Bản tin Khoa học và Công nghệ số 15 năm 2026

16/04/2026 15:36

TIN TRONG TỈNH

Hội nghị trực tuyến phổ biến Thông tư số 06/2026/TT-BKHCN và trao đổi một số nội dung của dự thảo Thông tư hướng dẫn Quyết định số 32/2025/QĐ-TTg

 

Sáng ngày 10/4/2026, Sở KH&CN tham dự Hội nghị trực tuyến do Cục Bưu điện Trung ương chủ trì nhằm phổ biến Thông tư số 06/2026/TT-BKHCN và trao đổi dự thảo Thông tư hướng dẫn Quyết định số 32/2025/QĐ-TTg.

Đồng chí Vũ Thị Kim Chi – Phó Giám đốc Sở chủ trì tại điểm cầu Sở KH&CN. Tham dự hội nghị có đại diện các phòng chuyên môn thuộc Sở; lãnh đạo, chuyên viên các cơ quan, đơn vị quản lý, sử dụng dịch vụ và các doanh nghiệp viễn thông trên địa bàn. Hội nghị cũng được kết nối trực tuyến sâu rộng đến điểm cầu UBND các xã, phường, đặc khu trong toàn tỉnh.

Đồng chí Vũ Thị Kim Chi cùng các phòng chuyên môn đang theo dõi nội dung từ màn hình trực tuyến tại điểm cầu Sở KH&CN.

Hội nghị đã tập trung phổ biến, hướng dẫn các nội dung trọng tâm của Thông tư số 06/2026/TT-BKHCN ngày 30/3/2026 của Bộ trưởng Bộ KHCN quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Quyết định số 33/2025/QĐ-TTg ngày 15/9/2025 của Thủ tướng Chính phủ về Mạng truyền số liệu chuyên dùng phục vụ các cơ quan Đảng, Nhà nước.

Thông tư 06/2026/TT-BKHCN quy định rõ về: Mô hình kết nối, tiêu chuẩn kỹ thuật và yêu cầu an toàn thông tin, an ninh mạng đối với Mạng truyền số liệu chuyên dùng (TSLCD); Công tác quản lý, vận hành và duy trì tính liên tục của hệ thống thông tin phục vụ hoạt động của các cơ quan Đảng và Nhà nước; Trách nhiệm phối hợp giữa Cục Bưu điện Trung ương với các đơn vị chuyên trách địa phương trong việc giám sát, xử lý sự cố và bảo vệ bí mật nhà nước trên mạng TSLCD.

Trong khuôn khổ hội nghị, các đại biểu cũng đã dành thời gian trao đổi, đóng góp ý kiến cho dự thảo Thông tư hướng dẫn Quyết định số 32/2025/QĐ-TTg ngày 08/9/2025 của Thủ tướng Chính phủ về Mạng bưu chính phục vụ cơ quan Đảng, Nhà nước; thảo luận giải đáp một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực tế tại địa phương, đơn vị.

Việc chủ động tham gia và nắm bắt các quy định mới giúp Sở KH&CN thực hiện tốt chức năng tham mưu cho UBND tỉnh trong việc quản lý, vận hành hạ tầng viễn thông và bưu chính chuyên dùng. Đồng thời, thông qua hội nghị, các đơn vị trên địa bàn tỉnh đã kịp thời cập nhật các quy định để triển khai thống nhất, đảm bảo hạ tầng thông tin thông suốt và an toàn, phục vụ đắc lực cho công tác chỉ đạo, điều hành của các cấp chính quyền./.

Tin, ảnh: Mỹ Phương – Trung tâm Ứng dụng KH-CN và ĐMST

 

 

 

Hội nghị quán triệt, triển khai Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 2, khóa XIV

 

Sáng 13/4,  Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng chủ trì tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị.

Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2. Ảnh nguồn Internet.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và các đại biểu dự Hội nghị. Ảnh nguồn Internet.

Hội nghị trực tiếp kết hợp trực tuyến toàn quốc (điểm cầu chính tại phòng họp Diên Hồng, Tòa nhà Quốc hội), kết nối tới các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương và điểm cầu các ban, bộ ngành, địa phương, các cơ quan. Hội nghị được tổ chức phát trực tiếp trên các kênh, sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam và các nền tảng số.

Các đồng chí lãnh đạo tỉnh, lãnh đạo Sở KH&CN, đại biểu tham dự hội nghị tại điểm cầu Quảng Ninh.

Tại điểm cầu tỉnh Quảng Ninh, Ban lãnh đạo Sở KH&CN Quảng Ninh tham dự Hội nghị tại Trung tâm tổ chức Hội nghị tỉnh; điểm cầu Sở KH&CN Quảng Ninh, tham dự Hội nghị có BCH đảng ủy, UBKT đảng ủy, Bí thư, phó bí thư chi bộ trực thuộc, Trưởng, Phụ trách, Phó trưởng phòng, đơn vị thuộc sở, Bí thư Chi đoàn.

Toàn cảnh tại điểm cầu Sở KH&CN Quảng Ninh (Ảnh: Duy Đông)

Hội nghị được tổ chức nhằm thống nhất cao về nhận thức và hành động đối với những chủ trương, quyết sách lớn của Trung ương; giúp cán bộ, đảng viên nắm vững nội dung cốt lõi, điểm mới, trọng tâm của Nghị quyết. Trên cơ sở đó cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch hành động sát thực tiễn, khả thi, hiệu quả; góp phần nâng cao trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu trong tổ chức thực hiện; bảo đảm Nghị quyết được triển khai đồng bộ, thống nhất, thông suốt từ Trung ương đến cơ sở; tạo sự đồng thuận, củng cố niềm tin, khơi dậy quyết tâm chính trị và tinh thần đổi mới, sáng tạo trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển nhanh, bền vững đất nước, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường quốc phòng, an ninh trong giai đoạn mới.

Hội nghị đã quán triệt nội dung cốt lõi, điểm mới, trọng tâm các Nghị quyết, Quy định, Kết luận của Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV gồm: Chuyên đề 1 “Quy định về thi hành Điều lệ Đảng”; Chuyên đề 2 “Nghị quyết về đổi mới, nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng; Quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng”; Chuyên đề 3 “Những nội dung cơ bản của Quy định về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng”; Chuyên đề 4 “Nghị quyết về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn mới”;  Chuyên đề 5 “Kết luận về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nơi công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026-2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng “2 con số” ”.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị quán triệt và triển khai Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV. Ảnh nguồn Internet.

Đặc biệt, hội nghị nghe phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm định hướng những nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới, góp phần thống nhất nhận thức và hành động trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân.

Tin, ảnh: Mỹ Phương – Duy Đông

Trung tâm Ứng dụng KH-CN và ĐMST

 

 

 

 

Quảng Ninh: Ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Chương trình “ Mỗi xã, phường một sản phẩm tỉnh Quảng Ninh” giai đoạn 2026-2030

 

Ngày 10/4/2026, UBND tỉnh Quảng Ninh ban hành Kế hoạch số 161/KH-UBND  về việc triển khai thực hiện Chương trình “ Mỗi xã, phường một sản phẩm tỉnh Quảng Ninh” giai đoạn 2026-2030.

Theo đó, mục đích của Kế hoạch triển khai Chương trình Mỗi xã, phường một sản phẩm (OCOP) trên địa bàn tỉnh, nhằm thực hiện đồng bộ, khai thác có hiệu quả tài nguyên, khơi dậy tiềm năng, lợi thế khu vực nông thôn; phát huy giá trị truyền thống, văn hoá của mỗi vùng miền; đào tạo ra đội ngũ doanh nhân OCOP làm trụ cột cho phát triển kinh tế nông thôn, liên kết, dẫn dắt nông dân sản xuất theo quy chuẩn, tiêu chuẩn đáp ứng với yêu cầu của thị trường, tạo sinh kế, thu nhập cho người dân, góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế nông thôn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2026-2030.

 UBND tỉnh Quảng Ninh yêu cầu các sở, ngành, địa phương bám sát mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp Chương trình OCOP và thực tế tại địa phương, đơn vị, xác định rõ nội dung, nhiệm vụ và các giải pháp phù hợp triển khai. Chủ động và phối hợp tổ chức thực hiện; ưu tiên đưa nội dung Chương trình OCOP vào chương trình công tác trọng tâm hàng năm của địa phương; thúc đẩy phát triển sản phẩm OCOP về số lượng, đảm bảo chất lượng và giá trị gia tăng, nâng cao thu nhập người dân.

Kế hoạch đặt ra những mục tiêu cụ thể đầy kỳ vọng đến năm 2030, trọng tâm vào việc nâng cao chất lượng và thương hiệu sản phẩm: Phấn đấu có thêm khoảng 180 - 200 sản phẩm OCOP được công nhận từ 3 sao trở lên, trong đó khoảng 10 sản phẩm đạt hạng 5 sao cấp quốc gia; Củng cố ít nhất 50% sản phẩm đã được phân hạng; 100% sản phẩm OCOP phải có mã số mã vạch hoặc tem điện tử để truy xuất nguồn gốc; Phấn đấu ít nhất 30% chủ thể OCOP xây dựng được chuỗi giá trị theo tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ, kinh tế tuần hoàn... gắn với vùng nguyên liệu ổn định; 100% chủ thể OCOP tham gia vào các kênh bán hàng hiện đại như siêu thị, thương mại điện tử.

Điểm đáng chú ý trong kế hoạch này là việc tập trung hỗ trợ các chủ thể kinh tế nòng cốt. Tỉnh đặt mục tiêu ít nhất 40% chủ thể OCOP là hợp tác xã và 30% là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đặc biệt, Quảng Ninh khuyến khích và ưu tiên hỗ trợ các chủ thể là phụ nữ, người đồng bào dân tộc thiểu số và các đơn vị tại vùng khó khăn, biên giới, hải đảo tham gia chương trình.

Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, tỉnh Quảng Ninh triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp: Đẩy mạnh tuyên truyền nhằm tạo cảm hứng cho cộng đồng khởi nghiệp từ chính nội lực và văn hóa địa phương; Số hóa quá trình chấm điểm, phân hạng; ứng dụng công nghệ chế biến sâu để gia tăng giá trị sản phẩm; Duy trì các hội chợ OCOP thường niên, xây dựng các "Tuyến phố đi bộ OCOP" và nâng cấp các trung tâm giới thiệu sản phẩm gắn với các khu du lịch trọng điểm;…

UBND tỉnh giao Sở Nông nghiệp và Môi trường làm cơ quan thường trực, điều phối chung. Các đơn vị như Sở Công Thương, Ban Xúc tiến và Hỗ trợ đầu tư chịu trách nhiệm về mạng lưới tiêu thụ và quảng bá thương hiệu. Các địa phương (xã, phường, đặc khu) phải chủ động bố trí nguồn kinh phí và quỹ đất để kêu gọi đầu tư các trung tâm OCOP, tạo điều kiện tốt nhất cho các chủ thể mở rộng sản xuất.

Tin: Mỹ Phương – Trung tâm Ứng dụng KH-CN và ĐMST

 

 

 

 

 

Sở KH&CN ban hành Kế hoạch nâng cao Chỉ số Đổi mới sáng tạo (PII) năm 2026

 

Ngày 10/4/2026, Sở KH&CN ban hành Kế hoạch số 1520/KH-SKHCN về việc thực hiện Kế hoạch số 147/KH-UBND ngày 01/4/2026 của UBND tỉnh về Duy trì và nâng cao Chỉ số Đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII) tỉnh Quảng Ninh năm 2026.

Sở KH&CN xác định mục tiêu nhằm chủ động, kịp thời tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành và tổ chức thực hiện Kế hoạch triển khai Bộ chỉ số đổi mới sáng tạo (PII) trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh năm 2026; Tổ chức thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm theo chức năng, nhiệm vụ của Sở Khoa học và Công nghệ được giao tại Kế hoạch số 147/KH-UBND ngày 01/4/2025 của Ủy ban nhân dân tỉnh; Tăng cường vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị trong việc triển khai các nhiệm vụ, giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao chỉ số thành phần PII do Sở phụ trách; tiếp tục duy trì, phát huy các chỉ số thành phần đạt kết quả cao, đồng thời tập trung khắc phục, cải thiện các nội dung còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu.

Theo đó, Sở KH&CN yêu cầu các phòng, đơn vị trực thuộc Sở chủ động rà soát, đánh giá các chỉ số thành phần của Bộ chỉ số PII có điểm số thấp liên quan đến chức năng, nhiệm vụ được giao; trên cơ sở đó đề xuất kịp thời các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể nhằm khắc phục hạn chế, góp phần nâng cao thứ hạng của tỉnh trong năm 2026; Bám sát định hướng tại Kế hoạch số 147/KH-UBND ngày 01/4/2025 của Ủy ban nhân dân tỉnh; đồng thời cụ thể hóa thành các nội dung, nhiệm vụ phù hợp để tổ chức triển khai thực hiện một cách nghiêm túc, hiệu quả, bảo đảm tính đồng bộ và thống nhất trong toàn Sở;…

Tin: Mỹ Phương – Trung tâm Ứng dụng KH-CN và ĐMST

 

 

 

 

 

Hội thảo khoa học: Định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế tỉnh Quảng Ninh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045

 

Sáng ngày 14/4/2026, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh phối hợp với Sở KH&CN tổ chức Hội thảo khoa học “Định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế tỉnh Quảng Ninh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”.

Dự và chỉ đạo Hội thảo có đồng chí Nguyễn Mạnh Cường – Tỉnh uỷ viên, Bí thư Đảng uỷ, Giám đốc Sở KH&CN. Cùng dự có PGS.TS Bùi Văn Huyền, Viện trưởng Viện Kinh tế - Xã hội và Môi trường, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; đ/c Nguyễn Thị Thu Hà, Phó trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Ninh; diện lãnh đạo các sở, ngành tỉnh Quảng Ninh; Hiệp hội doanh nghiệp; Trường đào tạo cán bộ Nguyễn Văn Cừ, cùng các chuyên gia, các nhà khoa học.

Toàn cảnh Hội thảo.

Hội thảo là hoạt động trọng tâm của nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp đột phá nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2025-2030, tầm nhìn đến năm 2045”, do Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh chủ trì thực hiện. Nhiệm vụ nhằm đánh giá toàn diện thực trạng, từ đó đề xuất các giải pháp thiết thực, phục vụ trực tiếp công tác hoạch định chính sách phát triển của tỉnh.

Đồng chí Nguyễn Mạnh Cường – Tỉnh uỷ viên, Bí thư Đảng uỷ, Giám đốc Sở KH&CN phát biểu khai mạc tại Hội thảo.

Phát biểu khai mạc Hội thảo, đồng chí Nguyễn Mạnh Cường – Tỉnh ủy viên, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Sở KH&CN nhấn mạnh, việc xác định đúng định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng tăng trưởng có ý nghĩa quan trọng trong giai đoạn phát triển mới. Trong giai đoạn tới, Quảng Ninh cần chuyển dịch mô hình tăng trưởng theo hướng dựa vào năng suất, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo; gắn với phát triển kinh tế xanh, kinh tế số và kinh tế biển hiện đại; tạo giá trị gia tăng cao, nâng cao năng lực cạnh tranh, bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế, xã hội và môi trường. Đồng chí đề nghị các chuyên gia, nhà khoa học và đại biểu tập trung làm rõ định hướng, mục tiêu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; xác định các lĩnh vực ưu tiên; đề xuất các giải pháp đột phá về thể chế, cơ chế, chính sách, huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực. Đồng thời, cần xây dựng các giải pháp cụ thể, khả thi cho giai đoạn 2026–2030, phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế của tỉnh, kiến nghị cơ chế, chính sách với Trung ương nhằm mở rộng không gian phát triển.

Tại Hội thảo, đại diện đơn vị chủ trì Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã trình bày báo cáo tổng quan kết quả nghiên cứu đạt được của nhiệm vụ.

Hội thảo đã tập trung trao đổi, thảo luận các nội dung về giải pháp chính sách nâng cao chất lượng kinh tế của tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2025-2030, tầm nhìn 2045 về các khía cạnh: Giải pháp, chính sách thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng gia tăng tỷ trọng các ngành công nghệ cao, có giá trị gia tăng cao, năng suất cao; Giải pháp, chính sách lựa chọn, thu hút nhà đầu tư chiến lược, đầu tư chất lượng cao; Giải pháp, chính sách đột phá gia tăng đóng góp của KH&CN, ĐMST, CĐS vào tăng trưởng kinh tế; chính sách khuyến khích khu vực doanh nghiệp ứng dụng tiến bộ KHCN, ĐMST và CĐS; Giải pháp, chính sách thúc đẩy phát triển các mô hình kinh tế mới, khu Hợp tác qua biên giới; đặc khu kinh tế; khu Thương mại tự do; Giải pháp, chính sách thu hút và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; Giải pháp, chính sách thúc đẩy hợp tác, liên kết phát triển kinh tế biển; Giải pháp, chính sách phát triển kinh tế xanh, tăng trưởng bao trùm.

Bốn tham luận trình bày tại hội thảo đã được các đại biểu đánh giá cao bởi tính thực tế, làm rõ hơn chủ để của Hội thảo.

Đồng chí Nguyễn Thị Thu Hà, Nguyễn Thị Thu Hà, Phó trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Ninh trình bày tham luận tại Hội thảo khoa học.

PGS.TS Bùi Văn Huyền, Viện trưởng Viện Kinh tế - Xã hội và Môi trường, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh trình bày tham luận tại Hội thảo khoa học.

Các đại biểu trình bày tham luận tại Hội thảo.

Hội thảo diễn ra nhằm mục tiêu cập nhật, trao đổi những vấn đề mới phát sinh, những chủ trương, định hướng, chính sách mới nhất liên quan đến chất lượng tăng trưởng, thu thập ý kiến góp ý vào dự thảo nội dung về định hướng và giải pháp để hoàn thiện dự thảo báo cáo nghiên cứu tổng hợp về Giải pháp đột phá nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Quảng Ninh.

Tin, ảnh: Mỹ Phương - Duy Đông

Trung tâm Ứng dụng KH-CN và ĐMST

 

 


 

TIN TRONG NƯỚC

 

Việt Nam đặt mục tiêu đạt 72% hạ tầng Internet thế hệ mới trong năm nay

 

Theo kế hoạch của Trung tâm Internet Việt Nam (VNNIC), trong năm 2026, tỷ lệ sử dụng IPv6 tại Việt Nam đạt 72%, con số này năm 2025 là 67,8%.

IPv6 là phiên bản địa chỉ Internet mới, được phát triển để thay thế IPv4 - nền tảng đang bộc lộ nhiều hạn chế. Việc chuyển đổi sang IPv6 được xem là mở rộng hạ tầng Internet trong giai đoạn tiếp theo.

Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật và 5G phát triển nhanh, số lượng thiết bị kết nối tăng mạnh, nhu cầu về không gian địa chỉ và khả năng mở rộng mạng trở nên cấp thiết.

Theo số liệu năm 2025, Việt Nam đứng thứ 7 thế giới về tỷ lệ chuyển đổi IPv6, đạt 67,8%. Trung tâm Internet Việt Nam cho rằng việc chậm chuyển đổi có thể khiến tổ chức, doanh nghiệp gặp khó khăn khi tham gia môi trường số.

Để đạt mục tiêu 72% trong năm nay, kế hoạch 2026 đưa ra các chỉ tiêu cụ thể cho từng nhóm.

Với các doanh nghiệp viễn thông lớn như VNPT, Viettel, FPT Telecom và MobiFone, yêu cầu tối thiểu 95% thuê bao Internet băng rộng sử dụng IPv6. Các đơn vị phải duy trì tăng trưởng theo từng quý và giám sát thường xuyên hoạt động dịch vụ. Nhóm doanh nghiệp cung cấp Internet khác cần đạt tối thiểu 65% thuê bao IPv6.

Trong khi đó, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ cloud, trung tâm dữ liệu và nội dung số phải sẵn sàng hạ tầng IPv6 cho hệ thống mạng, dịch vụ, đồng thời cấp IPv6 mặc định cho khách hàng. Một yêu cầu khác 100% website cung cấp dịch vụ của các tổ chức, doanh nghiệp phải kích hoạt IPv6.

Hàng trăm thiết bị di động cùng ghi hình tại một sự kiện ở Hà Nội. Ảnh: Nguyễn Đông

Khối cơ quan nhà nước cũng nằm trong lộ trình chuyển đổi. Các bộ, ngành, địa phương được yêu cầu triển khai IPv6 cho trung tâm dữ liệu, cổng thông tin điện tử và các hệ thống công nghệ thông tin.

Cùng với việc mở rộng IPv6, Việt Nam bắt đầu thử nghiệm mô hình IPv6 only - mạng chỉ sử dụng IPv6 thay vì chạy song song với IPv4. Theo kế hoạch, mô hình này sẽ được thí điểm trên mạng băng rộng của doanh nghiệp viễn thông và các mạng nội bộ. Mạng truy cập của khối cơ quan nhà nước cũng sẽ triển khai IPv6 only.

Trung tâm Internet Việt Nam cho biết sẽ hỗ trợ thúc đẩy, triển khai, chuyển đổi IPv6 only cho các đơn vị thông qua công cụ giám sát, dữ liệu đo lường và các chương trình đào tạo kỹ thuật. Năm 2026, hội nghị thường niên VNNIC Internet Conference dự kiến được tổ chức với chủ đề về IPv6 only, nhằm chia sẻ kinh nghiệm triển khai và các mô hình thực tế.

Theo Báo Vnexpress

 

 

 

 

 

 

Việt Nam thử nghiệm mạng Internet 50 Gbps

 

Công nghệ 50G PON được Viettel thử nghiệm cho tốc độ truy cập đạt 41 Gb/giây, sắp triển khai thực tế tại Việt Nam.

Sáng 17/4, đại diện doanh nghiệp cho biết vừa thử nghiệm thành công hai công nghệ truy nhập Internet quang thế hệ mới là 25G PON và 50G PON. Trong đó, với công nghệ 25G PON, tốc độ thực tế đạt 21 Gb/giây, trong khi với công nghệ 50G PON, họ đạt 41 Gb/giây.

Với tốc độ này, một bộ phim 4K dung lượng khoảng 25 GB, đường truyền 41 Gbps có thể tải xong chỉ trong khoảng 5-6 giây trong điều kiện lý tưởng, hay một game, video 8K dung lượng 100 GB hoặc bộ dữ liệu AI vài chục GB, thời gian tải có thể được rút xuống chỉ còn vài giây đến vài chục giây.

Ảnh chụp tốc độ đo của mạng dùng 50G PON, cho tốc độ 41 Gbps. Ảnh: Thái Sơn

25G PON và 50G PON là các công nghệ mạng quang thụ động (PON) thế hệ tiếp theo, cung cấp tốc độ truy cập Internet cực cao, trên lý thuyết có thể đạt lần lượt 25 Gbps và 50 Gbps. Tốc độ này vượt xa giới hạn của các công nghệ hiện tại như GPON (2,5 Gbps) hay XGS-PON (10 Gbps).

Việc nâng băng thông lên ngưỡng hàng chục Gbps thường gặp các thách thức về năng lực làm chủ bài toán đo kiểm và tối ưu hệ thống. "Với kết quả này, Viettel trở thành nhà mạng đầu tiên tại Việt Nam thử nghiệm thành công các công nghệ siêu băng rộng, bám sát lộ trình triển khai của những tập đoàn viễn thông hàng đầu thế giới", đại diện Viettel nói, cho rằng việc thử nghiệm thành công ban đầu cho thấy khả năng đảm bảo mạng lưới của kỹ sư Việt đã có thể song hành với các quốc gia tiên phong.

Về mặt ứng dụng, việc làm chủ công nghệ như 25G, 50G PON được cho là có thể mang lại giá trị trực tiếp cho cả người dùng cá nhân hay doanh nghiệp. Hạ tầng này có thể mở ra các ứng dụng mới như video chất lượng 8K, các ứng dụng thực tế ảo mở rộng (XR), duy trì sự ổn định tuyệt đối cho dịch vụ ngay cả trong những khung giờ cao điểm tại các khu vực mật độ dân cư lớn.

Đối với các tổ chức, đây được kỳ vọng là hạ tầng then chốt để vận hành các mô hình nhà máy thông minh, bản sao số, hay điều khiển thiết bị từ xa theo thời gian thực với độ trễ gần như bằng không. Các doanh nghiệp có thể vượt qua các rào cản về băng thông trước đây để thực hiện các ứng dụng liên quan đến khả năng đồng bộ dữ liệu đám mây, ứng dụng AI cần băng thông lớn.

Viettel chưa tiết lộ thời gian sẽ đưa công nghệ này vào thực tế, nhưng cho biết sau khi hoàn thiện các đánh giá về khả năng vận hành, họ sẽ đưa vào cung cấp các gói dịch vụ siêu băng thông từ 20 Gbps đến 40 Gbps cho các nhóm khách hàng có nhu cầu đặc thù, đồng thời tiếp tục nghiên cứu các cột mốc công nghệ cao hơn như 100G PON.

Nhà mạng này cũng nhấn mạnh việc thành công trong phòng thí nghiệm thời điểm này sẽ là tiền đề cho việc tích hợp vào mạng lưới, sẵn sàng thích ứng với mọi kịch bản phát triển công nghệ số từ nay đến năm 2030.

Theo Báo Vnexpress

 

 

 

 

Công cụ đánh giá năng lực dạy học của mô hình AI tiếng Việt

 

Công cụ do Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông phối hợp cùng Sotatek, DopikAI và tổ chức AI for Vietnam phát triển. Đây là một phần của dự án DeepEdu - sáng kiến về mô hình ngôn ngữ lớn hướng tới xây dựng bộ dữ liệu mở tiếng Việt phục vụ giáo dục, nghiên cứu, phát triển và ứng dụng AI.

Theo nhóm phát triển, phần lớn mô hình AI hiện nay được phát triển theo hướng đa ngôn ngữ, lấy tiếng Anh làm trung tâm, dẫn đến những hạn chế khi áp dụng trong ngữ cảnh giáo dục Việt Nam. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng ứng dụng trong giáo dục - lĩnh vực đòi hỏi không chỉ trả lời đúng mà còn phải giải thích rõ, phù hợp với người học.

Từ thực tế đó, DeepEduBench được xây dựng như một bộ tiêu chuẩn nhằm đo năng lực sư phạm của AI, thay vì chỉ đánh giá kết quả đúng - sai. Công cụ này yêu cầu mô hình có thể giảng giải theo từng bước, điều chỉnh độ khó theo người học, đưa ra ví dụ và bài tập phù hợp, đồng thời phản hồi đúng trọng tâm.

Để đạt điểm cao, các mô hình AI cần thể hiện cách giải thích mạch lạc, ưu tiên tính sư phạm và độ chính xác, đồng thời khuyến khích tư duy sâu thay vì chỉ đưa ra đáp án ngắn gọn. Bộ tiêu chuẩn hiện gồm 13.700 mẫu dữ liệu và đã được sử dụng để đánh giá 52 mô hình AI hàng đầu.

Logo các ứng dụng AI Grok, Claude, ChatGPT, Gemini, DeepSeek, Copilot, Perplexity, AI Hay trên điện thoại. Ảnh: Lưu Quý

Theo đại diện Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông, việc xây dựng một bộ tiêu chuẩn riêng cho AI trong giáo dục giúp tăng tính minh bạch trong đánh giá, đồng thời hỗ trợ các cơ sở đào tạo lựa chọn giải pháp phù hợp với nhu cầu thực tế. Vì thế, Học viện lựa chọn hướng tiếp cận tập trung vào ngôn ngữ bản địa và xây dựng các tiêu chuẩn chung cho AI trong giáo dục.

Trong thời gian tới, đơn vị này dự định cùng các đối tác dự kiến triển khai xây dựng kho dữ liệu tiếng Việt dành cho giáo dục với kích thước lên tới 150 tỷ token. Bộ dữ liệu này giúp các mô hình AI hiểu rõ hơn về văn hóa, bối cảnh và cách diễn đạt tiếng Việt, qua đó nâng cao chất lượng tương tác và độ chính xác khi triển khai trong thực tế.

Tại Việt Nam, AI đang trở thành động lực cho chuyển đổi số. Năm 2025, tỷ lệ ứng dụng AI trong doanh nghiệp Việt tăng 39% so với năm 2024, theo nghiên cứu do AWS công bố. 18% doanh nghiệp Việt, tương đương gần 170.000 doanh nghiệp, đã triển khai AI. Trong số các doanh nghiệp đã ứng dụng, 61% ghi nhận doanh thu tăng, với mức tăng trung bình 16%, trong khi 58% kỳ vọng AI giúp tiết kiệm khoảng 20% chi phí.

Trí tuệ nhân tạo cũng nằm trong 11 nhóm công nghệ chiến lược theo quyết định ban hành tháng 6/2025 của Thủ tướng. Trong bối cảnh đó, các dự án như DeepEdu và công cụ DeepEduBench được kỳ vọng góp phần nâng cao sự hiện diện của tiếng Việt trong hệ sinh thái AI.

Theo Báo Vnexpress

 

 

 

 

 

TIN QUỐC TẾ

 

Mỹ phát triển chip chịu được mức nhiệt 700 độ C

 

Các nhà nghiên cứu Đại học Nam California đã phát triển thành công chip có thể chịu được mức nhiệt 700 độ C, hoạt động tốt ở môi trường khắc nghiệt.

Chip mới do GS Joshua Yang, Jian Zhao từ Đại học Nam California (USC) dẫn đầu có thể hoạt động hoàn hảo ở mức nhiệt 700 độ C (khoảng 1300 độ F) - nóng hơn cả dung nham núi lửa và vượt xa mọi tiêu chuẩn chịu nhiệt trên công nghệ chip hiện nay. "Bạn có thể gọi đây là một cuộc cách mạng", Yang nói. "Đây là loại bộ nhớ chịu nhiệt tốt nhất từng được chứng minh".

Cho đến nay, hầu hết chip nhớ trên các thiết bị điện tử hiện đại đều phải đối mặt cùng một hạn chế: nhiệt độ. Theo ScitechDaily, khi nhiệt độ tăng trên 200 độ C, hiệu năng chip bắt đầu suy giảm, thậm chí khiến hệ thống hỏng hóc hơn. Các kỹ sư đã dành hàng thập kỷ để cố gắng vượt qua giới hạn trên nhưng không mấy thành công.

Trong khi đó, công nghệ mới được nghiên cứu ứng dụng memristor, một linh kiện nano có khả năng vừa lưu trữ thông tin vừa thực hiện các phép tính. Về cấu trúc, nó giống như một chồng lớp nhỏ, với hai điện cực bao quanh một lớp gốm mỏng. Nhóm sử dụng vonfram làm điện cực trên cùng, oxit hafni làm lớp cách điện ở giữa và graphene ở dưới cùng. Vonfram nổi tiếng là kim loại có điểm nóng chảy cao nhất, trong khi graphene lại cực kỳ bền và chịu nhiệt tốt.

Sự kết hợp này mang lại kết quả ấn tượng. Chip giữ được dữ liệu đã lưu trữ trong hơn 50 giờ ở nhiệt độ 700 độ C mà không cần thêm tác động bên ngoài. Nó cũng chịu được hơn một tỷ chu kỳ chuyển mạch ở cùng mức nhiệt độ này, đồng thời hoạt động chỉ với 1,5 V.

Minh họa một mẫu chip trong ngọn lửa. Ảnh: ScitechDaily

Bước đột phá này không phải là mục tiêu ban đầu, thay vào đó chỉ là sự tình cờ. Khi đó, đội ngũ chủ yếu nghiên cứu một thiết kế khác dựa trên graphene nhưng không đạt được hiệu quả như mong đợi. Nhưng khi xem xét khả năng chịu nhiệt, họ nhận ra việc tương tác giữa graphene và vonfram có những "hành vi lạ": các nguyên tử vonfram di chuyển về phía bề mặt graphene không thể bám vào, nên đã di chuyển ra xa thay vì tạo thành đường dẫn điện. Điều này ngăn chặn sự hình thành đoản mạch và giữ cho thiết bị hoạt động ngay cả trong điều kiện nhiệt độ cực cao.

Bằng cách sử dụng kính hiển vi điện tử, quang phổ và mô phỏng ở cấp độ lượng tử, nhóm nghiên cứu đã xác nhận chính xác cách thức hoạt động của quá trình này ở cấp độ nguyên tử. "Sau khi xác định các vật liệu khác có tính chất tương tự, việc sản xuất chip chịu nhiệt dựa trên công nghệ này trên quy mô lớn trở nên dễ dàng hơn", theo Yang. "Mức 700 độ C cũng chưa phải là ngưỡng cuối cùng".

Theo chuyên gia này, ngoài ứng dụng cho thiết bị điện tử ở môi trường khắc nghiệt hay các trung tâm dữ liệu trên Trái Đất, công nghệ mới có tiềm năng sử dụng cho các cuộc thám hiểm không gian. Chẳng hạn, sao Kim có nhiệt độ bề mặt nằm trong phạm vi 700 độ C, và các sứ mệnh trước đây đã thất bại một phần vì những thiết bị điện tử thông thường không thể chịu được sức nóng này.

Dù kết quả đầy hứa hẹn, nhóm nghiên cứu cho biết công nghệ này vẫn còn ở giai đoạn sơ khai. Yang nhấn mạnh, chỉ riêng bộ nhớ là chưa đủ để xây dựng một hệ thống máy tính hoàn chỉnh. Các mạch logic chịu nhiệt độ cao cũng cần được phát triển và tích hợp. Ngoài ra, việc chế tạo hiện tại được thực hiện thủ công ở quy mô rất nhỏ trong phòng thí nghiệm, vì vậy việc mở rộng quy mô sản xuất sẽ cần thời gian.

Theo Báo Vnexpress

 

 

 

 

AI tìm kiếm những hành tinh giống Trái Đất

 

Các nhà nghiên cứu phát triển thuật toán giúp xác định 44 hệ sao có khả năng tồn tại hành tinh giống Trái Đất nằm trong vùng ở được quanh sao chủ.

Một thuật toán máy học được huấn luyện trên các hệ hành tinh nhân tạo, giúp phát hiện hơn 40 ngôi sao có khả năng cao chứa hành tinh đá trong vùng ở được, theo Space. "Mô hình xác định 44 hệ sao nhiều khả năng chứa hành tinh giống Trái Đất chưa được phát hiện. Nghiên cứu tiếp theo xác nhận khả năng chứa hành tinh giống Trái Đất của những hệ sao này về mặt lý thuyết", Jeanne Davoult, nhà thiên văn học tại Cơ quan Hàng không vũ trụ Đức DLR, cho biết.

Các hành tinh giống Trái Đất (có khối lượng tương tự và nằm trong vùng ở được quanh sao chủ) thường được tìm thấy ngẫu nhiên, thông qua những khảo sát lớn quan sát hàng nghìn ngôi sao để phát hiện hành tinh quá cảnh. Tuy nhiên, giới thiên văn học mong muốn tăng tỷ lệ tìm thấy hành tinh lớn cỡ Trái Đất nằm trong vùng ở được, do đó cần một phương pháp tìm kiếm ngôi sao sát với mục tiêu hơn.

Thuật toán AI mới giúp phát hiện những ngoại hành tinh có thể phù hợp với sự sống. Ảnh: ESO

Đó là điều thôi thúc Davoult phát triển thuật toán khi làm việc tại Đại học Bern, Thụy Sĩ. Giống như tất cả mô hình dựa trên thuật toán học máy, học hỏi để xác định khuôn mẫu và đưa ra dự đoán, nó cũng được huấn luyện trên dữ liệu. Dù giới nghiên cứu đã phát hiện gần 6.000 ngoại hành tinh tính đến nay, thông tin về chúng không đầy đủ và chưa đủ để huấn luyện thuật toán.

Vì vậy, Davoult và đồng nghiệp tại Đại học Bern, Romain Eltschinger và Yann Alibert, sử dụng mô hình khác có thể mô phỏng thế giới dựa trên mọi hiểu biết về hệ hành tinh. Mô hình Bern về Hình thành và Tiến hóa Hành tinh đã phát triển liên tục tại Đại học Bern từ năm 2003 và không ngừng cải tiến khi có thêm dữ liệu và mô hình lý thuyết mới.

Mô hình Bern tạo ra 53.882 hệ hành tinh mô phỏng quanh 3 loại sao khác nhau: sao G giống Mặt Trời, sao lùn đỏ có khối lượng bằng một nửa Mặt Trời và nhóm sao lùn đỏ thứ hai chỉ bằng 1/5 khối lượng Mặt Trời. Thuật toán rà soát những hệ hành tinh mô phỏng này để phát hiện kiểu mẫu hoặc mối tương quan, liên hệ sự tồn tại hoặc không tồn tại của hành tinh lớn cỡ Trái Đất trong vùng ở được với cấu trúc hệ hành tinh khác nhau. Một số mối tương quan rõ ràng hơn các loại khác.

Cụ thể, khối lượng, bán kính và chu kỳ quỹ đạo của hành tinh bên trong nhất có thể là dấu hiệu quan trọng cho thấy hệ thống có chứa hành tinh lớn cỡ Trái Đất hay không. Ví dụ, Davoult nhận thấy xung quanh sao G như Mặt Trời, khả năng tồn tại hành tinh trong vùng ở được tăng lên nếu bán kính của hành tinh ở trong cùng lớn hơn 2,5 lần bán kính Trái Đất hoặc chu kỳ quỹ đạo của nó lớn hơn 10 ngày.

Với kiến thức về những tương quan này, thuật toán đã được huấn luyện thành công trên dữ liệu mô phỏng. Thuật toán đạt độ chính xác lên tới 0,99, nghĩa là 99% các hệ thống xác định bởi mô hình máy học có ít nhất một hành tinh giống Trái Đất.

Tự tin vào khả năng nhận biết tương quan của thuật toán, nhóm nghiên cứu áp dụng nó vào các quan sát thực tế, cung cấp 44 hệ hành tinh ứng viên có khả năng cao chứa hành tinh lớn cỡ Trái Đất nằm trong vùng ở được của sao. Các nhà thiên văn giờ đây có thể theo dõi những mục tiêu này thay vì tìm kiếm một cách ngẫu nhiên.

Thuật toán này sẽ thực sự chứng tỏ giá trị trong tương lai. Nhiệm vụ PLATO của Cơ quan Vũ trụ châu Âu dự kiến phát hiện hàng nghìn hành tinh quá cảnh. Bằng cách áp dụng thuật toán vào phát hiện của PLATO, nó sẽ thu hẹp số lượng hàng nghìn hệ xuống còn vài hệ có khả năng cao hỗ trợ một hành tinh giống Trái Đất, cho phép các nhà thiên văn tìm ra chúng nhanh chóng và hiệu quả hơn. Kết quả nghiên cứu được công bố trong số tháng 4/2025 của tạp chí Astronomy & Astrophysics.

Theo Báo Vnexpress

 

 

 

Hệ thống AI giúp chế tạo robot theo mô tả

 

Đại học Duke phát triển Text2Robot, hệ thống AI tạo sinh có thể chuyển đổi câu lệnh viết bằng ngôn ngữ tự nhiên thành robot hoạt động được.

Hệ thống cho phép người không chuyên cũng có thể thiết kế và chế tạo robot chỉ bằng những mô tả đơn giản, Interesting Engineering hôm 10/4 đưa tin. "Chế tạo một robot từ đầu là điều bất khả thi với đa số mọi người do sự phức tạp của việc tích hợp AI, thiết kế cơ khí và các ràng buộc chức năng.

Một mẫu robot do AI chế tạo dựa theo mô tả. Ảnh: Trường Kỹ thuật Pratt thuộc Đại học Duke

Hệ thống hoạt động theo quy trình gồm nhiều giai đoạn kết hợp chặt chẽ. Đầu tiên, một mô hình ngôn ngữ lớn phân tích những mô tả bằng ngôn ngữ tự nhiên của người dùng, ví dụ: robot 6 chân có thể đi qua địa hình gồ ghề. Đầu vào này được đưa vào một module tạo sinh giúp chuyển văn bản thành mô hình 3D, tạo ra mô hình kỹ thuật số sơ bộ của robot. Lúc này, hình dạng robot được thiết kế theo chức năng.

Tiếp theo, hệ thống đưa vào các ràng buộc vật lý cần thiết để robot hoạt động được trong thực tế, cân nhắc khả năng di chuyển của khớp, vị trí cảm biến và bộ truyền động, cách phân bố trọng lượng và khả năng in 3D. Thiết kế ảo sau đó được đưa vào nhiều môi trường mô phỏng để kiểm tra và điều chỉnh khả năng di chuyển. Các thuật toán học tăng cường cùng với chiến lược tiến hóa giúp tối ưu hóa cả hình thái vật lý lẫn phần mềm điều khiển của robot, tạo ra những chuỗi chuyển động vừa hiệu quả vừa ổn định.

Hệ thống hoạt động theo quy trình gồm nhiều giai đoạn kết hợp chặt chẽ. Đầu tiên, một mô hình ngôn ngữ lớn phân tích những mô tả bằng ngôn ngữ tự nhiên của người dùng, ví dụ: robot 6 chân có thể đi qua địa hình gồ ghề. Đầu vào này được đưa vào một module tạo sinh giúp chuyển văn bản thành mô hình 3D, tạo ra mô hình kỹ thuật số sơ bộ của robot. Lúc này, hình dạng robot được thiết kế theo chức năng.

Tiếp theo, hệ thống đưa vào các ràng buộc vật lý cần thiết để robot hoạt động được trong thực tế, cân nhắc khả năng di chuyển của khớp, vị trí cảm biến và bộ truyền động, cách phân bố trọng lượng và khả năng in 3D. Thiết kế ảo sau đó được đưa vào nhiều môi trường mô phỏng để kiểm tra và điều chỉnh khả năng di chuyển. Các thuật toán học tăng cường cùng với chiến lược tiến hóa giúp tối ưu hóa cả hình thái vật lý lẫn phần mềm điều khiển của robot, tạo ra những chuỗi chuyển động vừa hiệu quả vừa ổn định.

Điều khiến Text2Robot trở nên khác biệt là khả năng đi từ mô phỏng đến thực tế. Các thiết kế robot có thể được sản xuất bằng công nghệ in 3D phổ biến và linh kiện có sẵn trên thị trường. Text2Robot cho phép các cá nhân hoặc tổ chức nhỏ tự chế tạo nhanh nguyên mẫu robot hoạt động được mà không cần kiến thức sâu về lĩnh vực này.

Dù vẫn đang trong giai đoạn phát triển, Text2Robot mang đến triển vọng rằng trong tương lai, thiết kế robot có thể trở nên đơn giản như viết tài liệu hay thiết kế webpage. Những ứng dụng tiềm năng bao gồm robot hỗ trợ cá nhân hóa, công cụ giáo dục, hệ thống trinh sát chiến trường, drone giám sát môi trường và nhiều ứng dụng khác, tất cả đều được tạo ra từ ngôn ngữ tự nhiên.

Theo Báo Vnexpress


Tìm kiếm theo chuyên mục - nội dung - ngày tháng

Tin Nóng
Tin tiêu điểm

Lịch công tác trống

Website liên kết
Thống kê truy cập
Hôm nay: 901
Đã truy cập: 2899289