TIN TRONG TỈNH
Lãnh đạo Sở KH&CN Quảng Ninh tham dự Khai giảng Lớp bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý nhà nước về KH&CN cho lãnh đạo Sở KH&CN
Chiều ngày 28/11/2024, tại TP Hạ Long, Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Ninh tổ chức lớp “Bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý nhà nước về KH&CN dành cho lãnh đạo Sở KH&CN năm 2024” tại Quảng Ninh. Lớp học được diễn ra trong thời gian 05 ngày, từ 28/11-02/12/2024.
Dự Lễ khai giảng lớp bồi dưỡng có Thứ trưởng Bộ KH&CN Hoàng Minh; PGS.TS. Vũ Văn Tích - Giám đốc Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo; TS. Trần Đắc Hiến - Cục trưởng, Cục Thông tin KH&CN Quốc gia; TS. Trần Lê Hồng – Cục trưởng, Cục Sở hữu trí tuệ; TS. Nguyễn Thái Hùng, Phó Giám đốc Học viện;…Tham dự có 31 học viên đến từ 12 tỉnh thành trên toàn quốc là Giám đốc, Phó Giám đốc Sở KH&CN và các cán bộ được quy hoạch chức danh Lãnh đạo Sở KH&CN các địa phương.

PGS.TS. Vũ Văn Tích - Giám đốc Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo phát biểu khai mạc tại lớp bồi dưỡng.
Sở KH&CN Quảng Ninh có 12 cán bộ tham gia Lớp bồi dưỡng, đồng chí Nguyễn Mạnh Cường, Tỉnh uỷ viên, Giám đốc Sở KH&CN dự và phát biếu tại buổi khai giảng lớp bồi dưỡng; Cùng tham dự gồm Ban lãnh đạo Sở KH&CN; các đồng chí được quy hoạch chức danh Lãnh đạo Sở.

Đồng chí Nguyễn Mạnh Cường, Tỉnh uỷ viên, Giám đốc Sở KH&CN phát biểu tại lớp bồi dưỡng nghiệp vụ.

Toàn cảnh Lễ khai giảng Lớp bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý nhà nước về KH&CN cho lãnh đạo Sở KH&CN.
Theo đó, các học viên tham gia lớp bồi dưỡng sẽ được các giảng viên của Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo, Cục Thông tin KH&CN Quốc gia, Cục Sở hữu trí tuệ, Uỷ ban Tiêu chuẩn đo lường chất lượng Quốc gia tập huấn 6 chuyên đề: Hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia và đo lường về hoạt động đổi mới sáng tạo quốc gia; đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách Nhà nước về phát triển KH&CN; bảo đảm thông tin cho quản lý hoạt động KH&CN; một số vấn đề trong công tác quản lý hoạt động Sở hữu trí tuệ; một số vấn đề trong quản lý hoạt động tiêu chuẩn đo lường chất lượng; công tác tổ chức, quản lý nguồn nhân lực KH&CN ở địa phương.
Sau khi kết thúc các bài giảng chuyên đề, các học viên sẽ được đi khảo sát thực tế, chia tổ thảo luận nhóm, viết bài thu hoạch.
Lớp bồi dưỡng diễn ra nhằm cập nhật, nâng cao kiến thức và kỹ năng lãnh đạo quản lý KH&CN, đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực thực tiễn đáp ứng nhu cầu nhiệm vụ tham mưu, quản lý, điều hành nhà nước về KH&CN và thực thi công vụ của lãnh đạo Sở KH&CN tại địa phương.
Trung tâm Ứng dụng và Thống kê KH&CN
Bảo đảm thông tin cho quản lý hoạt động KH&CN
Nằm trong khuôn khổ chương trình lớp bồi dưỡng quản lý nhà nước về KH&CN cho lãnh đạo Sở KH&CN năm 2024 (từ 28/11-02/12/2024), chiều ngày 29/11, tại TP Hạ Long lớp bồi dưỡng tiếp tục diễn ra với chuyên đề “Bảo đảm thông tin cho quản lý hoạt động KH&CN”. Chuyên đề do TS. Trần Đắc Hiến - Cục trưởng, Cục Thông tin KH&CN Quốc gia truyền giảng.

TSTrần Đắc Hiến - Cục trưởng, Cục Thông tin KH&CN Quốc gia truyền giảng tại lớp bồi dưỡng chiều ngày 29/11/2024.
Tham dự có các học viên đến từ 12 tỉnh thành trên toàn quốc là Giám đốc, Phó Giám đốc Sở KH&CN và các cán bộ được quy hoạch chức danh Lãnh đạo Sở KH&CN các địa phương.

Quang cảnh lớp bồi dưỡng quản lý nhà nước về KH&CN cho lãnh đạo Sở KH&CN năm 2024, chuyên đề chiều ngày 29/11/2024.
Theo đó, các học viên được nghe truyền giảng 7 nội dung chủ yếu: tổng quan về thời đại bùng nổ thông tin; thông tin phục vụ lãnh đạo quản lý; cơ sở pháp lý của hoạt động thông tin KH&CN; tổ chức bộ máy thông tin, thống kê KH&CN; chuyển đổi số hoạt động thông tin KH&CN; thông tin KH&CN phục vụ nghiên cứu; hệ thống thông tin KH&CN của NASATI.
TS. Trần Đắc Hiến - Cục trưởng, Cục Thông tin KH&CN Quốc gia đã nhấn mạnh: Thông tin phục vụ hoạch định chính sách là thước đo, là bằng chứng của hiệu quả đầu ra. Do đó, người lãnh đạo quản lý phải xác định rõ tầm quan trọng của thông tin. Người lãnh đạo quản lý là một khoa học, đồng thời là một nghệ thuật. Khả năng thu thập, quản lý và xử lý thông tin trong công tác lãnh đạo quản lý là một thước đo đánh giá năng lực của cán bộ lãnh đạo quản lý.
Trung tâm Ứng dụng và Thống kê KH&CN
Sở KH&CN Quảng Ninh họp Hội đồng nghiệm thu nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh
Sáng ngày 02/12/2024, Sở KH&CN Quảng Ninh tổ chức Hội đồng nghiệm thu nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh “Nghiên cứu trồng rừng thâm canh cây Sồi phảng (Lithocapus fisus Champ. Ex Benth) cung cấp gỗ lớn ở Quảng Ninh”. ThS. Phạm Hồng Thái, Phó Giám đốc Sở KH&CN - Chủ tịch Hội đồng chủ trì cuộc họp.

ThS. Phạm Hồng Thái, Phó Giám đốc Sở KH&CN - Chủ tịch Hội đồng chủ trì cuộc họp.
Tham gia phản biện gồm có: Phản biện I – PGS.TS. Lê Xuân Trường, Trưởng khoa Lâm học, Trường Đại học Lâm nghiệp; Phản biện II - PGS.TS. Ngô Đình Quế, Hội Khoa học kỹ thuật Lâm nghiệp Việt Nam; đại diện các Ủy viên Hội đồng Khoa học và Công nghệ cấp tỉnh.

Phản biện I – PGS.TS. Lê Xuân Trường, Trưởng khoa Lâm học, Trường Đại học Lâm nghiệp; Phản biện II - PGS.TS. Ngô Đình Quế, Hội Khoa học kỹ thuật Lâm nghiệp Việt Nam phát biểu tại Hội đồng.
Nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh “Nghiên cứu trồng rừng thâm canh cây Sồi phảng (Lithocapus fisus Champ. Ex Benth) cung cấp gỗ lớn ở Quảng Ninh” do Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam chủ trì thực hiện. ThS. Cao Văn Lạng - Chủ nhiệm nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh.
Tại Hội đồng, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam - đơn vị chủ trì thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học cấp tỉnh đã trình bày tóm tắt báo cáo thuyết minh về tính cấp thiết của nhiệm vụ, dự kiến nội dung triển khai và hiệu quả của nhiệm vụ.

ThS. Cao Văn Lạng, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam – Chủ nhiệm nhiệm vụ trình bày các nội dung báo cáo tại Hội đồng.
Nhiệm vụ được thực hiện 36 tháng (từ T10/2021 đến T9/2024).
Mục tiêu chung của nhiệm vụ là: Lựa chọn được giống Sồi phảng triển vọng tại Quảng Ninh; hoàn thiện được quy trình kỹ thuật nhân giống và trồng rừng thâm canh Sồi phảng; xây dựng 02 mô hình: Sản xuất cây giống, trồng thâm canh kinh doanh gỗ lớn tại Quảng Ninh.
Nhiệm vụ có 05 nội dung nghiên cứu, đó là: Điều tra, đánh giá rừng trồng Sồi phảng đã có và chọn lọc cây trội Sồi phảng tại Quảng Ninh; Xây dựng mô hình sản xuất cây giống và nghiên cứu nhân giống Sồi phảng tại Quảng Ninh; Xây dựng mô hình khảo nghiệm giống Sồi phảng tại Quảng Ninh; Xây dựng mô hình trồng rừng thâm canh Sồi phảng cung cấp gỗ lớn tại Quảng Ninh; Tập huấn chuyển giao kết quả nghiên cứu.
Đơn vị chủ trì thực hiện nhiệm vụ đã điều tra, khảo sát chọn địa điểm và xây dựng được mô hình sản xuất cây giống Sồi phảng quy mô diện tích là 300m2; tiêu chuẩn cây khi xuất vườn có chiều cao từ 50- 70cm, đường kính gốc từ 0,35 – 0,50cm và cây sinh trưởng phát triển tốt.
Nhiệm vụ đã triển khai thực hiện và hoàn thành các kết quả nghiên cứu của nhiệm vụ theo thuyết minh được duyệt: 1-2 xuất xứ Sồi phảng có triển vọng; số lượng cây con đã tạo được là 9.240 cây giống Sồi phảng; 1ha mô hình khảo nghiệm xuất xứ, hậu thế kết hợp vườn giống hữu tính; 3 ha mô hình trồng thâm canh Sồi phảng tại miền Đông; 3 ha mô hình trồng thâm canh Sồi phảng tại miền Tây; 01 quy trình kỹ thuật nhân giống Sồi phảng; 01 quy trình kỹ thuật trồng rừng thâm canh Sồi phảng cung cấp gỗ lớn ở Quảng Ninh; 01 bài báo cáo.
Kết quả của nhiệm vụ là cơ sở để bổ sung loài cây Sồi phảng vào cơ cấu loài cây trồng rừng chủ lực cho năng suất, chất lượng gỗ cao, phục vụ trồng rừng gỗ lớn ở Quảng Ninh; bổ sung các cơ sở khoa học về trồng rừng thâm canh Sồi phảng ở Quảng Ninh và các địa phương có điều kiện tương tự.
Thành công của nhiệm vụ sẽ góp phần nâng cao thu nhập cho người tham gia trồng rừng, sản xuất kinh doanh gỗ rừng trồng Sồi phảng ở Quảng Ninh.

Quang cảnh Hội đồng nghiệm thu nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh.
Hội đồng nghiệm thu nhiệm vụ đánh giá, nhất trí nhiệm vụ xếp loại Đạt. Khẳng định việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật về lâm sinh (để lại vật liệu hữu cơ sau khai thác…) góp phần bảo vệ môi trường, tăng độ phì cho đất, giảm chi phí nhân công, hạn chế được sử dụng thuốc hóa học đặc biệt là thuốc trừ cỏ, từ đó nhằm nâng cao năng suất và chất lượng rừng theo hướng bền vững.
Trung tâm Ứng dụng và Thống kê KH&CN
Sở KH&CN tổ chức họp Hội đồng tư vấn đánh giá, thẩm định kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ không sử dụng ngân sách nhà nước
Chiều ngày 03/12/2024, Sở KH&CN tổ chức họp Hội đồng tư vấn đánh giá, thẩm định kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ (KH&CN) không sử dụng ngân sách nhà nước đối với nhiệm vụ “Nghiên cứu hoàn thiện quy trình công nghệ xử lý chất thải rắn thông thường bằng phương pháp đốt 100% không cần phân loại tại Việt Nam” của Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Việt Long. ThS. Nguyễn Mạnh Cường, Giám đốc Sở KH&CN làm Chủ tịch Hội đồng.

ThS. Nguyễn Mạnh Cường - Giám đốc Sở KH&CN,Chủ tịch Hội đồng phát biểu tại Hội đồng.
Tham dự Hội đồng có các chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành và đại diện các cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực cần thẩm định: GS.TS. Đặng Thị Kim Chi – Nguyên Phó Viện trưởng Viện KH&CN Môi trường, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội; TS. Nguyễn Thế Đồng – Nghiên cứu viên cao cấp, chuyên viên cao cấp, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường; TS. Lương Hữu Thành – Trưởng Bộ môn Sinh học môi trường, Viện Môi trường Nông nghiệp, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, đại diện Lãnh đạo Sở, ngành, địa phương.

TS. Lê Quang Thắng – Chủ tịch HĐQT Công ty Việt Long, đơn vị chủ trì báo cáo kết quả .
Công ty Cổ phần đầu tư và Xây dựng Việt Long (Công ty Việt Long) là chủ Đầu tư dự án Nhà máy xử lý chất thải rắn và sản xuất nguyên liệu tái tạo tại Khe Giang, xã Thượng Yên Công, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. Năm 2021, được Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh cho phép, Công ty Việt Long đã nghiên cứu cải tiến tối ưu hóa quy trình xử lý chất thải rắn thông thường không cần phân loại và sản xuất nguyên liệu tái tạo. Mục đích nghiên cứu của nhiệm vụ là cải tiến và áp dụng quy trình xử lý chất thải rắn thông thường bằng phương pháp đốt không cần phân loại, sản xuất sản phẩm tái chế từ tro xỉ. Đến nay, Công ty Việt Long đã sử dụng kết quả thực hiện nhiệm vụ nêu trên để ứng dụng vào sản suất tại Khu xử lý chất thải rắn Khe Giang thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
Ưu điểm của kết quảnhiệm vụ nghiên cứu: không phát sinh nước rỉ rác thải ra môi trường, rác xử lý trong ngày không cần ủ và lưu trữ rác phù hợp đặc thù chất thải rắn thông thường tại Việt Nam chứa nhiều thành phần phức tạp; thiết bị chế tạo trong nước, dễ vận hành và dàng thay thế; chi phí đầu tư thấp, bào trì, bảo hành lò đốt phù hợp với điều kiện kinh tế của Việt Nam.

GS.TS. Đặng Thị Kim Chi – Nguyên Phó Viện trưởng Viện KH&CN Môi trường, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội - Phản biện 1; TS. Nguyễn Thế Đồng – Nghiên cứu viên cao cấp, chuyên vien cao cấp, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường - Phản biện 2 phát biểu tại Hội đồng.
Các thành viên Hội đồng đánh giá cao sự nỗ lực, cố gắng của đơn vị đã tự bỏ kinh phí để nghiên cứu nhiệm vụ KH&CN trên góp phần vào xử lý và bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Tuy nhiên, để có cơ sở để Sở Khoa học và Công nghệ xem xét cấp Giấy chứng nhận đánh giá và thẩm định kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ không sử dụng ngân sách nhà nước của , Hội đồng yêu cầu nhóm nghiên cứu làm rõ cơ sở khoa học, mục tiêu cụ thể, ý nghĩa của nhiệm vụ và yêu cầu Công ty Việt Long chỉnh sửa, bổ sung thuyết minh nhiệm vụ theo các ý kiến của các thành viên Hội đồng.
Trung tâm Ứng dụng và Thống kê KH&CN
TIN TRONG NƯỚC
Chuyển giao công nghệ từ trường đại học: Con đường còn nhiều gập ghềnh
Dù đã có những bước tiến so với trước, khi số lượng tài sản trí tuệ được đăng ký bảo hộ của các trường đại học đã tăng lên rõ rệt nhưng con đường trong chuyển giao công nghệ vẫn còn nhiều gập ghềnh.

Hệ thống hỗ trợ thực hành tiền lâm sàng nhi khoa dựa trên công nghệ thực tế ảo (VR) của Viện Công nghệ thông tin và Truyền thông, gồm nguyên mẫu (robot) và cơ thể nhi ảo (3D) mô phỏng các trường hợp cấp cứu. Ảnh: Ngô Hà
Hiện nay, các trường đại học đang được kỳ vọng là sẽ cùng với khối các viện nghiên cứu sẽ có nhiều cuộc chuyển giao như vậy cho doanh nghiệp, đem lại tỉ trọng giao dịch công nghệ đạt khoảng 40% tổng số giao dịch công nghệ có nguồn gốc trong nước (mục tiêu đặt ra trong Chương trình phát triển thị trường KH&CN đến năm 2030) nên trong khoảng hơn một thập niên trở lại đây, các trường đều đang rất nỗ lực thúc đẩy các hướng nghiên cứu có thể chuyển giao công nghệ.
Đây cũng là khoảng thời gian Cục Sở hữu trí tuệ không ngừng thúc đẩy, phổ biến kỹ năng khai thác thông tin khoa học công nghệ nói chung, thông tin sở hữu công nghiệp và là thông tin sáng chế, giải pháp hữu ích nói riêng nhằm thúc đẩy quá trình đăng ký sở hữu trí tuệ của viện/trường.
Thông qua kết nối của chương trình TISC (Thúc đẩy hoạt động khai thác thông tin sở hữu công nghiệp và xác lập quyền sở hữu trí tuệ của viện/trường) và IP-HUB (Xây dựng đội ngũ chuyên nghiệp về sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ trong viện/trường), mạng lưới 60 viện/ trường đã được hình thành, trong đó rất nhiều viện/trường đã chủ động phối hợp với Cục Sở hữu trí tuệ tổ chức các hoạt động tập huấn, đào tạo, chia sẻ kinh nghiệm về hoạt động khai thác thông tin sở hữu trí tuệ như Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, trường Đại học Bách khoa Hà Nội, trường Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh, trường đại học Kinh tế Quốc dân, ...
Nhờ đó, mười năm qua đã chứng kiến sự thay đổi rõ rệt về bảo hộ tài sản trí tuệ của các trường đại học, từ chỗ lác đác chỉ có dưới một chục bằng sáng chế và giải pháp hữu ích được bảo hộ đến nay mỗi năm đã có hơn một trăm bằng sáng chế/ giải pháp hữu ích của các trường đại học được bảo hộ (số lượng bằng được bảo hộ tăng khoảng 10 lần,: năm 2023 là 134, so với mức số 0 năm 2008, chỉ trên dưới 10 vào 2009, 2010) và số đơn đăng ký bảo hộ cũng tăng gấp 10 lần, lên tới hơn 350 đơn.
Nhưng đây mới chỉ là bước khởi đầu cho một hành trình dài vượt qua “thung lũng chết” của chuyển giao tài sản trí tuệ từ khối hàn lâm để tài sản trí tuệ ấy đi hết chuỗi giá trị sản phẩm tạo ra thương mại trên thị trường.
Theo Báo Khoa học và Công nghệ
Chọn tạo giống vừng năng suất cao cho khu vực phía Nam
Hai giống vừng mới do Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp duyên hải Nam Trung Bộ (Quy Nhơn, Bình Định) chọn tạo cho năng suất cao hơn tới 44%, đồng thời chịu hạn tốt, thích hợp cho các vùng trồng ở khu vực phía Nam.
Diện tích trồng vừng của Việt Nam hiện chiếm khoảng hơn 56 ngàn ha, chủ yếu ở Bắc Trung bộ, duyên hải Nam Trung bộ, Tây nguyên và đồng bằng sông Cửu Long, với năng suất bình quân 0,84 tấn/ha, chưa tương xứng với tiềm năng năng suất của cây vừng cũng như lợi thế về đất đai và khí hậu ở các vùng trồng.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, vừng là cây trồng cần được ưu tiên lựa chọn vì chịu hạn tốt, thời gian sinh trưởng ngắn, khả năng thích ứng cao. Tuy nhiên, trong nước hiện nay chưa có nhiều nghiên cứu về cây vừng.
Trước thực tế đó, Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp duyên hải Nam Trung Bộ đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu chọn tạo giống vừng năng suất cao cho các tỉnh phía Nam”.
Để tạo nguồn vật liệu chọn tạo, nhóm nghiên cứu đã tiến hành thu thập các giống vừng có thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất, hàm lượng dầu cao, nhiễm trung bình với bệnh đốm lá, phù hợp với cơ phương thức canh tác giới hóa.

Các giống vừng mới được chọn tạo. Ảnh: NNC
Cụ thể, để tạo giống thích hợp với vùng duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, nhóm sử dụng giống CUMS-17 (nhập từ Ấn Độ) và vừng vàng Bình Định làm bố mẹ.
Để tạo giống cho vùng phía Nam, nhóm sử dụng giống VĐCĐ, giống địa phương được thu thập tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, làm mẹ; và giống ĐH1, được phục tráng từ giống vừng địa phương của tỉnh Long An, làm bố.
Giống vừng BĐ.01 được tạo ra từ tổ hợp lai CUMS-17 và vừng vàng Bình Định. Giống vừng HLVĐ78 được chọn lọc từ tổ hợp lai VĐCĐ và ĐH1 theo phương pháp chọn lọc phả hệ (theo dõi và lựa chọn những cá thể có đặc tính di truyền mong muốn thông qua các thế hệ trong một dòng giống).
Các giống mới được trồng khảo nghiệm tại một số tỉnhphía Nam, cùng với một số giống đối chứng như D3, D7, vừng vàng Bình Định, HLVĐ215, HLVĐ107, ĐPAG,…
Kết quả, giống vừng BĐ.01 không bị tách quả, chống đổ ngã tốt, thời gian sinh trưởng từ 83 - 93 ngày, hạt màu vàng, hàm lượng dầu đạt 54,79%. Năng suất trồng trên đất phù sa chủ động nước tưới ở vùng duyên hải Nam Trung Bộ đạt từ 1,47 - 1,72 tấn/ha, tăng 30,6 - 34,8% so với các giống đối chứng. Giống trồng trên đất xám bạc màu phù sa cổ (đất hình thành từ trầm tích phù sa được bồi đắp cách đây hàng ngàn đến hàng triệu năm), không chủ động nước tưới tại vùng Tây Nguyên đạt từ 0,88 - 1,20 tấn/ha, tăng 35,9 - 44,5% so với đối chứng.
Theo Báo Khoa học và Công nghệ
Tăng cường ứng dụng công nghệ trong phòng chống hàng giả
Văn phòng đại diện Cục Sở hữu trí tuệ tại TPHCM đã phối hợp với Công ty Cổ phần Vina CHG tổ chức hội thảo “Chuyển đổi số trong lĩnh vực phòng chống hàng giả và xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ”.
Tại đây, ông Trần Văn Dũng, Phó Cục trưởng Cục nghiệp vụ quản lý thị trường, Tổng Cục Quản lý thị trường, cho biết, cùng với sự phát triển của thương mại điện tử ở Việt Nam, tình trạng hàng giả, hàng kém chất lượng, xâm phạm quyền SHTT được rao bán trên các nền tảng giao dịch trực tuyến, cũng trở nên nhức nhối, ảnh hưởng đến quyền lợi của người tiêu dùng, môi trường đầu tư kinh doanh, gây thất thu ngân sách nhà nước.
Theo ông Dũng, các bộ, ngành, địa phương, lực lượng chức năng, chủ thể tham gia thương mại điện tử cần tăng cường phối hợp, chia sẻ thông tin để giám sát và phát hiện vi phạm hiệu quả hơn.

Chia sẻ của chuyên gia về phòng chống hàng giả tại Hội thảo. Ảnh: KA
Trong khi đó, các chuyên gia đề xuất một số công nghệ phòng chống xâm phạm quyền SHTT và hàng giả, như công nghệ Enterprise Blockchain, một blockchain riêng tư, chỉ những tổ chức, cá nhân được cấp quyền mới có thể tham gia và thực hiện giao dịch trên hệ thống. Công nghệ Enterprise Blockchain giúp truy xuất thông tin nguồn gốc, xác định tính xác thực của sản phẩm, đồng thời ngăn chặn việc thay đổi hoặc giả mạo thông tin.
Ngoài ra, còn có đề xuất tích hợp QR code truy xuất nguồn gốc với công nghệ chống giả RFID (sử dụng sóng radio để tự động nhận diện và thu thập thông tin từ các đối tượng được gắn thẻ RFID), VSI (kết hợp các công nghệ mã hóa, in ấn đặc biệt và quét mã QR để xác thực sản phẩm),…
Bên cạnh việc đầu tư vào công nghệ chống hàng giả, Hội thảo nhấn mạnh, các doanh nghiệp cần có đầy đủ các giấy tờ pháp lý, chứng nhận sản phẩm để bảo vệ quyền lợi cho chính minh và khách hàng.
Theo Báo Khoa học và Công nghệ
TIN QUỐC TẾ
Pin kim cương có thể tồn tại hàng nghìn năm
Một nhóm nghiên cứu ở Anh tạo ra pin kim cương carbon-14 có thể cung cấp điện an toàn với độ bền cao lên tới hàng nghìn năm.

Mẫu vật pin kim cương sử dụng carbon-14. Ảnh: Đại học Bristol
Các nhà khoa học đến từ Đại học Bristol và Cơ quan năng lượng nguyên tử Anh (UKAEA) phát triển thành công pin kim cương carbon-14 đầu tiên trên thế giới. Nguồn năng lượng cách mạng hóa này có khả năng cung cấp điện cho thiết bị trong hàng nghìn năm, mang đến giải pháp bền vững và hiệu quả cho một loạt ứng dụng đa dạng, Interesting Engineering hôm 5/12 đưa tin.
Pin kim cương carbon-14 tận dụng phân rã phóng xạ của carbon-14, đồng vị phóng xạ sử dụng phổ biến trong xác định niên đại hiện vật, để sản xuất điện. Được bao bọc trong kim cương, một trong những vật liệu cứng nhất hiện nay, mẫu pin mới sẽ thu thập phóng xạ an toàn nhằm tạo ra điện.
Carbon-14 phát ra phóng xạ tầm ngắn, được hấp thụ bởi vỏ bọc kim cương, đảm bảo an toàn trong khi sản xuất lượng điện thấp. Pin này hoạt động tương tự pin quang điện, nhưng thay vì biến đổi ánh sáng thành điện, nó sử dụng electron di chuyển nhanh từ phân rã phóng xạ. Kết quả là một nguồn điện lâu dài và đáng tin cậy với tuổi thọ ấn tượng. Do carbon-14 có chu kỳ bán rã 5.700 năm, pin vẫn giữ được một nửa lượng điện ngay cả sau hàng nghìn năm.
Sarah Clark, giám đốc Chu kỳ nhiên liệu tritium ở UKAEA, nhấn mạnh độ bền vững và an toàn của phát minh. "Pin kim cương đem đến cách an toàn và bền vững để cung cấp điện liên tục ở cấp microwatt. Chúng là công nghệ mới nổi sử dụng kim cương nhân tạo để bao bọc lượng carbon-14 nhỏ", Clark cho biết.
Một trong những đặc điểm hứa hẹn nhất của pin kim cương carbon-14 là tính linh hoạt. Loại pin này có thể sử dụng trong một loạt môi trường và thiết bị mà nguồn điện thông thường là bất khả thi. Pin kim cương tương thích sinh học có thể cách mạng hóa lĩnh vực y tế thông qua cung cấp điện cho thiết bị cấy ghép như máy điều hòa nhịp tim, máy trợ thính và thiết bị dùng cho mắt. Khác với pin truyền thống cần thay thế thường xuyên, pin kim cương có thể hoạt động hàng thập kỷ, giúp giảm bớt sự khó chịu và nguy cơ phẫu thuật cho bệnh nhân.
Ngoài ra, mẫu pin mới rất lý tưởng cho nhiệm vụ trong không gian và địa điểm xa xôi trên Trái Đất. Chúng có thể cung cấp điện cho tàu vũ trụ, vệ tinh, thậm chí thẻ theo dõi bằng tần số vô tuyến, giảm chi phí và kéo dài tuổi thọ hoạt động.
Carbon-14 sử dụng trong pin được khai thác từ khối than chì, phụ phẩm ở lò phản ứng phân hạch hạt nhân. Thông qua tận dụng vật liệu, công nghệ giúp giảm chất thải phóng xạ đồng thời tạo ra nguồn năng lượng hữu ích. Anh sở hữu gần 95.000 tấn khối than chì. Quá trình sản xuất bao gồm sử dụng một giàn kết bám plasma, thiết bị chuyên dụng do Đại học Bristol và UKAEA cộng tác phát triển để phát triển cấu trúc kim cương. Phương pháp không chỉ cung cấp khả năng sử dụng chất thải phóng xạ mà còn giảm bớt chi phí và thách thức đối với lưu trữ an toàn.
Theo Vnexpress
Trung Quốc đạt bước đột phá về khả năng 'tàng hình'
Các nhà nghiên cứu Trung Quốc cho biết họ đã phát triển loại vật liệu giúp con người có thể hòa lẫn vào môi trường tương tự loài tắc kè hoa.
Theo SCMP, các nhà nghiên cứu Trung Quốc phát triển loại vật liệu có khả năng thay đổi màu sắc ở cấp độ phân tử dựa trên ánh sáng xung quanh, tạo ra dạng ngụy trang mới giúp con người hòa lẫn vào môi trường tương tự loài tắc kè hoa.

Họa sĩ tàng hình Trung Quốc ẩn mình vào môi trường. Các nhà khoa học nước này đang phát triển loại vật liệu có thể thay đổi màu sắc mà không cần phải tô màu trước như này. (Ảnh: Baidu)
Trong nghiên cứu được công bố tháng trước trên tạp chí khoa học Science Advances, nhóm của ông Wang cho biết họ đặt mục tiêu biến khả năng ngụy trang chủ động trở thành dạng "bản năng" của các vật liệu có thể chuyển đổi màu sắc, trong một quy trình mà họ gọi là quang sắc tự thích ứng (SAP).
Chìa khóa cho sự biến đổi này là một hợp chất phân tử thay đổi cấu trúc khi tiếp xúc với các bước sóng ánh sáng cụ thể. Dưới mắt thường, vật liệu này dường như hòa lẫn hoàn hảo với môi trường xung quanh.
Trong tự nhiên, cả tắc kè hoa và bạch tuộc đều dựa vào khả năng ngụy trang chủ động, thay đổi ngoại hình để hòa nhập vào môi trường. Các hệ thống nhân tạo thường đạt được hiệu ứng này thông qua các thiết bị điện tử phức tạp, dẫn đến chi phí cao và tính khả dụng hạn chế.
Ngược lại, công nghệ SAP mang đến phương pháp đơn giản và hiệu quả hơn để đạt được hiệu ứng ngụy trang thích ứng, mà không cần nguồn năng lượng bên ngoài hoặc thiết bị điện tử phức tạp.
Để minh họa, các nhà nghiên cứu đặt một thùng trong suốt chứa dung dịch SAP vào các hộp acrylic mờ với màu sắc khác nhau - đỏ, xanh lá cây và vàng, cùng mực đen làm đối chứng - và quan sát thấy dung dịch thay đổi màu sắc tương ứng.
Trong một thí nghiệm khác, báo cáo cho biết trong vòng 30 đến 80 giây, thùng chứa có thể hòa vào môi trường xung quanh khi được đặt trong môi trường có màu sắc phù hợp, chẳng hạn như cụm cây màu đỏ, xanh lá cây hoặc vàng.
Công nghệ này cũng có thể được áp dụng dưới dạng lớp phủ. Bằng cách tích hợp polycaprolactone (PCL), các nhà nghiên cứu đã phát triển các màng và lớp phủ SAP có thể phun hoặc bôi lên nhiều bề mặt khác nhau, cho phép ngụy trang thích ứng trên các vật liệu rắn.
Theo nghiên cứu, khả năng thay đổi màu sắc nhanh chóng của vật liệu SAP mở ra những triển vọng mới đầy thú vị trong các lĩnh vực như ngụy trang, mã hóa, cũng như công nghệ tàng hình.
Nhà khoa học Wang lưu ý trong bài báo nghiên cứu rằng vật liệu SAP có tiềm năng lớn trong các hệ thống ngụy trang, lớp phủ thông minh và thiết kế thời trang. Ngoài ra, do các vật liệu này hoạt động hiệu quả trong khoảng nhiệt độ từ -20 đến 70 độ C, chúng cũng phù hợp cho các ứng dụng quân sự và công trình kiến trúc.
Theo VTCNews
Tàu vũ trụ bay xa nhất của NASA đang chết dần
Tàu vũ trụ Voyager 1 ở cách Trái Đất gần 25 tỷ km tiếp tục gặp sự cố do nguồn điện trên tàu ngày càng cạn dần.
Cả hai tàu vũ trụ hoạt động nhờ nhiệt từ plutonium phân rã được biến đổi thành điện. Mỗi năm, tàu thăm dò mất khoảng 4 watt điện, theo NASA, tương đương với một bóng đèn tiết kiệm điện nhỏ. Đội phụ trách bắt đầu tắt bất kỳ hệ thống nào không đóng vai trò chủ chốt để tàu thăm dò bay cách đây 5 năm. Một số hệ thống bao gồm máy sưởi giúp thiết bị khoa học duy trì vận hành ở nhiệt độ phù hợp. Nhưng điều khiến các kỹ sư bất ngờ là tất cả thiết bị tiếp túc hoạt động, ngay cả ở nhiệt độ thấp hơn mức chúng được kiểm tra trước đó nhiều thập kỷ.
Thỉnh thoảng, nhóm kỹ sư gửi lệnh cho Voyager 1 để bật một số máy sưởi và làm ấm những bộ phận bị hư hại bởi bức xạ sau hàng thập kỷ, theo Bruce Waggoner, quản lý bảo hiểm nhiệm vụ Voyager. Nhiệt lượng có thể góp phần đảo ngược hư hại do bức xạ, yếu tố làm giảm hiệu suất các bộ phận của tàu vũ trụ. Nhưng lệnh truyền tới máy sưởi hôm 16/11 kích hoạt hệ thống chống lỗi tự động của tàu. Nếu tàu vũ trụ sử dụng nhiều năng lượng hơn mức có sẵn, nó tự động tắt những hệ thống không cần thiết để bảo tồn năng lượng.

Tàu Voyager 1 đang bay trong không gian liên sao. Ảnh: Sci Tech Daily
Các kỹ sư NASA đã khôi phục thành công liên lạc với tàu Voyager 1 và tàu vũ trụ đang hoạt động bình thường sau khi nguồn cung cấp điện ngày càng cạn gây mất tín hiệu suốt nhiều tuần. Vấn đề bắt đầu vào tháng 10 khi tàu thăm dò cũ kỹ tự động chuyển từ bộ truyền tín hiệu vô tuyến băng tần X và bắt đầu dựa vào bộ truyền tín hiệu vô tuyến băng tần S yếu hơn nhiều để liên lạc với đội phụ trách nhiệm vụ trên Trái Đất. Là tàu vũ trụ ở xa Trái Đất nhất, tàu Voyager 1 hiện nay đang khám phá không gian liên sao ở khoảng cách 24,9 tỷ km, theo CNN.
Tàu thăm dò tự động chuyển bộ truyền tín hiệu khi máy tính trên tàu xác định Voyager 1 còn quá ít điện sau khi đội phụ trách truyền lệnh bật một trong các máy sưởi. Thay đổi bất ngờ ngăn các kỹ sư nhận thông tin về tình trạng của Voyager 1, cũng như dữ liệu khoa học mà thiết bị của tàu thu thập, trong gần một tháng. Với một số giải pháp thông minh để khắc phục vấn đề, đội phụ trách chuyển thành công Voyager 1 và bộ phát tín hiệu vô tuyến băng tần X và nhận dữ liệu hàng ngày trở lại từ giữa tháng 11.
Nhưng đây chỉ là một trong nhiều thách thức mà đội phụ trách nhiệm vụ phải đối mặt trong những năm gần đây khi Voyager 1 và tàu thăm dò song sinh Voyager 2 tiếp tục khám phá không gian hơn 47 năm sau khi cất cánh. Bộ đôi tàu thăm dò phóng cách nhau vài tuần trong năm 1977 tồn tại lâu hơn nhiều so với nhiệm vụ ban đầu, được thiết kế để bay qua những hành tinh lớn nhất trong hệ Mặt Trời qua 4 năm. Hiện nay, chúng đang bay trong không gian liên sao và là tàu vũ trụ duy nhất hoạt động ngoài nhật quyển, bong bóng từ trường và hạt tích điện của Mặt Trời trải rộng qua quỹ đạo của sao Diêm Vương.
Dò hai tàu thăm dò Voyager đã tắt mọi hệ thống không cần thiết ngoại trừ thiết bị khoa học, hệ thống chống lỗi tắt bộ truyền tín hiệu băng tần X và chuyển sang băng tần S do cái sau sử dụng ít điện hơn. Tàu Voyager 1 đã sử dụng bộ truyền tín hiệu băng tần X suốt nhiều thập kỷ, nhưng băng tần S không được dùng từ năm 1981 do tín hiệu yếu hơn nhiều. Đội phụ trách phải tìm kiếm tín hiệu băng tần S cực yếu trước khi họ có thể khôi phục liên lạc với tàu vũ trụ.
Hôm 7/11, các kỹ sư truyền lệnh thành công tới tàu Voyager 1 để chuyển về bộ phát tín hiệu băng tần X và bắt đầu thu thập dữ liệu khoa học vào ngày 18/11. Họ đang tích cực cài đặt lại hệ thống dùng để đồng bộ hóa 3 máy tính của Voyager. Đây là một trong những nhiệm vụ cuối cùng nhằm đảm bảo Voyager trở lại như trước khi gặp vấn đề ở bộ truyền tín hiệu.
Việc thay đổi bộ truyền tín hiệu chỉ là một trong vài sáng kiến mà NASA dùng để vượt qua thách thức về liên lạc với con tàu cũ kỹ trong năm nay, bao gồm khai hỏa động cơ đẩy để giúp ăngten của tàu Voyager duy trì chĩa về hướng Trái Đất và phát triển giải pháp cho trục trặc máy tính khiến luồng dữ liệu khoa học truyền về Trái Đất của tàu thăm dò bị gián đoạn nhiều tháng.
Đội phụ trách Voyager có mô hình máy tính giúp họ dự đoán máy sưởi và thiết bị của tàu vũ trụ sử dụng bao nhiêu điện. Nhưng sự việc bật máy sưởi kích hoạt hệ thống chống lỗi là tín hiệu cho thấy tàu thăm dò này đang đã đến cuối vòng đời và đối mặt tương lai mờ mịt hơn.
Theo Vnexpress.net