Phương án bảo vệ trọng điểm chống lũ, bão cấp tỉnh năm 2021 cho tuyến đê Hà Nam, thị xã Quảng Yên

09/08/2021 09:35

      Đê Hà Nam, thị xã Quảng Yên là tuyến đê rất quan trọng, có nhiệm vụ bảo vệ toàn bộ 08 xã, phường nằm trong đảo Hà Nam; trong trường hợp xảy ra sự cố về đê điều sẽ gây hậu quả rất nghiêm trọng. Để đảm bảo an toàn cho tính mạng, tài sản của người dân trên đảo; cần có phương án bảo vệ trọng điểm này phù hợp với tình hình thực tế của địa phương, đơn vị và triển khai nghiêm túc để chủ động xử lý đạt hiệu quả cao trong trường hợp xảy ra sự cố.

     

Đê Hà Nam là tuyến duy nhất của tỉnh đạt tiêu chuẩn đê cấp III,

đã được đề nghị đưa vào Danh mục công trình quan trọng, ảnh hưởng đến an ninh quốc gia

      Hà Nam là vùng đảo thuộc thị xã Quảng Yên, bao quanh đảo là tuyến đê dài 33,67Km, với diện tích bảo vệ là trên 5.100 ha và gần 6 vạn người sinh sống trên đảo. Cao độ địa hình tự nhiên trong đảo thấp hơn mực nước triều cường khoảng 1,5÷2,5m. Đây là tuyến đê cấp III duy nhất trên địa bàn Tỉnh.

      Năm 1955, do thuỷ triều cao kết hợp bão lớn, đã làm nhiều đoạn trên tuyến đê này bị vỡ, theo các tài liệu thu thập được đê vỡ làm khoảng 400 người chết, ruộng vườn nhà cửa bị ngập chìm trong nước mặn, nhiều năm sau mới khôi phục lại sản xuất. Năm 1992, cơn bão số 01 ngày 29/6 đổ bộ vào khu vực đã làm sạt 1/3 thân đê trên chiều dài khoảng 500 m tại khu vực K14+500, rất may là sau khi đê bị sạt thì bão đã suy yếu nên không gây ra vỡ đê. Tuy đê không bị vỡ, nhưng những sự cố nhỏ như sạt lở mái đê, xô sạt mái kè hầu như năm nào cũng xảy ra. Trên tuyến Sông Rút, do sự phức tạp về địa hình nên bờ sông thường hay xói lở, ngoài việc gia cố chống xói, nhiều đoạn đã phải lăn đê vào phía trong đồng để đảm bảo an toàn cho đê. Hiện nay bờ tuyến sông Rút tương đối ổn định, kể từ năm 2006 trở lại đây hiện tượng xói lở hầu như không xuất hiện.

Hiện nay toàn tuyến đê đã được đầu tư nâng cấp tổng thể

      - Đoạn từ K1 đến K27: Mái ngoài kè bằng cấu kiện bê tông/kè đá hộc/đá hộc trong khung dầm; tường chắn sóng được bọc lại/xây mới bằng bê tông cốt thép cao trình từ (+5,3 ¸ 5,5m); đỉnh đê và cơ đê phía đồng đổ bê tông M250 (cơ rộng 5 ¸ 6m); mái cơ phía đồng lát bê tông/trồng cỏ trong khung dầm BTCT;

      - Đoạn từ K27 đến K31: Mái ngoài kè đá cũ; tường chắn sóng xây mới bằng bê tông cốt thép cao trình +5,3m; đỉnh đê phía đồng bọc bê tông dày 0,1m, đỉnh đê phía biển gia cố bằng đá hộc xây nối với mái kè đá cũ; cơ đê trong đồng rộng 6,0 (bê tông 5m, lề đất 1,0m);

        - Đoạn từ K31 đến K1: Tường chắn sóng được bọc lại bằng bê tông cốt thép cao trình +5,3; Đỉnh đê và cơ đê phía đồng đổ bê tông M250 (cơ rộng 5m). Mái ngoài kè đá cũ;

Trên tuyến đê Hà Nam có 09 cống dưới đê. Từ 2015 đến nay, 09/09 cống đều đã được sửa chữa, xây mới. Hiện tại các cống hoạt động tốt, đảm bảo phục vụ tưới, tiêu, ngăn mặn và thoát lũ

      Mặt khác, để đảm bảo an toàn cho đảo Hà Nam, trên địa bàn đảo đã xây dựng tuyến đê phân vùng (đê Ba Xã, nối từ K10+120 đến K25+850) ngăn đảo Hà Nam thành 2 vùng để giảm thiểu khả năng ảnh hưởng trong trường hợp xảy ra sự cố tại các điểm xung yếu K10 đến K16 và K20+240 đến K23. Ngoài ra, trong những năm gần đây, một số tuyến đường giao thông trong khu vực mới được xây dựng và đưa vào sử dụng như tuyến đường cao tốc Hạ Long – Hải Phòng (nối từ K7+650 đến K26+900) chạy ngang qua đảo Hà Nam; tuyến đường nối Khu công nghiệp Nam Tiền Phong (K16+650) với cao tốc Hạ Long – Hải Phòng đã chia đảo Hà Nam thành các phân khu nhỏ và bổ sung thêm những tuyến đường, phương án quan trọng để thực hiện cứu hộ, cứu nạn cho đê Hà Nam trong trường hợp phải hộ đê cũng như di dân trên đảo.  

      Về khả năng chống bão của tuyến đê: Hiện nay toàn tuyến đã được nâng cấp và có khả năng chống được bão cấp 10, tần suất triều cường 5%.

      Để đảm bảo phương án bảo vệ theo phương châm “4 tại chỗ”, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 700/QĐ-UBND ngày 08/3/2021 về kiện toàn Ban Chỉ huy Phòng, chống thiên tai – Tìm kiếm cứu nạn và Phòng thủ dân dự tỉnh Quảng Ninh;

        Công tác chuẩn bị: Ban Chỉ huy Phòng, chống thiên tai – Tìm kiếm cứu nạn và Phòng thủ dân dự tỉnh Quảng Nin ban hành Quyết định số 33/QĐ-BCH ngày 10/3/2021 về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Ban Chỉ huy, trong đó phân công rõ nhiệm vụ cụ thể của từng thành viên. Các  Sở, ngành, địa phương đều đã kiện toàn Ban chỉ huy Phòng, chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn năm 2021 tại đơn vị.

       Chỉ huy tại chỗ: Ban Chỉ huy Phòng, chống thiên tai – Tìm kiếm cứu nạn và Phòng thủ dân dự tỉnh tỉnh (gồm lãnh đạo tỉnh và các đơn vị có liên quan) xuống kiểm tra và cùng địa phương chỉ đạo phòng chống bão; đối với địa phương: Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND thị xã phụ trách Nông nghiệp và phòng Kinh tế có mặt ở Sở chỉ huy đặt tại Hạt Quản lý đê Quảng Yên. Cử người kiểm tra trên đê, thông tin kịp thời tới các xã phường, các đơn vị để đảm bảo đối phó với mọi tình huống khi có bão. Lực lượng quản lý đê chuyên trách có mặt tại vị trí trên đê được phân công; Chủ tịch UBND xã là Trưởng ban chỉ huy PCTT của xã phải thường trực chỉ đạo tại vị trí được phân công. Ngoài ra, tùy theo diễn biến và mức độ cụ thể của từng cơn bão, đoàn công tác của các đồng chí lãnh đạo Tỉnh ủy, UBND tỉnh, các đồng chí lãnh đạo tỉnh là thành viên trong Ban Chỉ huy sẽ trực tiếp kiểm tra và chỉ đạo công tác phòng chống bão của địa phương.

       Lực lượng và phương tiện tại chỗ:

      - Lực lượng của các cơ sở tại chỗ gồm có lực lượng quân đội, thanh niên xung kích, dân quân, nhân dân tại các xã, phường. Lấy lực lượng quân đội làm nòng cốt cho công tác PCTT & TKCN tại các vị trí trọng điểm, cụ thể: Lực lượng tại chỗ gồm DQTV của 08 xã, phường trên khu vực đảo Hà Nam; Lực lượng cơ động là DQTV của các xã, phường còn lại của thị xã Quảng Yên;

      - Các lực lượng vũ trang, căn cứ Kế hoạch phòng, chống thiên tai và TKCN của Bộ CHQS tỉnh Quảng Ninh, lực lượng bố trí bảo vệ vùng trọng điểm đê Hà Nam gồm: Lực lượng Bộ CHQS Tỉnh - quân số 100 đồng chí; Lực lượng chi viện hiệp đồng, Lữ đoàn 147/HQ – 100đ/c, phân công bảo vệ đoạn từ K10 đến K20; Sư đoàn 395/QK3 – 200đ/c phân công bảo vệ đoạn từ K20 đến K0 và K0 đến K10; các đơn vị quân đội khác đóng trên địa bàn – huy động bảo vệ tùy vào tình hình cụ thể. Ngoài ra có lực lượng của Tiểu đoàn 83/Trung đoàn 238/Sư đoàn 363/PKKQ và các đơn vị quân đội khác do Ban CHQS thị xã Quảng Yên hiệp đồng.

       - Phương tiện: Bộ CHQS Tỉnh - điều động 02 xe tải; Lữ đoàn 147/HQ – 02 xe tải, 03 xuồng cao tốc; Sư đoàn 395/QK3 – 02 xe tải; huy động bổ sung nếu có nhu cầu phát sinh và một số dụng cụ cần thiết khác được huy động tùy theo tình hình cụ thể.

TT

Phường/xã

Vị trí đê

Chiều dài (m)

Người trực tiếp

Người dự phòng

1

2

3

4

5

6

7

8

Nam Hoà

Cẩm La

Phong Hải

Liên Hoà

Tiền Phong

Liên Vị

Phong Cốc

Yên Hải

K30+900 - K3+420

K3+420 – K5+305

K5+305 – K9

K9 - K14+750

K14+750 – K18

K18 - K23

K23 - K25+940

K25+940 - K30+900

6.190

1.890

3.700

5.750

3.250

5.000

2.940

4.960

300

300

300

300

300

350

300

350

1.000

1.000

1.000

1.000

500

1.000

1.000

1.000

 

Cộng

 

33.670

2.500

7.500

Phân chia khu vực và bố trí lực lượng DQTV của các phường/xã

        Vật tư tại chỗ: Bố trí tại kho tại phường Phong Hải và các bãi tập kết ngoài hiện trường

      Hậu cần tại chỗ: Kinh nghiệm trong chống bão của những năm vừa qua tại nơi các lực lượng chống bão, cần phải có bộ phận phục vụ nước uống tại chỗ, các đơn vị phải tự lo phục vụ ăn tại hiện trường, nhất là trong đêm lao động vất vả, không phục vụ hậu cần tốt sẽ mất sức chiến đấu. Vận động nhân dân tại địa phương giúp đỡ, động viên các lực lượng về công tác hậu cần, công việc này cần được tổ chức tốt tại các địa phương. Để chủ động trong công tác hậu cần, thực hiện phương châm tại chỗ cần thống nhất như sau:

      - Các lực lượng quân đội, thanh niên xung kích…khi thực hiện lệnh huy động, các đơn vị cần chuẩn bị đầy đủ lương thực, thực phẩm ít nhất là 03 ngày.

     - Vào mùa mưa bão, nhân dân trên đảo Hà Nam, thị xã Quảng Yên cần chủ động chuẩn bị dự phòng những nhu yếu phẩm như lương khô, mì tôm, nước lọc để uống và những vật tư y tế như thuốc cảm sốt, tiêu chảy..

     - Ban Chỉ huy PCTT, TKCN các cấp (tỉnh, huyện, xã) chủ động kinh phí sẵn sàng phục vụ các lực lượng PCTT và ứng cứu khi cần thiết.

       Khi tình huống xảy ra vượt quá khả năng, Ban Chỉ huy PCTT, TKCN&PTDS tỉnh sẽ huy động mọi nguồn lực để đảm bảo tính mạng và tài sản của nhân dân.

Sự giúp đỡ, động viên của nhân dân tại địa phương tạo tâm lý vững vàng cho các lực lượng lực lượng chi viện

      Triển khai phương án khi bão đổ bộ.

      Phương án di dân tại chỗ (Phương án ưu tiên): Khi gió bão đổ bộ dự báo lớn hơn cấp 10 đến nhỏ hơn cấp 12 (Thủy triều vào lúc con nước kém) tổ chức tiến hành di dân tại chỗ, nội dung của phương án này là di dân ở những vùng trũng thấp, những nhà không kiên cố thuộc các xã phường Tiền Phong, Liên Hòa, Liên Vị đến những nhà cao tầng, trụ sở cơ quan, trường học, trạm xá của các xã. Để thuận tiện trong việc triển khai di dân, các xã trên đã có văn bản thống kê từng hộ gia đình cần sơ tán, hộ gia đình có khả năng tiếp nhận người, có chữ ký xác nhận của chủ hộ. Khi có tình huống xấu xảy ra, sau khi phát lệnh di dân, các hộ này chủ động di dời.

Hiện nay, toàn bộ tuyến đê Hà Nam đã được nâng cấp hoàn chỉnh đảm bảo chống được bão cấp 10 với tần suất triều cường 5%. Do vậy, trong trường hợp gió bão nhỏ hơn cấp 10 không phải tiến hành di dân

      Phương án di dân đi nơi khác: Khi bão đổ bộ có sức gió cấp ≥ 12 kết hợp triều cường, dự báo có khả năng không giữ được đê, cần thiết phải di dân. Chuyển dân khu vực Hà Nam sang các địa phường của Hà Bắc, quy định như sau: (1) Theo đường tỉnh 338B qua cầu sông Chanh: Phường Nam Hoà, Yên Hải, tập kết sang phường Quảng Yên; Xã Cẩm La tập kết sang phường Yên Giang; (2) Theo đường cao tốc Hạ Long – Hải Phòng: Xã Liên Vị, Tiền Phong tập kết sang phường Hà An; Xã Phong Hải, Phong Cốc, Liên Hoà tập kết sang phường Tiền An. Sở Giao thông vận tải, UBND thị xã Quảng Yên có trách nhiệm huy động, bố trí phương tiện để di dân khi có yêu cầu.

      Quy định nơi neo đậu thuyền tránh bão: Các nơi neo đậu tàu thuyền tránh trú bão trên khu vực cụ thể như sau:

STT

Địa điểm

Diện tích ước tính
(km2)

Tọa độ

Mực nước trung bình
(m)

1

Bến Nam Hòa

0,009

106047'55"; 20056'07"

2,7

2

Bến Cống Vông

0,04

106048'24"; 20055'47"

2,4

3

Bến Cống Mương

0,06

106049'50"; 20054'45"

3,5

4

Bến Hà An

0,23

106050'41"; 20054'27"

3,8

5

Bến Nhà Máy sứ Quảng Yên

0,20

106049'20"; 20056'05"

2,1

6

Bến Giang

0,28

106052'56"; 20055'53"

3,0

      Ngoài ra các thuyền kích cỡ nhỏ hơn 6m dài có thể kéo lên bờ hoặc di chuyển vào trong đê qua các bến kéo thuyền.

      Thông tin liên lạc: Trong bão phải thường xuyên gửi thông tin liên lạc, tuần tra canh gác đê, các lực lượng quân đội, đội xung kích của các xã liên tục có mặt tại các vị trí đê xung yếu (Tại các điếm canh đê, các xã được phân công phải cử 5 - 10 người thường trực tại điếm canh và kết hợp với kiểm sát viên đê điều tuần tra liên tục trên đê). Nếu trường hợp sạt, xói lở, tràn gây nguy hiểm cho đê, bằng mọi cách báo cáo kịp thời về Ban chỉ huy đóng tại Hạt Quản lý đê.

       Tìm kiếm cứu nạn: Tổ chức ngay cứu hộ vùng bị nạn. Trước hết cứu người, sau đó đến tài sản, đồng thời điều động các lực lượng, các phương tiện, vật tư dự phòng, hậu cần để ứng cứu kịp thời, khắc phục sự cố. Ban chỉ huy PCTT&TKCN thị xã Quảng Yên phối hợp với lực lượng quân sự trên địa bàn trực tiếp thực hiện theo Kế hoạch hiệp đồng;

      Phương án bảo vệ các tuyến trọng điểm của đê Hà Nam:

       Tuyến trọng điểm xung yếu K10 đến K16: Là tuyến trọng yếu nhất trên toàn tuyến đê Hà Nam do có phía ngoài tiếp giáp trực tiếp với vùng biển Vịnh Hạ Long, mặt thoáng rộng, đà gió dài; Trong những năm qua, đoạn này đã được đầu tư kiên cố hóa toàn bộ theo dự án Tổng thể nâng cấp đê Hà Nam; hiện nay đê đoạn này có khả năng chống bão cấp 10 với thuỷ triều 5%. Mái đê kè cấu kiện, chân đê hạ ống buy bê tông, tường chắn sóng bọc bê tông cốt thép M250 có mũi hắt sóng, đỉnh đê và cơ đê đều được bọc bê tông, mái cơ đê trồng cỏ trong cấu kiện bê tông lục lăng. Với thiết kế trên, khi bão vượt tần suất thiết kế cho phép sóng nước tràn qua đê nhưng đê vẫn đảm bảo an toàn. Có thể nói tuyến đê này có hệ số an toàn cao nhất trên toàn tuyến vì đã nhiều lần được nâng cấp, riêng mái ngoài đã kè đá hộc dày 30 cm, dăm lót dày 10 cm, dưới cùng là vải lọc. Khi nâng cấp theo Quyết định 58, mái đê lại được phủ vải lọc lần nữa, lót 10 đến 15 cm đá dăm, sau đó kè cấu kiện kích thước (40x40x24)cm.

      Vì vậy việc đặt ra phương án bảo vệ tuyến này là đề phòng bão kéo dài trong nhiều giờ, sóng nước tràn qua đê liên tục có thể gây xói cục bộ mái trong đồng. Để đối phó với tình huống này, đã tập trung ở đây một số lượng lớn đá hộc, cụ thể: K10+500 đến K11+600: 4.847 m3; K13: 849 m3; K14+500 đến K15: 1.359 m3. Khi có tình huống xấu xảy ra lực lượng bộ đội được phân công bảo vệ từng tuyến được huy động với quân số 150 người (Lực lượng Bộ CHQS Tỉnh - quân số 50 đồng chí; Lữ đoàn 147/HQ – 100đ/c), kết hợp lực lượng tại chỗ, lực lượng cơ động, xe tải 2-5 chiếc (tùy tình hình). Xe tải vận chuyển đá hộc đổ xuống các vị trí bị xói lở, lao động chân tay sẽ hỗ trợ xe máy để đá được đổ và xếp đúng nơi yêu cầu.

       Tuyến trọng điểm xung yếu K20+240 đến K23: Do đặc thù vị trí tuyến đê sát sông Rút, cây chắn sóng thưa thớt (có vị trí không có cây chắn sóng) nên khi có bão, khả năng chống chọi là kém hơn so với các đoạn nằm sâu bên trong và có rừng cây chắn sóng bảo vệ. Hiện nay, tuyến đã được đầu tư nâng cấp với quy mô: Mái phía kè đá hộc trong khung dầm BTCT; tường chắn sóng được bọc lại và xây mới; đỉnh đê, cơ đê phía đồng được gia cố bằng bê tông; mái phía đồng trồng cỏ trong khung BTCT kết hợp lăng thể đá hộc hộ chân. Đối với tuyến trọng điểm này, dự kiến tình huống xấu xảy ra khi xuất hiện bão cấp 10; 11 giật 12; 13 hướng Tây Nam kết hợp với triều cường là sóng lớn có thể tràn qua gây xói lở mái đê trong đồng. Biện pháp xử lý ở đây dùng vải bạt chống sóng trải dọc từ đỉnh đê xuống chân đê, neo vải bạt xuống đất bằng các cọc neo cắm qua các lỗ rive định sẵn ở mép vải, đồng thời dùng các bao cát hoặc đá hộc đè lên vải bạt để giữ cho vải ổn định.

       Vật tư dự trữ cho đoạn này gồm: 1.000m3 đá hộc tập kết tại K23+500, vải bạt và bao tải đã dự trữ sẵn ở kho Hạt Quản lý đê, số lượng 13.340 bao tải, 3.100 m2 vải bạt chống sóng.

       Về lực lượng tham gia ứng cứu khi có sự cố xảy ra: Lực lượng bộ đội được phân công bảo vệ từng tuyến được huy động với quân số 150 đ/c thuộc Sư đoàn 395/QK3, kết hợp lực lượng tại chỗ, lực lượng cơ động (khi cần thiết).

       Bảo vệ cống tiêu: Trên tuyến đê Hà Nam có 09 cống dưới đê, trong các năm từ 2015 đến nay 09/09 cống đều đã được cải tạo, nâng cấp và xây mới hoàn toàn; có 02 cống (cống Mô, Cống Hải Yến) mới xây, chưa trải qua mưa lũ; 07 cống còn lại đã trải qua các đợt mưa lũ.

09/09 cống trên đê Hà Nam do công ty TNHH.1TV thủy lợi Yên Lập quản lý, bảo vệ

       Hiện tại các cống đang sử dụng vẫn hoạt động bình thường, biện pháp bảo vệ các cống tiêu trên hệ thống đê Hà Nam trong mùa mưa bão cụ thể như sau:

      - Đối với 07 cống đã trải qua các đợt mưa lũ, khả năng xảy ra sự cố là rất thấp; tuy nhiên đơn vị quản lý sử dụng cần tăng cường công tác tuần tra, canh gác thường xuyên, vận hành cống đúng quy trình nhằm hạn chế đến mức thấp nhất các sự cố như kẹt cánh cống, hỏng máy đóng mở;

      - Đối với 02 cống mới xây, chưa làm việc trong điều kiện mưa lũ nên cần đặc biệt quan tâm, dự kiến có khả năng xảy ra sự cố sau: Rò rỉ mang cống, kẹt cánh cống. Đối với trường hợp rò rỉ mang cống, biện pháp xử lý kiến nghị như sau: Khẩn trương dùng bao cát hoặc đất đắp ngay vào miệng lỗ rò rỉ, sau đó tiếp tục đắp rộng ra phía ngoài, trường hợp nước vẫn rò, nước chảy ra ngày một tăng cần khoanh vùng và đắp quai rộng ra phía trước. Nếu nước rò ra đục cần khẩn trương làm tầng lọc ngược phía trong đồng để giảm khả năng gây xói thân và mang cống của dòng thấm. Trường hợp cánh cống bị kẹt không đóng được hoặc bị vỡ nước thuỷ triều tràn vào trong đồng, cần khẩn trương hoành triệt cống bằng đá hộc (Lớp trong) và đắp bao tải đất (Lớp ngoài), đắp đất đến khi nước không chảy vào trong đồng (hoặc chảy không đáng kể) thì lúc đó mới kết thúc.

      Vật tư dự trữ cho 02 cống xây mới (cống Mô – K29+114 và cống Hải Yến K30+823) gồm: Đá hộc tập kết tại K28+500 – 1.582m3, K30+500 – 90m3, vải bạt và bao tải đã dự trữ sẵn ở kho Hạt Quản lý đê, số lượng 13.340 bao tải, 3.100 m2 vải bạt chống sóng.

      Lực lượng có 50 chiến sỹ của Sư đoàn 395/QK3), kết hợp lực lượng tại chỗ, lực lượng cơ động (khi cần thiết).

Đê Hà Nam, thị xã Quảng Yên là tuyến đê rất quan trọng, có nhiệm vụ bảo vệ toàn bộ 08 xã, phường nằm trong đảo Hà Nam; trong trường hợp xảy ra sự cố về đê điều sẽ gây hậu quả rất nghiêm trọng. Để đảm bảo an toàn cho tính mạng, tài sản của người dân trên đảo; đề nghị Ủy ban nhân dân thị xã Quảng Yên, các lực lượng vũ trang theo Kế hoạch hiệp đồng, ngành Giao thông vận tải và các ngành có liên quan trên cơ sở phương án này triển khai xây dựng phương án chi tiết phù hợp với tình hình thực tế của địa phương, đơn vị và triển khai nghiêm túc phương án đã xây dựng để chủ động xử lý đạt hiệu quả cao trong trường hợp xảy ra sự cố.

 

Thành Minh


Tìm kiếm theo chuyên mục - nội dung - ngày tháng

Tin Nóng
Tin tiêu điểm

Lịch công tác trống

Website liên kết
Thống kê truy cập
Hôm nay: 87
Đã truy cập: 2347353