Bản Tin Khoa Học và Công Nghệ Số 12 năm 2021

26/03/2021 10:24

Bản Tin Khoa Học và Công Nghệ Số 12 năm 2021

Trong số này

Tin Trong Tỉnh. 2

Hội đồng tư vấn tuyển chọn tổ chức và cá nhân thực hiện nhiệm vụ cấp tỉnh “Nghiên cứu thiết lập hệ thống quản lý và tái chế chất thải rắn xây dựng để ứng dụng làm vật liệu xây dựng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh” . 2

Hội đồng tư vấn tuyển chọn tổ chức và cá nhân thực hiện nhiệm vụ cấp tỉnh “Nghiên cứu, sử dụng tro bay, xỉ đáy tại nhà máy nhiệt điện Cẩm Phả để sản xuất vật liệu xây dựng”. 3

Hội đồng tư vấn tuyển chọn đơn vị chủ trì nhiệm vụ cấp tỉnh: “Nghiên cứu sử dụng phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn lên men dạng lỏng cho lợn nuôi thương phẩm theo hướng hữu cơ”. 5

Ban chấp hành Đoàn Sở Khoa học và Công nghệ tổ chức các hoạt động kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. 6

Tin Trong Nước. 7

Sửa đổi Luật SHTT: Giải quyết những vấn đề vướng mắc trong thực tế. 7

Nghiên cứu ứng dụng bức xạ ion hóa kết hợp công nghệ ribosome nhằm cải thiện khả năng sinh protease của chủng vi khuẩn Bacillus subtilis. 9

Nghiên cứu chế tạo bộ kit chẩn đoán EBOV bằng kỹ thuật Realtime - RT – PCR   11

Tin Quốc Tế. 12

Pin mặt trời trong suốt có thể dùng làm mái nhà kính. 12

Facebook "khoe" đã tự phát triển được vòng đeo tay thông minh. 14

Phát hiện thiên hà cách Trái Đất 8 tỷ năm ánh sáng. 15

 

 

Tin Trong Tỉnh

Hội đồng tư vấn tuyển chọn tổ chức và cá nhân thực hiện nhiệm vụ cấp tỉnh “Nghiên cứu thiết lập hệ thống quản lý và tái chế chất thải rắn xây dựng để ứng dụng làm vật liệu xây dựng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh” .

         Sáng ngày 11/3, Sở KH&CN tổ chức Hội đồng tư vấn tuyển chọn tổ chức và cá nhân thực hiện nhiệm vụ cấp tỉnh: “Nghiên cứu thiết lập hệ thống quản lý và tái chế chất thải rắn xây dựng để ứng dụng làm vật liệu xây dựng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh” do Trường Đại học Xây dựng đăng ký thực hiện nhiệm vụ. Đồng chí Hoàng Vĩnh Khuyến, Phó Giám Đốc Sở KH&CN làm Chủ tịch hội đồng.

         Mục tiêu chính của nhiệm vụ này là: Nghiên cứu xây dựng thành công hệ thống quản lý và tái chế chất thải rắn xây dựng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh;xây dựng mô hình, công nghệ tái chế chất thải rắn xây dựng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh (tập trung tại một số đô thị lớn của tỉnh).

        Tại buổi làm việc, với thuyết minh nhiệm vụ đã trình bày, Hội đồng tuyển chọn đánh giá cao năng lực thực hiện của đơn vị đăng ký thực hiện nhiệm vụ. Hội đồng đề nghị đơn vị đăng ký chủ trì thực hiện nhiệm vụ tiếp thu các ý kiến góp ý của các thành viên hội đồng: điều chỉnh lại tên nhiệm vụ thành “ Nghiên cứu thiết lập mô hình quản lý và công nghệ tái chế chất thải rắn xây dựng ứng dụng sản xuất gạch không nung và bê tông thương phẩm trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh”, trên cơ sở đó điều chỉnh mục tiêu cho phù hợp; làm rõ nội dung trong thuyết minh nhiệm vụ theo kết luận của Hội đồng tư vấn tuyển chọn nhiệm vụ KH&CN. Hồi đồng nhất trí thông qua nhiệm vụ.

Trung tâm Ứng dụng và Thống kê KH&CN

Hội đồng tư vấn tuyển chọn tổ chức và cá nhân thực hiện nhiệm vụ cấp tỉnh “Nghiên cứu, sử dụng tro bay, xỉ đáy tại nhà máy nhiệt điện Cẩm Phả để sản xuất vật liệu xây dựng”

        Chiều ngày 11/3, Sở KH&CN tổ chức Hội đồng tư vấn tuyển chọn tổ chức và cá nhân thực hiện nhiệm vụ cấp tỉnh: “Nghiên cứu, sử dụng tro bay, xỉ đáy tại nhà máy nhiệt điện Cẩm Phả để sản xuất vật liệu xây dựng” do Viện Nghiên cứu và Ứng dụng vật liệu xây dựng nhiệt đới đăng kí thực hiện nhiệm vụ. Đồng chí Bùi Quang Minh, Phó Giám đốc Sở KH&CN làm chủ tịch Hội đồng.

        Mục tiêu chính của nhiệm vụ này là: Đánh giá thực trang nguồn tro bay, xỉ đáy tại nhà máy nhiệt điện Cẩm Phả Quảng Ninh;nghiên cứu phương pháp sử dụng nguồn chất thải tro, xỉ nhà máy nhiệt điện Cẩm Phả với khối lượng lớn nhất có thể dùng trong sản xuất phối liệu dùng cho công tác san lấp, cốt liệu nhẹ không nung thay thế đá dăm trong cấp phối đá dăm có gia cố xi măng dùng làm nền móng công trình, sản xuất bê tông, sản xuất cấu kiện bê tông bền trong môi trường biển; sản xuất thử nghiệm thành công lô vật liệu từ tro bay, xỉ đáy nhà máy nhiệt điện Cẩm phả trong sản xuất phối liệu dùng cho công tác san lấp, cốt liệu nhẹ không nung thay thế đá dăm trong cấp phối đá dăm có gia cố xi măng dùng làm nền móng công trình, sản xuất bê tông, sản xuất cấu kiện bê tông bền trong môi trường biển trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.

        Với thuyết minh nhiệm vụ đã trình bày, Hội đồng tuyển chọn đề nghị đơn vị đăng ký chủ trì thực hiện nhiệm vụ tiếp thu các ý kiến góp ý của các thành viên hội đồng: chỉnh sửa, bổ sung một số nội dung trong thuyết minh nhiệm vụ. Viện Nghiên cứu và Ứng dụng vật liệu xây dựng Nhiệt đới có trách nhiệm chỉnh sửa thuyết minh theo kết luận của Hội đồng, gửi về Sở KH&CN trước ngày 20/3/2021. Hồi đồng nhất trí thông qua nhiệm vụ.

Trung tâm Ứng dụng và Thống kê KH&CN

Hội đồng tư vấn tuyển chọn đơn vị chủ trì nhiệm vụ cấp tỉnh: “Nghiên cứu sử dụng phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn lên men dạng lỏng cho lợn nuôi thương phẩm theo hướng hữu cơ”

        Chiều ngày 16/3, Sở KH&CN tổ chức Hội đồng tư vấn tuyển chọn đơn vị chủ trì nhiệm vụ cấp tỉnh: “Nghiên cứu sử dụng phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn lên men dạng lỏng cho lợn nuôi thương phẩm theo hướng hữu cơ” do Học viện Nông nghiệp Việt Nam đăng ký thực hiện nhiệm vụ. Đồng chí Hà Thế Nam, Phó Giám đốc Sở KH&CN làm Chủ tịch Hội đồng.

          Mục tiêu chung của nhiệm vụ KH&CN này nhằm nâng cao giá trị sử dụng phụ phẩm nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh trong chăn nuôi lợn. Trong đó, mục tiêu cụ thể của nhiệm vụ là: Xây dựng được các công thức lên men dạng lỏng từ phụ phẩm nông nghiệp trong nuôi lợn thương phẩm; xây dựng được hướng dẫn kỹ thuật nuôi lợn thương phẩm bằng men dạng lỏng từ phụ phẩm nông nghiệp theo hướng hữu cơ trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.

        Với thuyết minh nhiệm vụ đã trình bày, các thành viên trong Hội đồng đánh giá nhiệm vụ KH&CN có tính cấp thiết và khả thi. Bên cạnh đó, Hội đồng đề nghị đơn vị đăng ký thực hiện nhiệm vụ tiếp thu các ý kiến góp ý của các thành viên trong Hội đồng: điều chỉnh, chỉnh sửa nội dung trong thuyết minh nhiệm vụ theo kết luận của Hội đồng tuyển chọn nhiệm vụ KH&CN và gửi về Sở KH&CN trước ngày 26/3/2021.

         Hội đồng nhất trí thông qua nhiệm vụ.

Trung tâm Ứng dụng và Thống kê KH&CN

Ban chấp hành Đoàn Sở Khoa học và Công nghệ tổ chức các hoạt động kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh

       Chào mừng kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (26/3/1931 - 26/3/2021), Sáng ngày 22/3/2021, tại Hội trường Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng đã diễn ra các hoạt động chào mừng do Ban chấp hành Đoàn Sở Khoa học và Công nghệ tổ chức.

       Theo đó, Đoàn Sở Khoa học và Công nghệ  đã tổ chức tuyên truyền, giáo dục truyền thống 90 năm xây dựng và phát triển của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh như: tổ chức sinh hoạt, xem phim tư liệu… ôn lại truyền thống lịch sử 90 năm xây dựng và trưởng thành của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, lịch sử Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Sở Khoa học và Công nghệ qua các thời kỳ; những đóng góp, cống hiến to lớn của tổ chức Đoàn; xây dựng kế hoạch tham gia các hoạt động văn hóa, thể thao, giải bóng đá truyền thống Đoàn khối các cơ quan tỉnh Quảng Ninh lần thứ XII; tham gia các hoạt động của Tỉnh đoàn, Đoàn khối các cơ quan tỉnh phát động như: Thực hiện các nội dung theo Kế hoạch số 233-KH/TĐTN-TG ngày 28/10/2020 của Ban thường vụ Tỉnh đoàn; Kế hoạch số 74-KH/ĐTN ngày 06/11/2020 của Ban chấp hành Đoàn khối các cơ quan tỉnh; kết nạp 02 đoàn viên ưu tú cho cấp ủy Đảng nhân dịp kỷ niệm 90 năm thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh;…

        Trong không khí vui tươi của Tháng Thanh niên – Tuổi trẻ cả nước tình nguyện vì cộng đồng, đặc biệt là tinh thần thi đua sôi nổi của tuổi trẻ với nhiều công trình, phần việc chào mừng kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, chuỗi hoạt động của Ban chấp hành Đoàn Sở KH&CN là chương trình ý nghĩa giúp cho tuổi trẻ Quảng Ninh hôm nay vững tin “Tiếp nối truyền thống - Vững bước tương lai”; luôn trau dồi bản lĩnh chính trị, ý chí, nghị lực vượt khó, chủ động xông pha vào thực tiễn xã hội với tinh thần “Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền, đào núi và lắp biển, quyết chí ắt làm nên”, ra sức cống hiến cho sự phát triển của quê hương, góp phần xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Trung tâm Ứng dụng và Thống kê KH&CN

Tin Trong Nước

Sửa đổi Luật SHTT: Giải quyết những vấn đề vướng mắc trong thực tế

          Lần sửa đổi Luật Sở hữu trí tuệ lớn nhất từ trước đến nay của Việt Nam không chỉ nhằm đáp ứng những cam kết trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới mà còn giải quyết những vấn đề thực tiễn trong xác lập, khai thác và thực thi quyền sở hữu trí tuệ.

         Đó là nội dung được nhấn mạnh tại hội thảo “Tham vấn về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ” do Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ KH&CN) phối hợp với Cục Bản quyền và tác giả (Bộ VH, TT&DL) và Cục Trồng trọt (Bộ NN&PTNT) tổ chức vào ngày 12/3 tại TPHCM nhằm lấy ý kiến về dự án sửa đổi Luật SHTT. Đây là hội thảo lấy ý kiến lần thứ hai, sau một hội thảo tương tự đã được tổ chức tại Hà Nội vào tháng 1/2021

         Kể từ khi được ban hành vào năm 2005, đến nay, Luật SHTT đã phát huy vai trò quan trọng trong việc tạo hành lang pháp lý cho hoạt động sáng tạo, xác lập, khai thác và bảo vệ quyền SHTT của các tổ chức, cá nhân, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, góp phần khuyến khích hoạt động sáng tạo, đẩy mạnh chuyển giao công nghệ, thu hút đầu tư nước ngoài, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội đất nước.

        Tuy nhiên, sau 15 thi hành, Luật SHTT đã bộc lộ một số một số vướng mắc trong thực tế. Hơn nữa, “bối cảnh mới nhiều chuyển biến đã tác động mạnh mẽ đến mọi mặt kinh tế xã hội như quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của Việt Nam thông qua việc tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, sự phát triển kinh tế số, xu hướng bảo hộ thương mại gia tăng, cũng như mục tiêu hướng tới một chính phủ kiến tạo,...”, Bộ trưởng Bộ KH&CN Huỳnh Thành Đạt phát biểu tại hội thảo. “Mục tiêu của việc sửa đổi Luật SHTT là nhằm thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước, xử lý các bất cập, vướng mắc trong thực tiễn thi hành, luật hóa các cam kết quốc tế, tạo khuôn khổ pháp lý đầy đủ cho hoạt động SHTT của Việt Nam”.

       Để đảm bảo mục tiêu sửa đổi Luật SHTT, ban soạn thảo để tổ chức hội thảo tham vấn lấy ý kiến các cá nhân, tổ chức trong lĩnh vực SHTT cũng như các viện trường, doanh nghiệp, bao gồm 3 lĩnh vực: sở hữu công nghiệp, quyền tác giả và quyền liên quan, giống cây trồng. Là lần sửa đổi Luật SHTT lớn nhất từ trước đến nay, “khối lượng các sửa đổi lần này dự kiến khoảng 80 điều/222 điều, chiếm khoảng 36%”, Bộ trưởng Bộ KH&CN Huỳnh Thành Đạt cho biết.

         Theo dự kiến, dự án Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật SHTT sẽ được trình Quốc hội cho ý kiến vào tháng 10/2021 và thông qua vào tháng 5/2022.

Thanh An (Báo Khoa học và Phát triển)

Nghiên cứu ứng dụng bức xạ ion hóa kết hợp công nghệ ribosome nhằm cải thiện khả năng sinh protease của chủng vi khuẩn Bacillus subtilis

         Protease là nhóm enzyme có chức năng phân giải các liên kết peptide của protein để tạo thành các amino acid đơn lẻ. Với tiềm năng ứng dụng to lớn trong nhiều lĩnh vực đời sống nên protease đang thu hút mối quan tâm của nhiều nhà khoa học cũng như các công ty hóa dược lớn trên thế giới.

         Vi sinh vật, đặc biệt là chủng VK Bacillus là nguồn nguyên liệu thích hợp để sản xuất protease ở quy mô công nghiệp nhờ việc thu nhận sản phẩm dễ dàng, nuôi cấy đơn giản và đặc biệt protease của chủng VK này có hoạt tính ổn định ở các điều kiện pH, nhiệt độ cao (Olajuyigbe và Ajele, 2005). Tuy nhiên, các chủng Bacillus tự nhiên thường cho năng suất sinh protease không cao và vì thế việc tạo ra các thể đột biến có khả năng sinh sản phẩm thứ cấp vượt trội là một lựa chọn lý tưởng cho ngành công nghiệp sản xuất protease.

         Trong tự nhiên, tỷ lệ đột biến phụ thuộc vào điều kiện phát triển của VSV và nằm trong khoảng từ 10-10 đến 10-6. Tỷ lệ này có thể tăng một cách rõ rệt bằng cách sử dụng các tác nhân gây đột biến thực nghiệm và thực tế có thể lên đến 10-5 đến 10-1 (Davati và cs, 2013). Cơ chế phân tử liên quan được phân tích, đánh giá trong nhiều công trình nghiên cứu cho thấy sự tác động này chủ yếu theo hai con đường chính là gây đột biến gen rpsL mã hóa cho protein ribosome S12 và gây đột biến gen rpoB mã hóa cho tiểu phần β của RNAP (Lai và cs, 2002; Ochi, 2007; Ochi và Hosaka, 2013; Wang và cs, 2008). Đây cũng là cơ sở cho sự ra đời của công nghệ ribosome (Ribosome Engineering), một kỹ thuật khá mới liên quan đến việc gia tăng hoạt tính của các ribosome tham gia dịch mã, nhằm mục đích tăng khả năng dịch mã. Như vậy gen đích không hề bị cải biến nhưng khả năng sinh tổng hợp sản phẩm của gen được tăng lên nhờ các đột biến liên quan đến bộ máy tổng hợp ribosome. Kỹ thuật này đã chứng minh được tính hiệu quả, có thể làm tăng khả năng sinh tổng hợp lên hàng chục, thậm chí hàng trăm lần.

          Rõ ràng, công nghệ ribosome là một kỹ thuật gây đột biến định hướng, tương đối đơn giản, hiệu quả và đặc biệt chi phí thấp so với công nghệ gen. Tuy nhiên, thời gian sàng lọc đột biến ribosome khá dài, tốn nhiều công sức vì vậy việc sử dụng kết hợp công nghệ ribosome với xử lý chiếu xạ được xem là một giải pháp nhằm làm tăng áp lực chọn lọc, giảm thời gian sàng lọc, tăng tần suất thu được thể đột biến mong muốn, đặc biệt là tăng khả năng kháng với KS của VSV (De Groot và cs, 2005; Al-Sudany và cs, 2010).

           Như vậy, cùng với kỹ thuật gây đột biến phóng xạ, công nghệ ribosome có thể giúp tạo ra chủng VSV có khả năng sinh tổng hợp enzyme cao hơn chủng thuần nhiều lần, giúp tăng khả năng ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu. Vì lý do đó, đề tài "Nghiên cứu ứng dụng bức xạ ion hóa kết hợp công nghệ ribosome nhằm cải thiện khả năng sinh protease của chủng vi khuẩn Bacillus subtilis" đã được nhóm nghiên cứu Phòng Nghiên cứu Công nghệ Bức xạ do ThS. Trần Băng Diệp đứng đầu thực hiện. Đây là nghiên cứu khởi đầu kết hợp giữa công nghệ bức xạ với công nghệ ribosome tại Việt Nam.

         Các kết quả thu được sau đây sẽ là cơ sở khoa học để phát triển phương pháp mới trong gây tạo đột biến VSV:

  1. Đã tuyển chọn được 03/09 chủng Bacillus subtilis có khả năng sinh protease cao và ổn định sử dụng làm nguyên liệu gây tạo đột biến. Đó là các chủng Bacillus subtilis B5, Bacillus subtilis H12 và Bacillus subtilis VI.

 

- Thời gian nuôi cấy 24 giờ và kiểm tra hoạt tính enzyme ngay sau khi thu dịch nuôi các chủng Bacillus subtilis được lựa chọn để giảm thiểu mức độ suy giảm hoạt tính protease và phù hợp với điều kiện thực nghiệm của nghiên cứu.

 

  1. Huyền dịch TB ở giai đoạn phát triển theo hàm mũ và đĩa thạch dinh dưỡng có cấy TB của 03 chủng Bacillus subtilis được xử lý chiếu xạ ở dải liều 0-3000 Gy trên nguồn Co-60 tại Trung tâm Chiếu xạ Hà Nội. Dù xử lý chiếu xạ theo cách nào thì tỷ lệ VK sống sót đều giảm theo liều chiếu và đường cong sống sót của chúng tuân theo lý thuyết mô hình truyền năng lượng.

- Đột biến sinh protease cao ở các chủng Bacillus subtilis xuất hiện ở tất cả các liều xạ. Tỷ lệ đột biến cao hơn trong khoảng liều từ 700-1500 Gy so với các liều khảo sát còn lại và kết quả lặp lại ở cả 3 chủng Bacillus subtilis B5, H12 và VI.

  1. Tần số đột biến kháng streptomycin (20 µg/ml) và rifampicin (0,2 µg/ml) của cả 03 chủng VK nghiên cứu đều tăng đáng kể nhờ xử lý chiếu xạ. Tần số biến kháng streptomycin lớn nhất là 1,61x10-3, 1,68x10-2, 2,22x10-2 tương ứng lần lượt với các chủng B5, H12 và VI gây ra bởi liều chiếu xạ 1000 Gy. Trong khi đó, tần số đột biến kháng rifampicin của chúng đạt giá trị cao nhất ở liều 2000 Gy, cao hơn tần số tự phát từ 1,55-5,46x103 lần.

- Sử dụng kết hợp chiếu xạ tia gamma và xử lý KS cũng như tăng dần nồng độ streptomycin và rifampicin trong quá trình sàng lọc đã tạo ra 17 khuẩn lạc kháng xạ, kháng KS có khả năng sinh protease vượt trội so với các chủng thuần ban đầu.

  1. Kết quả giải trình tự cho thấy14/17 khuẩn lạc đều mang đột biến thay thế ở gen rpoB. Không có bất kì đột biến nào trên gen rpsL được phát hiện ở tất cả các khuẩn lạc nghiên cứu, chứng tỏ tính kháng KS và khả năng tổng hợp protease cao hơn chủng thuần chỉ liên quan đến gen rpoB chứ không chịu tác động của thay đổi nucleotide ở gen rpsL.

- Trong số các đột biến thì dòng 609-B5 (tạo được nhờ chiếu xạ liều 500 Gy chủng thuần Bacillus subtilis B5 kết hợp xử lý streptomycin 200 µg/ml) và dòng19-H12 (tạo được nhờ chiếu xạ liều 1000 Gy chủng thuần Bacillus subtilis H12 kết hợp xử lý rifampicin 10 µg/ml) có khả năng sinh protease cao hơn 2,5-2,7 lần so với chủng gốc và ổn định so với các chủng còn lại.

- Có hai thay đổi amino acid xảy ra ở vị trí 494 ở dòng 609-B5 và vị trí 496 ở dòng 19-H12. Cả 2 đột biến này đều nằm trong vùng qui định tính nhạy cảm với KS của tiểu phần beta của RNA polymerase liên quan đến khả năng tăng tổng hợp protease ở Bacillus.

- Trình tự nucleotide gen rpoB của dòng 609-B5 và dòng 19-H12 đã được đăng ký trên NCBI (National Center for Biotechnology Information) với mã số MG 023321 và MG 023320. Đồng thời, 02 plasmid chứa gen rpoB đột biến của chúng đã được tái tổ hợp, biến nạp và tách chiết thành công.

  1. Phương pháp mô hình hóa RSM - CCD kết hợp với phần mềm tin sinh Design Expert và kiểm tra bằng thực nghiệm đã xác định điều kiện tối ưu của bốn yếu tố trong nuôi cấy dòng đột biến 609-B5 thu protease cực đại là 2299,49 UI/ml ở các giá trị hàm lượng hàm lượng pepton 6,5 g/l, hàm lượng cao thịt 2 g/l, pH 7,16, thời gian nuôi cấy là 21 giờ. Hoạt độ protease nhận được từ kết quả thực nghiệm với các giá trị mô hình dự đoán là 2257,32 UI/ml, chứng tỏ tính chính xác của mô hình và sự tồn tại của điểm tối ưu.

        Có thể tìm đọc toàn văn báo cáo kết quả nghiên cứu (Mã số 14339) tại Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia.

Cục Thông tin KH&CN quốc gia

Nghiên cứu chế tạo bộ kit chẩn đoán EBOV bằng kỹ thuật Realtime - RT – PCR

       Bệnh do Ebolavirus (EVD) hay còn gọi là bệnh sốt xuất huyết Ebola (Ebola Hemorrhagic Fever - EHF) là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm với tỷ lệ tử vong cao lên đến 90% gây ra bởi Ebolavirus (EBOV) được phát hiện lần đầu tiên ở Sudan và Cộng hoà dân chủ Công Gô năm 1976 và hiện nay chưa có biện pháp điều trị đặc hiệu cũng như vaccine phòng bệnh.

        Chính vì vậy dịch bệnh EVD là mối đe dọa sức khỏe cộng đồng không chỉ ở các quốc gia châu Phi mà trên cả phạm vi toàn cầu.

         EBOV lây truyền chủ yếu là tiếp xúc với các dịch cơ thể như qua con đường bơm kim tiêm không đảm bảo, tiếp xúc trực tiếp với mẫu dịch cơ thể, mẫu mô người bệnh. Do tiềm năng ảnh hưởng lớn đến sức khỏe cộng đồng, bệnh tiến triển nhanh với tỷ lệ tử vong cao, EBOV được phân loại vào nhóm A các tác nhân sinh học có nguy cơ sử dụng khủng bố sinh học, cần được xác định chính xác và kịp thời.

        Để kiểm soát được dịch bệnh, điều quan trọng là phải chẩn đoán sớm và khẳng định được ca bệnh. Chính vì vậy chẩn đoán xét nghiệm đóng vai trò rất quan trọng trong chẩn đoán sớm và xác định nhiễm EBOV bao gồm xét nghiệm phát hiện sự xuất hiện của virus trong máu bằng kỹ thuật RT-PCR, realtime RT-PCR và chẩn đoán huyết thanh học xác định kháng thể IgG và IgM bằng kỹ thuật ELISA (Enzyme-Linked Immuno Sorbent Assay).

       Hiện nay xét nghiệm chẩn đoán EBOV chủ yếu sử dụng kỹ thuật realtime RT - PCR với nhiều ưu điểm như độ nhạy và độ đặc hiệu cao đã được công nhận là công cụ hữu hiệu trong quản lý bệnh nhân, đánh giá kết quả điều trị và kiểm soát dịch bệnh này, cũng như là một tiêu chuẩn quan trọng để cho bệnh nhân xuất viện trở lại cộng đồng. Trên thế giới, cho đến nay đã có hơn 10 bộ kit khác nhau được chấp thuận thử nghiệm và kiểm định tại hiện trường trong vụ dịch ở các nước Tây Phi, nhưng giá thành và trang thiết bị đi kèm với các xét nghiệm này rất cao, khó đáp ứng được với nhu cầu và khả năng chi trả của ngành Y tế nước ta. Trong khi đó, ở Việt Nam hiện nay vẫn chưa có công bố chính thức nào về nghiên cứu chế tạo kit chẩn đoán nhiễm EBOV. Do đó, để chuẩn bị sẵn sàng các biện pháp ứng phó với trường hợp người nhiễm EBOV xuất hiện ở Việt Nam, TS. BS Hoàng Xuân Sử dẫn đầu một nhóm các nhà nghiên cứu đã tiến hành đề tài: “Nghiên cứu chế tạo bộ kit chẩn đoán EBOV bằng kỹ thuật Realtime - RT - PCR” nhằm các mục tiêu:

  1. Thiết lập được qui trình chế tạo bộ kit chẩn đoán virus Ebola bằng kỹ thuật Realtime - RT - PCR.
  2. Chế tạo được bộ kít chẩn đoán virus Ebola bằng kỹ thuật Realtime - RT - PCR.
  3. Xây dựng tiêu chuẩn cơ sở cho bộ kit Realtime - RT - PCR chẩn đoán virus Ebola.

Một số kết quả nổi bật của dự án đã được nêu cụ thể như sau:

  1. Thiết lập thành công qui trình chế tạo bộ kit chẩn đoán virus Ebola bằng kỹ thuật realtime RT-PCR.

- Thiết lập được qui trình kỹ thuật realtime RT-PCR tối ưu chẩn đoán từng loài virus Ebola

- Thiết lập được qui trình kỹ thuật RT-PCR tối ưu chẩn đoán cả 5 loài EBOV.

- Đã nghiên cứu tổng hợp được RNA in vitro từ plasmid mang đoạn gen NP và một phần đoạn 3’UTR của cả 5 chủng EBOV sử dụng làm mẫu chứng dương cũng như tạo panel độ nhạy xác định ngưỡng phát hiện của kỹ thuật RT-PCR truyền thống và kỹ thuật realtime RT-PCR chẩn đoán EBOV. RNA tổng hợp bằng phiên mã in vitro có sản lượng cao (1010 - 1012 copy/µl), tinh khiết, và ổn định.

  1. Chế tạo thành công bộ kít chẩn đoán virus Ebola bằng kỹ thuật Realtime - RT - PCR.

- Chế tạo được bộ kit realtime RT-PCR chẩn đoán EBOV bao gồm đầy đủ các thành phần đã được tối ưu, độ nhậy là 100% ở nồng độ 22,1 FFU/ml với ZEBOV; 42,1 FFU/ml với SEBOV; 7,8 FFU/ml với BEBOV; 34,8 FFU/ml với TEBOV, và 10,4 FFU/ml với REBOV, và độ đặc hiệu là 100%, độ chính xác cao với hệ số biện thiên CV <10%, độ ổn định là 3 tháng, bảo quản -20oC, 25 bộ, 24 test/bộ.

- Chế tạo được bộ kit RT-PCR chẩn đoán cả 5 loài EBOV, bao gồm cả chủng Zaire gây dịch hiện tại, với độ nhạy và độ đặc hiệu 100%, ngưỡng phát hiện 1000 copy/phản ứng, độ ổn định của bộ kit là 3 tháng, bảo quản -20oC, 10 bộ, 50 test/bộ.

  1. Đã xây dựng thành công tiêu chuẩn cơ sở bộ kit realtime RT-PCR chẩn đoán virus Ebola

- Xây dựng được tiêu chuẩn cơ sở cho bộ kit realtime RT-PCR-EBOV chẩn đoán EBOV gồm 5 chỉ tiêu về yêu cầu về kỹ thuật và phương pháp thử tương ứng kèm hướng dẫn sử dụng kit.

- Xây dựng được tiêu chuẩn cơ sở cho bộ kit RT-PCR phát hiện cả 5 loài EBOV bao gồm cả chủng Zaire gây dịch hiện tại, gồm 6 chỉ tiêu về yêu cầu về kỹ thuật và phương pháp thử tương ứng kèm hướng dẫn sử dụng kit.

Cục Thông tin KH&CN quốc gia

Tin Quốc Tế

Pin mặt trời trong suốt có thể dùng làm mái nhà kính

          Nghiên cứu của Đại học Bang Bắc Carolina cho thấy rau diếp lá đỏ có thể phát triển bình thường dưới ánh sáng đã bị pin mặt trời lọc bớt.

         Công nghệ pin mặt trời trong suốt ngày càng tiên tiến. Do đó, loại pin này có tiềm năng dùng làm vật liệu lắp cửa sổ và xây nhà kính. Để nghiên cứu xem pin mặt trời trong suốt có cản những ánh sáng thiết yếu đối với cây trồng hay không, nhóm chuyên gia tại Đại học Bang Bắc Carolina trồng thử nghiệm rau diếp lá đỏ dưới nhiều bước sóng ánh sáng khác nhau, New Atlas hôm 19/3 đưa tin. Nghiên cứu mới xuất bản trên tạp chí Cell Reports Physical Science.

         Pin mặt trời hữu cơ là nguồn cung cấp năng lượng tái tạo đáng chú ý. Chúng linh hoạt hơn các công nghệ khác, có thể chế tạo dưới dạng trong suốt hoặc nửa trong suốt. Những bước sóng ánh sáng mà chúng thu được cũng có thể điều chỉnh. Trên lý thuyết, điều này sẽ giúp pin mặt trời hữu cơ trở thành vật liệu lý tưởng để làm mái nhà kính. Khi đó, chúng có thể giữ lại một số bước sóng ánh sáng và cho phép số khác chiếu xuyên qua, tới cây cối trồng bên dưới.

         Nghiên cứu mới tập trung vào ảnh hưởng của pin mặt trời đến cây cối trong nhà kính. Các chuyên gia trồng nhiều cụm rau diếp lá đỏ trong nhà kính với thời gian 30 ngày, đủ để chúng phát triển hoàn toàn. Các cụm phát triển với cùng điều kiện nhiệt độ, nước, phân bón và nồng độ CO2, chỉ khác ánh sáng.

         Rau diếp được chia thành 4 cụm, một cụm nhận ánh sáng trắng thông thường và 3 cụm thí nghiệm trồng dưới ánh sáng đã đi qua các lớp lọc khác nhau. Điều này làm thay đổi tỷ lệ ánh sáng từ đỏ đến xanh lam mà cây nhận được, mô phỏng những bước sóng mà pin mặt trời trong suốt sẽ ngăn lại.

        Nhóm nghiên cứu theo dõi các chỉ số thể hiện sức khỏe cây trồng, gồm số lượng và kích thước lá, cân nặng, mức CO2 chúng hấp thụ và lượng chất chống oxy hóa. Kết quả là rau diếp vẫn phát triển bất kể loại ánh sáng chúng nhận được là gì. Điều này cho thấy cây cối có thể sinh trưởng trong nhà kính có mái gắn pin mặt trời trong suốt.

Theo vnexpress.net

Facebook "khoe" đã tự phát triển được vòng đeo tay thông minh

          Chiếc vòng đeo thông minh của Facebook được giới thiệu là có thể đọc tín hiệu điện di chuyển dọc theo cánh tay người dùng, cho phép điều khiển các chức năng của máy tính.

           Facebook đã đặt cược rằng công nghệ thực tế ảo (VR) và tương tác thực tế ảo (AR) sẽ là tương lai của ngành điện toán và công nghệ thế giới. Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra đó là làm cách nào để con người có thể kiểm soát được công nghệ VR và AR mà không cần dùng đến các thiết bị phần cứng rườm rà, như kính thực tế ảo hay các tay cầm điều khiển…

          Mới đây, Facebook đã đưa ra một giải pháp cho vấn đề này, đó là một thiết bị đeo thông minh, với tên gọi EMG, có thể được đeo lên cổ tay của người dùng như một chiếc đồng hồ. Sản phẩm là sự hợp tác giữa phòng nghiên cứu Facebook Reality Labs của Facebook và CTRL-Labs, một công ty khởi nghiệp được Facebook mua lại vào năm 2019.

          EMG được trang bị các cảm biến, có thể ghi nhận các tín hiệu thần kinh vận động được truyền từ cánh tay đến bàn tay, sau đó phân tích các tín hiệu này để hiểu được ý định của người dùng, chẳng hạn khi họ muốn nắm tay lại, di chuyển một ngón tay nào đó hoặc cử động toàn bộ bàn tay…

        Hiện EMG vẫn đang ở trong giai đoạn phát triển, với khả năng phát hiện các cử chỉ đơn giản, như nắm và thả bàn tay, chạm các ngón tay vào nhau…

         Vòng đeo tay EMG là một phần trong tầm nhìn của Facebook về tương lai của ngành điện toán. Ngoài thiết bị đeo thông minh này, Facebook cũng đã nghiên cứu để phát triển một loại thiết bị đeo có khả năng "đọc suy nghĩ" bằng cách đo các tín hiệu não để diễn giải các suy nghĩ và yêu cầu của người dùng.

Theo vtv.vn

Phát hiện thiên hà cách Trái Đất 8 tỷ năm ánh sáng

       Các chuyên gia tìm thấy thiên hà có khả năng là vật thể phát tín hiệu vô tuyến yếu nhất từng ghi nhận nhờ phương pháp thấu kính hấp dẫn.

         Kính viễn vọng vô tuyến là những bộ thu nhận tín hiệu vô tuyến nhạy nhất thế giới, có thể dò tìm các sóng cực yếu phát ra từ vật thể xa xôi trong vũ trụ. Nhờ Đài quan sát Karl G. Jansky Very Large Array (VLA) của Quỹ Khoa học Quốc gia Mỹ (NSF), các nhà thiên văn phát hiện một thiên hà có khả năng là vật thể phát ra tín hiệu vô tuyến yếu nhất từng ghi nhận, SciTechDaily hôm 20/3 đưa tin. Nghiên cứu mới xuất bản trên tạp chí Astrophysical.

         Phát hiện mới nằm trong chương trình VLA Frontier Fields Legacy Survey do nhà thiên văn Eric Murphy tại Đài thiên văn Vô tuyến Quốc gia Mỹ (NRAO) đứng đầu. Chương trình sử dụng các cụm thiên hà xa xôi như những thấu kính tự nhiên để nghiên cứu vật thể xa hơn. Cụm thiên hà đóng vai trò là thấu kính hấp dẫn, dùng lực hấp dẫn của các thiên hà trong cụm để bẻ cong, khuếch đại sóng vô tuyến và ánh sáng phát ra từ những vật thể phía xa.

         Trong hình tổng hợp mới, ảnh vô tuyến VLA được đặt chồng lên ảnh chụp dưới ánh sáng khả kiến của Kính viễn vọng Không gian Hubble. Các vật thể màu đỏ cam là nguồn vô tuyến trong cụm thiên hà MACSJ0717.5+3745. Cụm này cách Trái Đất hơn 5 tỷ năm ánh sáng.

        Ảnh chụp còn giúp các nhà khoa học phát hiện một thiên hà ở phía xa, cách Trái Đất tới 8 tỷ năm ánh sáng. Thiên hà này mang tên VLAHFF-J071736.66+374506.4. Ánh sáng và sóng vô tuyến của nó bị bẻ cong bởi hiệu ứng thấu kính hấp dẫn của cụm thiên hà phía trước.

        Hình ảnh vô tuyến của VLAHFF-J071736.66+374506.4 được thấu kính hấp dẫn khuếch đại hơn 6 lần. Điều này giúp các nhà khoa học có thể tìm ra nó. "VLAHFF-J071736.66+374506.4 có khả năng là vật thể phát tín hiệu vô tuyến yếu nhất từng ghi nhận. Đây cũng chính là lý do chúng tôi muốn sử dụng các cụm thiên hà như thấu kính vũ trụ để hiểu thêm về những vật thể phía sau chúng", Ian Heywood, chuyên gia tại Đại học Oxford, cho biết.

Theo vnexpress.net


Tìm kiếm theo chuyên mục - nội dung - ngày tháng

Tin Nóng
Tin tiêu điểm

Lịch công tác trống

Website liên kết
Thống kê truy cập
Hôm nay: 661
Đã truy cập: 863164