sau thu hoạch, chế biến và nâng cao chất lượng sản phẩm cũng như bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Từ đó, thành phố đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận trong nông nghiệp, nhất là chọn tạo được giống cây trồng như hoa, cây ăn trái, dược liệu, vật nuôi phù hợp với điều kiện phát triển.

Trong nuôi trồng thủy sản có thể kể đến mô hình nuôi thâm canh tôm thẻ chân trắng cho các hộ dân tại phường Đại Yên. Tham gia mô hình, 2 hộ nông dân được hỗ trợ 300.000 tôm giống/3 ao nuôi với tổng diện tích 9.000m2. Quá trình nuôi đã áp dụng một số công nghệ mới về nuôi tôm theo giai đoạn, đồng thời sử dụng các chế phẩm sinh học vào ao nuôi và thức ăn cho tôm. Sau hơn 4 tháng triển khai dự án, tôm thẻ chân trắng sinh trưởng và phát triển tốt. Các hộ nuôi thu lợi nhuận trên 200 triệu đồng/ao. Dự án đã mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân và hiện đang được các hộ tiếp tục triển khai.

 

Xưởng sơ, chế biến dược liệu của HTX Nông dược xanh Tinh Hoa.

Hay như dự án ứng dụng công nghệ để phát triển vùng trồng hoa chất lượng cao tại xã Sơn Dương, Lê Lợi, phường Hoành Bồ với kinh phí trên 19,8 tỷ đồng, trong đó ngân sách Nhà nước hỗ trợ 8,5 tỷ đồng. Với dự án này, người nông dân được phổ biến, hướng dẫn áp dụng những công nghệ mới trong sản xuất hoa, như: Kỹ thuật trồng trong nhà lưới, chăm sóc sinh trưởng bằng hệ thống tưới tự động, sử dụng thuốc kích thích sinh trưởng, điều khiển nở hoa bằng hệ thống điều khiển nhiệt độ tự động, thu hoạch, sơ chế và bảo quản trong kho lạnh... Từ đó, từng bước phát triển vùng sản xuất hoa chất lượng cao chuyên canh, xây dựng thương hiệu sản phẩm hoa của địa phương.

Trong phát triển các sản phẩm có thế mạnh, thành phố cũng chú trọng đầu tư ứng dụng mạnh CNSH vào quá trình chế biến và sản xuất sản phẩm OCOP của địa phương. Tiêu biểu như đầu tư dây chuyền tách hạ thủy phần để nâng cao chất lượng sản phẩm mật ong đảm bảo tiêu chuẩn xuất khẩu; dây chuyền nấu ủ cơm, chưng cất, lọc khử độc tố trong sản xuất rượu Bâu Bằng Cả; xây dựng xưởng sơ, chế biến dược liệu của HTX Nông dược xanh Tinh Hoa…

Bên cạnh đó, việc đưa CNSH vào quá trình xử lý môi trường trong chăn nuôi cũng được nhiều hộ dân áp dụng. Hiện nay, nhiều cơ sở chăn nuôi theo hình thức trang trại, gia trại trên địa bàn thành phố đã và đang dùng các loại men vi sinh để trộn thức ăn cho gia súc, gia cầm và xử lý chất thải. Theo tính toán của cơ quan chức năng, phương pháp này đã giúp các hộ chăn nuôi giảm được từ 30 - 40% chi phí đầu tư, đảm bảo an toàn cho đàn gia súc, gia cầm và chất lượng sản phẩm, được người tiêu dùng ưa chuộng. Cùng với đó góp phần giảm ô nhiễm môi trường, bảo vệ sức khỏe người chăn nuôi và cộng đồng. Ngoài ra, các hộ cũng đang thực hiện ứng dụng công nghệ khí sinh học (biogas) trong quy trình nuôi nhằm tận dụng chất thải để làm khí đốt, đồng thời giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường. Cho đến nay, trên địa bàn thành phố đã có trên 150 công trình khí sinh học được các hộ chăn nuôi áp dụng.

Có thể thấy, việc ứng dụng CNSH trong sản xuất nông nghiệp góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng giá trị, bảo vệ môi trường; đồng thời từng bước nâng cao tính ổn định, giảm dần tính phụ thuộc vào thời tiết trong sản xuất nông nghiệp. Trước những ưu điểm mà CNSH mang lại, trong thời gian tới, TP Hạ Long sẽ tiếp tục ứng dụng CNSH gắn với phát triển bền vững ngành nông nghiệp.

Ông Nguyễn Ngọc Sơn, Phó Chủ tịch UBND TP Hạ Long, cho biết: Thành phố sẽ tiếp tục triển khai ứng dụng rộng rãi, có hiệu quả CNSH vào các lĩnh vực nông, lâm nghiệp, thủy sản để nâng cao giá trị, tăng khả năng cạnh tranh cho sản phẩm; chú trọng đến hoạt động ứng dụng, chuyển giao tiến bộ CNSH vào bảo tồn, phát triển các nguồn gen quý hiếm cũng như tạo ra những giống cây trồng chất lượng, hiệu quả kinh tế cao.

Ngoài ra, thành phố cũng sẽ tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, khuyến khích các hộ dân, nhất là các HTX, cơ sở sản xuất, chăn nuôi, trồng trọt áp dụng CNSH vào hoạt động nuôi trồng; tăng cường liên kết, hợp tác với các cơ quan, viện nghiên cứu về CNSH để chuyển giao các công nghệ trong sản xuất nông nghiệp gắn với bảo vệ môi trường. Đồng thời, bố trí nguồn ngân sách và đa dạng hóa nguồn vốn để thực hiện hiệu quả nội dung này.

Theo Baoquangninh.com.vn

Giải pháp tiếp sức phát triển OCOP sau dịch ở Ba Chẽ

Thời gian qua, trước sự ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, huyện Ba Chẽ đã có nhiều cách làm, giải pháp để gỡ khó, thúc đẩy sự phát triển, xúc tiến thương mại đối với sản phẩm OCOP.

Trong thời gian dịch bệnh Covid-19 bùng phát, hầu hết các lĩnh vực kinh tế - xã hội đều bị ảnh hưởng. Sản xuất nông nghiệp, sản phẩm OCOP cũng chịu chung tác động, bởi giá thành và đơn hàng giảm, lượng hàng tồn kho lớn vì không xuất bán được, thị trường tiêu thụ giảm.

 

Huyện Ba Chẽ tham gia xúc tiến thương mại, giới thiệu, quảng bá sản phẩm trà hoa vàng tại Hội chợ OCOP - Hè 2020.

Ngoài những sản phẩm thế mạnh, một số sản phẩm của Ba Chẽ vẫn còn hạn chế ở khả năng tiếp cận thị trường; việc phát triển sản phẩm bị hạn chế do đặc thù sản phẩm địa phương chưa phong phú, đa dạng; các sản phẩm tiềm năng như khoai sọ, rượu tài lệch, rượu men lá, bánh chưng, bánh lá ngải... chưa được quan tâm.

Vì thế, việc hồi phục phát triển đối với các sản phẩm OCOP luôn được huyện Ba Chẽ quan tâm. Bà Đinh Thị Vỹ, Phó Chủ tịch UBND huyện chia sẻ: Hỗ trợ, tiếp sức để phát triển sản xuất nói chung và các sản phẩm OCOP nói riêng là mối quan tâm lớn của huyện. Trong đó, việc củng cố, hồi phục, nâng cao chất lượng sản phẩm là những giải pháp được chú trọng sau dịch.

Một trong những nhiệm vụ được đặt ra trong kế hoạch phát triển sản phẩm OCOP của Ba Chẽ là nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp. Về cơ cấu, Ba Chẽ tập trung tư vấn, hỗ trợ thành lập các HTX, doanh nghiệp vừa và nhỏ từ các nhóm, hộ gia đình tham gia OCOP; nâng cấp, tái cơ cấu các tổ chức kinh tế OCOP bằng cách hoàn thiện hệ thống tổ chức sản xuất, kinh doanh theo hướng gia tăng thành viên, cổ đông, chuyển đổi loại hình hoạt động thành HTX hoặc công ty cổ phần.

Huyện cũng hỗ trợ các tổ chức kinh tế thực hiện những thủ tục đăng ký sản phẩm, lập kế hoạch kinh doanh, xúc tiến thương mại, bán hàng, phát triển ý tưởng sản phẩm mới; chú trọng hỗ trợ nâng cấp, hoàn thiện cơ sở vật chất, mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng, thiết kế nhãn hiệu bao bì sản phẩm đối với 10 sản phẩm hiện có, như: Rượu ba kích, ba kích khô, măng mai, trà hoa vàng, mật ong, thanh long...

Để tăng cường sức “đề kháng” cho doanh nghiệp, huyện đẩy mạnh tập huấn, đào tạo nguồn nhân lực cho đội ngũ cán bộ điều hành; hướng dẫn đơn vị phương án nâng cấp nhà xưởng, vệ sinh môi trường, đào tạo lại quy trình sản xuất an toàn, đồng thời, hỗ trợ kết nối với các nhà tư vấn, thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm...

Việc nâng cao chất lượng sản phẩm theo hướng chuyên nghiệp cũng được huyện quan tâm. Theo đó, chú trọng các sản phẩm sản xuất kinh doanh theo chuỗi giá trị, chủ động nguồn nguyên liệu, đáp ứng về chất lượng với thị trường; khảo sát lập kế hoạch và triển khai bài bản, nhằm mở rộng thị trường trên toàn quốc và xuất khẩu.

Cụ thể, huyện đã lựa chọn sản phẩm 5 sao cấp tỉnh và sản phẩm có tiềm năng phát triển để xây dựng theo hướng chuyên nghiệp bằng cách nâng cấp sản phẩm, nâng cấp chuỗi giá trị (nguồn nguyên liệu, liên kết chuỗi, áp dụng KHCN...), đáp ứng tiêu chí sản phẩm quốc gia; phối hợp tổ chức, tham gia xúc tiến thương mại rộng khắp, nhằm trao đổi hàng hóa, chia sẻ kinh nghiệm.

Những tháng cuối năm, ngoài việc hỗ trợ phục hồi cho doanh nghiệp, sản phẩm OCOP, huyện tập trung nâng cao, kiểm soát chất lượng sản phẩm, kết nối xúc tiến thương mại. Đối với nhóm sản phẩm đạt 3-5 sao, huyện hướng dẫn đôn đốc các đơn vị, doanh nghiệp thực hiện tự công bố tiêu chuẩn với từng sản phẩm, dán tem điện tử thông minh quản lý, truy suất nguồn gốc; chú trọng kiểm tra, giám sát sản xuất, kinh doanh sản phẩm, đặc biệt là đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, xử lý kịp thời, nâng cao uy tín của nhãn hiệu OCOP. Quan tâm công tác xúc tiến thương mại, liên kết tiêu thụ sản phẩm, tạo điều kiện để các đơn vị hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm, đào tạo nâng cao năng lực quản trị, điều hành; tổ chức thi đánh giá cấp huyện với 2 sản phẩm rượu ba kích, nấm lim xanh để đề nghị tỉnh cấp lại sao. Với sản phẩm mới, huyện tập trung hướng dẫn hoàn thiện hồ sơ, đề xuất ý tưởng sản phẩm, trình xem xét thẩm định công nhận; tổ chức đánh giá, phân hạng cấp huyện làm cơ sở tham gia đánh giá phân hạng cấp tỉnh; rà soát, đánh giá phát triển thêm sản phẩm có tiềm năng như sản phẩm dạng bột từ lá và hoa trà hoa vàng.

Song song với đó, Ba Chẽ tập trung nâng cấp sản phẩm cấp quốc gia với sản phẩm trà hoa vàng, với các phần việc chính như củng cố vùng nguyên liệu, phát triển vùng trồng liên kết với người dân qua các nhóm hoặc tổ hợp trồng trà hoa vàng theo tiêu chuẩn, sự kiểm soát chặt chẽ; nâng cấp năng lực sản xuất; nâng cấp sản phẩm trà hoa vàng qua chọn bao bì thủy tinh phù hợp, thiết kế bao bì mới, kiểm nghiệm định kỳ, nhằm quảng bá tiếp thị tốt hơn...

Hy vọng, với những cách làm, giải pháp cụ thể, việc phát triển sản phẩm OCOP sau dịch ở Ba Chẽ sẽ sớm được thúc đẩy và có những kết quả khả quan.

Hà Phong ( Báo Quảng Ninh)

Chuyển đổi đất lúa kém hiệu quả sang cây trồng khác

Trước những diện tích đất trồng lúa kém hiệu quả, bị bỏ hoang hóa tại các địa phương, từ năm 2015 đến nay, UBND tỉnh đã ban hành 2 quyết định phê duyệt đề án chuyển đổi diện tích đất trồng lúa kém hiệu quả sang trồng các loại cây trồng khác. Nhờ đó, đã mang lại năng suất, chất lượng, thu nhập cao hơn cho người nông dân, góp phần tích cực trong xóa đói, giảm nghèo.

 

Chuyển đổi từ diện tích trồng lúa kém hiệu quả sang trồng mía tím tại xã Quảng Chính (Hải Hà).

Cụ thể là Quyết định số 1374/QĐ-UBND ngày 22/5/2015 về việc phê duyệt Đề án chuyển đổi diện tích lúa kém hiệu quả sang trồng ngô cao sản tại các huyện miền núi giai đoạn 2015-2017; Quyết định số 1721/QĐ-UBND ngày 18/5/2018 về việc ban hành Kế hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất trồng lúa đến năm 2020). Bám sát những quyết định này, các địa phương đã thực hiện rà soát, thống kê, cập nhật và báo cáo UBND tỉnh những diện tích đất trồng lúa kém hiệu quả để đề xuất chuyển đổi sang trồng các loại cây trồng khác.

Theo thống kê, trong giai đoạn 2017-2020, trên địa bàn toàn tỉnh đã thực hiện chuyển đổi trên 3.000ha đất trồng lúa kém hiệu quả sang trồng cây hàng năm; chuyển đổi 96ha trồng lúa kém hiệu quả sang trồng cây lâu năm. Tất cả những diện tích chuyển đổi này đều được người dân báo cáo chính quyền địa phương, thực hiện làm các thủ tục chuyển đổi theo đúng quy định của pháp luật. Riêng trong 2 năm gần đây, có trên 2.600ha đất trồng lúa của người dân được chuyển đổi sang trồng các loại cây khác, như ngô, dong riềng, hoa, rau màu các loại. Trong đó, có một số địa phương có diện tích chuyển đổi lớn, như Bình Liêu, Đầm Hà, Hải Hà, Tiên Yên. Còn tại các huyện Tiên Yên, Đầm Hà, Hải Hà đã thực hiện chuyển đổi trên 500ha trồng lúa kém hiệu quả sang trồng ngô cao sản, ngô sinh khối và các loại rau màu theo thời vụ. Kết quả chuyển đổi này đã thu được lợi nhuận cao hơn so với trồng lúa trên 10 triệu đồng/ha/năm. Tại TP Uông Bí, địa phương đã thực hiện chuyển đổi diện tích đất trồng lúa kém hiệu quả sang trồng cây vải chín sớm cho thu nhập bình quân 270 triệu đồng/ha/năm.

Từ những kết quả đạt được và xuất phát từ nhu cầu thực tế tại các địa phương, trong giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030, sẽ có trên 3.200ha đất trồng lúa kém hiệu quả có nhu cầu chuyển đổi sang trồng các loại cây trồng khác. Trong đó, có gần 1.200ha chuyển sang trồng cây hàng năm; trên 1.870ha chuyển sang trồng cây lâu năm và 130ha chuyển sang nuôi trồng thủy sản.

Theo Baoquangninh.gov.vn

NGƯ NGHIỆP

Hiện đại hóa ngành khai thác thủy sản

Những năm qua, ngành khai thác thủy sản (KTTS) luôn nhận được sự quan tâm, đầu tư lớn của trung ương và địa phương. Đặc biệt, phát triển KHCN là định hướng trọng tâm để phát triển ngành KTTS bền vững, lâu dài.

 

Lãnh đạo Sở NN&PTNT và các chuyên gia lắp đặt thử nghiệm đèn led.

Năm 2019, Sở NN&PTNT phê duyệt danh sách 22 tàu cá có chiều dài 24m trở lên lắp thiết bị giám sát hành trình kết nối vệ tinh MOVIMAR. Qua đó, đáp ứng quy định của Luật Thủy sản cũng như khuyến nghị của Cộng đồng châu Âu (EC) nhằm tháo gỡ thẻ vàng đối với KTTS của Việt Nam, cảnh báo tàu vi phạm vùng biển các nước, hỗ trợ tàu khi gặp sự cố. Các tàu KTTS còn được cơ giới hóa; lắp đặt máy dò ngang, dọc phát hiện nguồn thủy sản; định vị tàu thuyền; sử dụng phao trong khoang tàu để bảo quản thủy sản đánh bắt…

Sở cũng giao Trung tâm Khuyến nông tỉnh triển khai nhiều giải pháp công nghệ trong KTTS đến ngư dân. Trong đó, có mô hình thử nghiệm ứng dụng công nghệ đèn led cho tàu khai thác hải sản xa bờ từ năm 2018-2019, bằng nguồn kinh phí khuyến nông, doanh nghiệp và đối ứng của chủ tàu. Đến nay, đơn vị đã lắp đặt công nghệ đèn led cho 4 tàu chài chụp và pha xúc, tổng số gần 580 bóng, trị giá trên 2,1 tỷ đồng. Qua quá trình thử nghiệm, đèn led có những ưu điểm: Thiết kế nhỏ, gọn; hạn chế rung, lắc khi tàu vận hành khai thác và di chuyển, vận hành thuận lợi và an toàn hơn so với đèn siu hiện nay. Đặc biệt, lượng dầu dùng máy phát điện giảm từ 40-60%, tiết kiệm nguồn chi phí lớn cho ngư dân.

Từ những đầu tư này đã tạo điều kiện cho ngư dân chuyển dần từ khai thác manh mún, lạc hậu sang khai thác hiện đại, có trách nhiệm, bền vững. Những phương tiện đánh bắt nhỏ, thủ công dần được thay thế bằng các phương tiện đánh bắt có công suất lớn, trang bị hiện đại; chuyển đổi từ quy mô nhỏ, hoạt động chủ yếu ở vùng biển ven bờ, sang tăng số lượng tàu cá có công suất lớn với trang thiết bị hiện đại, áp dụng KHCN, phương thức khai thác hợp lý ở vùng lộng, vùng khơi. Nhờ vậy, sản lượng khai thác thủy sản của tỉnh tăng liên tục qua các năm. Theo Cục Thống kê Quảng Ninh, sản lượng khai thác tăng từ 53.343 tấn (năm 2013) lên 67.363 tấn (năm 2019).

Tuy vậy, số tàu được đầu tư KHCN chưa nhiều, chủ yếu tập trung ở tàu vươn khơi, đánh bắt xa bờ. Tổn thất sau thu hoạch còn lớn, làm giảm giá trị sản phẩm khai thác. Đa số lao động phục vụ khai thác hải sản có trình độ thấp, chưa được đào tạo, trang bị các kiến thức về nghề khai thác và bảo vệ nguồn lợi hải sản, dẫn đến khó chuyển giao KHCN.

Để khắc phục những hạn chế kể trên, cũng như tăng sản lượng khai thác, đảm bảo KTTS bền vững, Sở NN&PTNT đã xây dựng Đề án phát triển ngành thủy sản, trong đó ứng dụng KHCN là một trong những nhiệm vụ trọng tâm.

Lãnh đạo Sở NN&PTNT, thời gian tới, Sở sẽ triển khai ứng dụng công nghệ khai thác tiên tiến của các nước trong khu vực và trên thế giới, cải tiến các mẫu tàu, mẫu lưới khai thác hiệu quả của các nước có nghề cá phát triển, phù hợp với điều kiện trong tỉnh. Trong đó, tập trung vào một số công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, như: Du nhập công nghệ dự báo khai thác của Mỹ, Na Uy và một số nước có đặc điểm ngư trường tương tự với nước ta như Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia. Từng bước thay thế vỏ tàu bằng các vật liệu mới, mà vật liệu Composite, kim loại dự báo sẽ được hướng đến trong giai đoạn tới. Dự kiến đến năm 2030 có khoảng 220 tàu vật liệu vỏ thép, tàu vỏ composite, chiếm 37% tổng số tàu cá vùng khơi.

Bên cạnh đó, cơ quan chuyên môn của tỉnh tăng cường quản lý, giám sát tàu cá qua hệ thống thiết bị giám sát hành trình bằng định vị vệ tinh, thiết bị nhận dạng đối với tàu cá. Khuyến khích các tàu cá hoạt động xa bờ lắp đặt các thiết bị điện tử hiện đại, như: Máy dò cá ngang, radar, máy thông tin liên lạc đa chức năng, máy đo dòng chảy, điện thoại vệ tinh, máy nhận dạng tự động AIS đảm bảo an toàn cho người và tàu trên biển... Dự kiến, đến năm 2025 toàn tỉnh có khoảng 30-35 tàu chụp mực (chiếm 18-21% tàu chụp) được trang bị máy dò ngang; đến 2030 có khoảng 50-60 tàu (chiếm 25-30% tàu chụp) được trang bị.

Theo baoquangninh.com.vn

Móng Cái: Bảo vệ, phát triển nguồn lợi thủy sản bền vững

Thời gian qua, bên cạnh đẩy mạnh tuyên truyền cho ngư dân về công tác bảo vệ môi trường, hệ sinh thái biển, nguồn lợi thủy sản, các lực lượng chức năng trên địa bàn TP Móng Cái tăng cường tuần tra kiểm soát, xử lý nghiêm những vi phạm trong khai thác thủy sản.

Móng Cái có bờ biển dài trên 50km, hiện có nhiều phương tiện công suất lớn từ địa phương khác đến khai thác hải sản mang tính hủy diệt, dẫn đến khó khăn cho lực lượng chức năng khi kiểm tra, kiểm soát, xử lý vi phạm. Thành phố đã ban hành Chương trình hành động và Kế hoạch thực hiện Chỉ thị số 18-CT/TU ngày 1/9/2017 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy "Về tăng cường công tác quản lý khai thác, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh", huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc, tổ chức cho ngư dân ký cam kết không sử dụng xung điện, chất nổ, nghề cấm trong khai thác thủy sản.

 

 

Đồn Biên phòng Trà Cổ bắt giữ vụ vận chuyển 20 tấn ốc điếu trái phép, tháng 4/2020.

Thành phố chỉ đạo thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các giải pháp quản lý khai thác, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản trên địa bàn, ngăn chặn sử dụng chất nổ, xung điện, chất độc hại và nghề thai thác thủy sản bị cấm, nhất là sử dụng lồng bát quái, khai thác cát trái phép. Thành phố thành lập các đoàn phối hợp với bộ đội biên phòng, công an, các địa phương tổ chức thanh tra, kiểm tra các cá nhân, tổ chức hoạt động thủy sản trên biển.

Là đơn vị đứng chân trên địa bàn, Đồn Biên phòng Trà Cổ làm nhiệm vụ quản lý, bảo vệ 12,4km đường biên giới trên đất liền và một phần biên giới trên sông tiếp giáp với Trung Quốc. Thời gian qua, trước tình hình khai thác hải sản theo hình thức tận diệt ngày càng diễn ra phức tạp, Đồn đã đẩy mạnh tuyên truyền cho ngư dân về mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của việc cấm đánh bắt hải sản theo hình thức tận diệt nhằm bảo vệ tài nguyên biển; đồng thời tăng cường tuần tra, kiểm soát, bắt giữ, xử lý vi phạm.

Từ đầu năm 2020 đến nay đơn vị đã bắt giữ, xử lý 8 vụ/8 đối tượng, 8 phương tiện khai thác thủy sản trái phép; xử phạt hành chính trên 170 triệu đồng, tịch thu 3 cào tay, 2 kích điện tự chế. Đại úy Lê Ngọc Dũng, Phó trưởng Đồn phụ trách nghiệp vụ, cho biết: Thời gian qua, đơn vị triển khai đồng bộ các biện pháp công tác biên phòng, thường xuyên nắm tình hình quản lý chặt chẽ hoạt động của các tàu cá, tăng cường tuần tra, kiểm soát chốt chặn tại các cửa sông cửa lạch, kiên quyết không cho các phương tiện ra khơi khi chưa đủ thủ tục giấy tờ, các trang thiết bị theo quy định, xử lý nghiêm các trường hợp cố tình vi phạm.

Mặc dù vậy, tình trạng vi phạm các quy định về khai thác thủy sản tại địa phương vẫn diễn ra. Từ đầu năm đến ngày 20/4/2020, các đơn vị chức năng trên địa bàn TP Móng Cái đã xử lý 23 vụ vi phạm, xử phạt trên 550 triệu đồng, tịch thu 1 giã cào, 3 cào tay, 2 bình ắc quy, 45m dây điện, 10 bộ áo lặn, 200m dây hơi, 5 bình nén khí, 10 kính lặn, 10 bộ đai chi; tiêu hủy 100kg ruốc...

Thời gian tới, TP Móng Cái tiếp tục phối hợp đẩy mạnh tuyên truyền về bảo vệ, phát triển nguồn lợi thủy sản bền vững, chính sách hỗ trợ ngư dân; vận động ngư dân chuyển đổi nghề; tăng cường tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm trong khai thác thủy sản...

Theo baoquangninh.com.vn

Tích cực chống nóng cho thủy sản

Từ đầu tháng 6 đến nay, thời tiết nắng nóng liên tục kéo dài, đặc biệt có những ngày nhiệt độ lên tới trên 35 độ C, kéo dài hơn 12 tiếng/ngày. Điều này không chỉ tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây sốc nhiệt cho các đối tượng thủy sản nuôi vụ xuân hè mà còn thuận lợi cho dịch bệnh bùng phát. Để ổn định sản xuất, cơ quan chuyên môn và hộ nuôi trồng thủy sản tích cực triển khai nhiều giải pháp phòng, chống nắng nóng cho thủy sản.

 

Nhiều hộ nuôi tôm trên địa bàn TX Quảng Yên hiện đã thu hoạch tôm đạt kích cỡ để tránh nóng.

Vụ xuân hè năm nay anh Lê Quang Tùng nuôi thả 1ha tôm công nghiệp tại khu nuôi trồng thủy sản Đông Yên Hưng, TX Quảng Yên. Qua 3 tháng nuôi, tôm đang bước vào giai đoạn cho thu hoạch. Với hình thái thời tiết nắng nóng liên tục kéo dài nhiều ngày như hiện nay, anh Tùng phải thường xuyên theo dõi biến động của thời tiết để điều chỉnh các yếu tố nhiệt độ, độ mặn, độ kiềm trong nước và áp dụng các biện pháp kỹ thuật để giữ cho con tôm sinh trưởng ổn định.

Trao đổi với phóng viên, anh Tùng cho biết: Từ đầu năm đến giờ tôi thu được sản lượng 18 tấn tôm, size trung bình từ 45-36 con, ước tính doanh thu 3,5 tỷ đồng. Thời tiết hiện đang rất nắng nóng, do đó, để đảm bảo chất lượng và sản lượng tôm khi thu hoạch, tôi đã tăng mực nước ao nuôi từ 1,4m lên 1,6m và bổ sung thêm 1 số khoáng chất, vitamin cần thiết để tăng sức đề kháng cho vật nuôi, ổn định môi trường nước.

Theo thống kê của Sở NN&PTT, năm nay trong tổng số hơn 4.600ha nuôi tôm công nghiệp toàn tỉnh, đã có 3.500ha xuống giống nuôi. Trong điều kiện nắng nóng kéo dài theo đợt từ khi vào vụ xuân hè đến nay, đa phần các hộ nuôi tiến hành thả gối, không tập trung xuống giống vào 1 thời điểm để kiểm soát rủi ro tốt hơn.

Cùng với đó, theo khuyến cáo của Chi cục Thủy sản Quảng Ninh, việc dự trữ nguồn nước để kịp thời bổ sung cho các ao nuôi vào những ngày nắng nóng cũng được người dân chủ động. Đồng thời một số hộ đầu tư hệ thống lưới che để giảm tác động của ánh sáng mặt trời đến ao nuôi và tốc độ sinh trưởng của vật nuôi.

Ông Vương Văn Oanh, Chi cục phó Chi cục Thủy sản Quảng Ninh khuyến cáo: Đối với động vật thủy sản nuôi hiện nay thứ nhất bà con phải chú ý các giải pháp quạt nước tránh phân tầng trong ao nuôi. Thứ hai cần tính toán lượng thức ăn hợp lý, tránh dư thừa thức ăn gây lãng phí, ô nhiễm môi trường khu vực nuôi, bổ sung các chất khoáng, vitamin, thuốc phòng bệnh vào trong khẩu phần ăn của động vật thủy sản nhằm nâng cao sức đề kháng cho vật nuôi. Thường xuyên kiểm tra, vệ sinh khu vực nuôi, khi thủy sản nuôi có dấu hiệu bất thường phải có cảnh báo và báo cáo ngay cho cơ quan chuyên môn để xác định nguyên nhân và kịp thời xử lý. Thứ 3 là phải thường xuyên xi phông đáy để hạn chế thấp nhất phân thủy chất hữu cơ do nhiệt độ cao diễn ra và điều chỉnh hàm lượng thức ăn tránh dư thừa để hạn chế tối đa vấn đề thiệt hại xảy ra trong những đợt nắng nóng kéo dài như hiện nay.

Đối với các hình thức nuôi thủy sản chương bãi, các hộ nuôi cần thường xuyên theo dõi bãi nuôi, có phương án thu hoạch với thủy sản đã đạt cỡ thương phẩm, san phẳng mặt bãi nuôi, khai thông các vũng nước đọng lại ở các bãi nuôi, tránh hiện tượng đọng nước cục bộ. Riêng với những hộ nuôi thủy sản lồng, bè, dây treo vào những ngày thời tiết nắng nóng kéo dài, độ mặn tăng cao cần hạ thấp độ sâu dây treo, trong điều kiện cho phép có thể di chuyển bè nuôi về khu vực có điều kiện chất lượng môi trường nước thích hợp. Đối với thủy sản đạt kích cỡ thương phẩm, bà con cần thu hoạch để tránh rủi ro do nắng nóng kéo dài gây ra.

Theo dự báo của cơ quan chuyên môn, trong tuần này dự báo thời tiết nắng nóng vẫn còn tiếp tục kéo dài, có nơi nắng nóng đặt biệt gay gắt với nền nhiệt cao phổ biến từ 37-39 độ C, có nơi trên 40 độ C. Do vậy các hộ nuôi trồng cần theo dõi sát diễn biến thời tiết để chủ động phòng chống và đối phó với những ảnh hưởng bất lợi cho động vật thủy sản. Cùng với đó những vật nuôi đạt kích cỡ thương phẩm, các hộ nuôi cần thu hoạch để hạn chế thấp nhất rủi do.

Theo Baoquangninh.com.vn

LÂM NGHIỆP

Phát triển rừng bền vững

Trước năm 1990, trong bối cảnh chung toàn quốc khai thác gỗ rừng quá mức, Quảng Ninh cũng bị suy giảm nghiêm trọng diện tích, trữ lượng rừng, độ che phủ rừng chỉ còn dưới 30%. Thời điểm đó, ít ai dám nghĩ rừng Quảng Ninh sẽ được phục hồi, phủ xanh, làm giàu. Vậy mà với nỗ lực, quyết tâm cao độ, Quảng Ninh đã làm được.

 

Ngành Lâm nghiệp Quảng Ninh đang chuyển động mạnh mẽ.

Quảng Ninh đóng cửa rừng năm 1997, là một trong ít địa phương đóng cửa rừng sớm nhất cả nước, chính thức ngừng mọi hoạt động khai thác, vận chuyển, mua bán sản phẩm từ rừng. Cùng với đó, các chương trình, dự án trồng rừng, phủ xanh đất trồng đồi núi trọc như 661 (trồng mới 5 triệu ha rừng), Việt Đức, 327, trồng rừng ngập mặn JICA… được phát động và triển khai mạnh mẽ, lan tỏa rộng khắp. Khi đó, khắp từ Đông Triều đến địa đầu Móng Cái, từ vùng trung tâm cho đến biên giới, đảo xa, đâu đâu cũng có những đội trồng rừng hừng hực khí thế, nhiệt huyết sức trẻ và niềm tin ươm những mầm xanh trên đất rừng. Cứ thế, các cánh rừng keo lai, bạch đàn, thông, hồi, quế, sở, rừng ngập mặn mạnh mẽ vươn lên, tạo thành những dải rừng rộng lớn, kéo dài dọc cung đường ven biển hàng trăm km, dọc tuyến đường biên giới, khắp các xã, huyện đảo, dọc các trục giao thông, các vùng cảnh quan đô thị… Một diện tích rộng lớn các cánh rừng tự nhiên nghèo kiệt - hậu quả của khai thác rừng ồ ạt trước đây đã được tỉnh giữ lại, khoanh nuôi tái sinh, thay vì chuyển đổi sang thành rừng sản xuất. Trong lộ trình này, tỉnh cho khoanh vùng các khu vực đầu nguồn, quy hoạch và phân loại rừng đặc dụng, phòng hộ, xúc tiến thành lập vườn, rừng quốc gia, các ban quản lý rừng… Nhờ đó đã kịp thời phục hồi rừng tự nhiên, giữ lại cho Quảng Ninh những khu rừng giàu có hiện nay, như Khu Bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng, rừng phòng hộ Yên Lập, Rừng quốc gia Yên Tử, Vườn Quốc gia Bái Tử Long, rừng Quảng Nam Châu, rừng phòng hộ Ba Chẽ… Đây đều là vốn quý trong phát triển rừng bền vững, đảm bảo môi sinh, môi trường, phát triển kinh tế. Việc giao đất, giao rừng khiến cho rừng có chủ. Trong khoảng gần 30 năm qua, 333.225 ha đã được giao cho 23.000 hộ gia đình và 59 tổ chức, tương đương gần 90% diện tích rừng toàn tỉnh có chủ, là một bước tiến quan trọng đảm bảo rừng được bảo vệ, đảm bảo thành quả trồng rừng, giữ rừng, đồng thời ngày càng làm giàu, phát triển rừng, sản sinh thêm giá trị cho rừng…

Công tác quản lý, bảo vệ rừng, đảm bảo các hoạt động về ngăn ngừa tàn phá rừng, lấn chiếm rừng, phòng chống cháy rừng… ngày càng hiệu quả từ đơn vị chuyên môn, chính quyền địa phương đến từng chủ rừng, người dân, là điều kiện cần thiết để Quảng Ninh bảo vệ, phát triển bền vững rừng.

Theo baoquangninh.com.vn

Y TẾ

Hội thảo khoa học chuyên ngành tiêu hóa chủ đề “Bệnh viêm ruột (IBD)”

Ngày 22/6, Bệnh viện Bãi Cháy tổ chức Hội thảo khoa học chuyên ngành tiêu hóa với chủ đề “Bệnh viêm ruột (IBD)” với sự tham gia giảng dạy của TS.BS Vũ Trường Khanh – Trưởng Khoa Tiêu hóa, Bệnh viện Bạch Mai – Hà Nội.

Tham dự hội thảo có Bác sĩ CKI. Đỗ Văn Thịnh – Phó Giám đốc Bệnh viện Bãi Cháy, bác sĩ CKII. Đinh Thị Lan Oanh – Phó Giám đốc Bệnh viện cùng gần 100 bác sĩ tại Bệnh viện Bãi Cháy và các đơn vị y tế trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.

 

Toàn cảnh hội thảo

Bệnh viêm ruột (IBD) đại diện cho một nhóm các rối loạn đường ruột gây viêm đường tiêu hóa kéo dài. Bệnh làm gián đoạn quá trình tiêu hóa, gây đau đớn kéo dài ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống. Nếu không điều trị hiệu quả sẽ dẫn đến các biến chứng nguy hiểm như suy dinh dưỡng, ung thư ruột kết, tắc ruột…Tỷ lệ mắc bệnh ruột (IBD) tại Châu Á ngày càng tăng, phổ biến ở mọi lứa tuổi.

Tại hội thảo, TS.BS Vũ Trường Khanh đề cập đến các triệu chứng, yếu tố nguy cơ, phương pháp chẩn đoán và điều trị hai bệnh phổ biến trong nhóm bệnh viêm ruột (IBD) là viêm loét đại tràng chảy máu và bệnh Crohn thông qua nội soi đại tràng, xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh (chụp Xquang, CT, MRI), điều trị dùng thuốc, phẫu thuật…

Hội thảo là dịp để các bác sĩ chuyên ngành tiêu hóa tại Quảng Ninh cập nhật kiến thức mới, trao đổi thông tin, kinh nghiệm, nâng cao năng lực chẩn đoán, điều trị các bệnh lý viêm ruột (IBD).

Theo benhvienbaichay.vn

Khám, cấp phát thuốc cho hơn 400 người dân tại Huyện Đông Triều

Trong 2 ngày (20 và 21/6), Đoàn Thanh niên Bệnh viện Bãi Cháy tổ chức khám lưu động, tư vấn và cấp thuốc miễn phí cho hơn 400 người dân tại hai xã Tràng Lương, Yên Đức (huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh). Đây là chuyến khám lưu động thứ 2 trong năm của Bệnh viện Bãi Cháy nhằm thực hiện nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân các xã vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh.

 

Toàn cảnh khám lưu động tại xã Tràng Lương, Yên Đức (huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh).

Trong chuyến khám lưu động này, 420 người dân tại huyện Đông triều đã được các bác sĩ, nhân viên y tế của Bệnh viện Bãi Cháy khám bệnh tổng quát, tư vấn và cấp thuốc miễn phí ở các chuyên khoa Nội, Ngoại, Tai – Mũi – Họng, Răng hàm Mặt, Sản, Nhi… Người dân có cơ hội được thăm khám bằng các kỹ thuật hiện đại như siêu âm, nội soi tai mũi họng, xét nghiệm máu…Đa số người dân mắc các bệnh như tăng huyết áp, viêm dạ dày, rối loạn tiền đình, viêm khớp, viêm tai mũi họng, đục thủy tinh thể… đã được các bác sĩ tư vấn cách thức dùng thuốc điều trị và chăm sóc sức khỏe cá nhân, chế độ dinh dưỡng phù hợp. Những trường hợp bệnh nhân nặng được tư vấn, hướng dẫn chuyển tuyến để chẩn đoán và lựa chọn phương pháp điều trị hiệu quả.

Bằng sức trẻ và nhiệt huyết cống hiến, Đoàn Thanh niên Bệnh viện Bãi Cháy là lực lượng nòng cốt thực hiện các nhiệm vụ chính trị của Bệnh viện. Trong đó hoạt động khám lưu động, tình nguyện thể hiện tinh thần xung kích của tuổi trẻ trong sự nghiệp chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân. Thời gian tới, các đoàn viên thanh niên sẽ cùng các cán bộ, nhân viên y tế tham gia thực hiện10 chuyến khám lưu động tại tại các huyện, thị xã thuộc Móng Cái, Hải Hà, Bình Liêu, Tiên Yên, Đông Triều… theo kế hoạch công tác năm 2020.

Theo quangninh.gov.vn

BẠN NHÀ NÔNG

Trồng rau an toàn ở HTX Nông nghiệp Hương Việt

Mạnh dạn đầu tư, áp dụng khoa học công nghệ vào việc trồng rau an toàn, cung cấp cho địa bàn, góp phần nâng cao thu nhập của thành viên, người lao động, đó là hướng phát triển của HTX Nông nghiệp Hương Việt (phường Bắc Sơn, TP Uông Bí).

 

Hệ thống tưới phun sương công nghệ Đài Loan của HTX Nông nghiệp Hương Việt (TP Uông Bí) áp dụng cho trồng cây rau ăn lá.

Thành lập năm 2015, HTX Nông nghiệp Hương Việt chuyên trồng rau an toàn, cung cấp cho thị trường TP Uông Bí. Ông Trịnh Văn Vị, Giám đốc HTX cho biết: Trên thị trường có nhiều sản phẩm nông sản trôi nổi, không rõ nguồn gốc, nguy cơ gây mất an toàn thực phẩm, đe dọa đến sức khỏe người tiêu dùng, trong khi đó, tại địa bàn thành phố chưa có đơn vị nào đầu tư trồng rau an toàn nên tôi cùng một số người thành lập HTX trồng rau an toàn cung cấp cho thị trường Uông Bí.

Để trồng rau theo hướng an toàn, HTX thuê dài hạn đất nông nghiệp của 25 hộ dân với diện tích 2ha, cải tạo, tăng độ tơi xốp, giúp đất giàu chất dinh dưỡng. Cùng với đó, HTX đầu tư cơ sở hạ tầng gồm: Nhà điều hành, khu sơ chế, giếng khoan, thoát nước; phân lô theo thửa... HTX đưa vào trồng các loại rau truyền thống như cà chua, dưa chuột, bí, bầu, rau muống, cải cuốn, cải thảo...

Theo ông Vị, tất cả các quy trình chăm sóc rau an toàn từ giống, nguồn nước tưới, phân bón được quy định rất chặt chẽ. HTX tuyệt đối không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, phân bón hóa học cũng như các nguy cơ không an toàn trong trồng và chăm sóc rau. HTX thuê 1 kỹ sư nông nghiệp phụ trách toàn bộ quy trình kỹ thuật, đồng thời liên kết với Học viện Nông nghiệp Việt Nam cung cấp cây giống ổn định năng suất, chất lượng. Định kỳ hằng tháng, các cơ quan chức năng của thành phố, tỉnh trực tiếp xuống HTX lấy mẫu từng loại rau để kiểm tra VSATTP.

Để nâng cao năng suất chất lượng, giảm chi phí, năm 2016 HTX đầu tư lắp đặt hệ thống tưới thấm nhỏ giọt theo công nghệ của Israel trên diện tích 1ha. Đây là hệ thống tưới phù hợp trồng các loại cây rau ăn củ, quả như cà chua, đậu cove, bí... đảm bảo nước được tưới thường xuyên, làm tăng độ ẩm, giúp rễ hấp thụ nhanh hơn, rau sinh trưởng phát triển tốt. Cùng với đó là đầu tư hệ thống tưới phun sương công nghệ của Đài Loan cho các loại rau ăn lá như cải, rau muống, mồng tơi... giúp HTX giảm nhân công, tiết kiệm chi phí và tăng sản lượng.

Mỗi tháng, HTX cung cấp khoảng 6 tấn rau các loại, chủ yếu là cho các đơn vị, doanh nghiệp trên địa bàn. Bình quân sản lượng rau của HTX đạt khoảng 70 tấn/năm với doanh thu đạt 500 triệu đồng. Không những vậy, HTX còn tạo công ăn việc làm cho nhiều lao động địa phương với mức thu nhập từ 5-6 triệu đồng/người/tháng. Bà Hoàng Thị Liên - một lao động của HTX cho biết: Tôi đã làm được 3 năm, hàng ngày thu hoạch và sơ chế rau cung cấp cho các đơn vị, công việc không vất vả nhưng thu nhập ổn định, phù hợp với lao động như chúng tôi.

Trong thời gian tới, HTX tăng cường đầu tư xây dựng nhà lưới với diện tích 2.000m2 để trồng dưa hoàng hậu; tiếp tục nghiên cứu, áp dụng khoa học công nghệ phục vụ trồng rau theo hướng an toàn. Sản phẩm rau của HTX Nông nghiệp Hương Việt đã được đăng ký trong chương trình mỗi xã, phường một sản phẩm (OCOP) của thành phố. Với cách đi đúng hướng, HTX Nông nghiệp Hương Việt đang mang lại lợi ích, hiệu quả cho phát triển nông sản an toàn cho Uông Bí.

Theo Baoquangninh.com.vn

Khởi nghiệp thời đại 4.0

Thành lập chưa đầy 5 tháng, nhưng với sự giúp đỡ và đồng hành của CLB Khởi nghiệp Quảng Ninh, Công ty CP Đầu tư SIC (Start-up Investment Company) của Nguyễn Văn Đạt đã nhanh chóng trở thành đơn vị tiên phong về những chương trình đào tạo chất lượng và hệ thống hỗ trợ khởi nghiệp hiệu quả tại Quảng Ninh. Theo đó, SIC đã giúp đỡ cho hàng trăm bạn trẻ áp dụng thành công những kinh nghiệm trong khởi nghiệp; giúp họ tiết kiệm về tiền bạc, thời gian, công sức trong cung cách điều hành doanh nghiệp.

Có thể kể đến một số chương trình đã rất thành công và nhận được nhiều sự quan tâm, chú ý của giới doanh nhân, thanh niên, sinh viên trong thời gian qua, như: Tọa đàm với Tiến sĩ Lê Thẩm Dương về “Cách quản lý và sử dụng đồng tiền hiệu quả”, nghệ thuật bán hàng với chuyên gia kinh tế Nguyễn Bá Cư... đây là những tác động xã hội tích cực mà SIC mang lại cho cộng đồng khởi nghiệp trẻ tại tỉnh nhà.

Sự thành công của Nguyễn Văn Đạt cũng như của SIC chính là minh chứng cho sự thành công trên con đường khởi nghiệp trong thời đại 4.0 hiện nay. Đối với Đạt, con đường mà anh đang đi chính là sự kinh doanh tri thức, nền tảng của khoa học công nghệ với các giải pháp trong kinh doanh, một mặt hàng không có hiện vật, song lại là điều mà bất cứ doanh nghiệp nào cũng cần.Với mong muốn theo kịp xu thế của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang ngày càng lan tỏa mạnh mẽ trong cả nước, chàng trai trẻ Nguyễn Văn Tùng (SN 1985) tại TP Hạ Long đã lựa chọn con đường khởi nghiệp bằng công nghệ. Tùng hiện là Giám đốc của 2 thương hiệu uy tín trong lĩnh vực công nghệ và giải pháp phát triển thương hiệu trên thị trường trong tỉnh, đó là Công ty Camera An Hưng security và Công ty Marketing B2U Hạ Long.

Sau khi nghỉ việc tại Công ty Than Hòn Gai, năm 2016 Nguyễn Văn Tùng thành lập Công ty Camera An Hưng security. Ban đầu khởi nghiệp Tùng gặp rất nhiều khó khăn, trở ngại trong cạnh tranh, tìm kiếm khách hàng... Với Tùng thì cách mạng 4.0 chính là cánh cửa mở ra những chân trời tri thức mới và anh đã kịp nắm bắt, chớp lấy để tìm ra cách marketing cho công ty của mình. Với cách làm bài bản, chuyên nghiệp, công ty của Tùng bắt đầu được chú ý và từ đó anh đã chinh phục được nhiều khách hàng từ chính sự uy tín, chất lượng dịch vụ mà mình mang lại. Đến nay, Camera An Hưng security đã là một thương hiệu mạnh trong lĩnh vực camera an ninh tại TP Hạ Long.

Sau khi áp dụng thành công cho “đứa con" đầu của mình là thương hiệu camera An Hưng, Tùng quyết định thành lập thêm một công ty chuyên về cung cấp các giải pháp marketing với tên gọi Công ty Marketing B2U. Đây là công ty cổ phần với đầy đủ những mắt xích quan trọng như copywriter, kỹ thuật chuyên sâu, nghiên cứu thị trường, thiết kế hình ảnh video và kỹ thuật viên máy tính IT... nên chỉ sau 6 tháng hoạt động, công ty đã ký hợp đồng “Marketing chuẩn 4.0” với hàng chục đơn vị, thiết kế ra nhiều banner, video quảng cáo và các website uy tín cho khách hàng. 

Khi được hỏi về quyết định táo bạo này của mình, Tùng chia sẻ: Chính tinh thần khởi nghiệp mà Chính phủ phát động cùng với công nghệ là đòn bẩy thúc đẩy chúng tôi những ham muốn khám phá sáng tạo trên con đường làm giàu cho bản thân và quê hương.

Theo Baoquangninh.com.vn

 

 

 

Trung tâm Ứng dụng và Thống kê KH&CN


Tìm kiếm theo chuyên mục - nội dung - ngày tháng

Tin Nóng
Tin tiêu điểm

Lịch công tác trống

Website liên kết
Thống kê truy cập
Hôm nay: 566
Đã truy cập: 869506