Nâng cao chất lượng nước sinh hoạt, đảm bảo nguồn nước sạch cho người dân vùng nông thôn

19/08/2021 16:37

        Quảng Ninh là tỉnh miền núi, trung du nằm ở vùng duyên hải, có diện tích tự nhiên là 6.110,8 km2, với hơn 80% đất đai là đồi núi, đồng bằng nhỏ hẹp tập trung ở các huyện Đông Triều, Quảng Yên và một số huyện ở phía Đông như Tiên Yên, Đầm Hà, Hải Hà và thành phố Móng Cái; Quảng Ninh có 13 đơn vị hành chính cấp huyện, trong đó có 4 thành phố, 2 thị xã, 7 huyện; 177 xã, phường, thị trấn (gồm 72 phường, 07 thị trấn và 98 xã) với 22 thành phần dân tộc, trong đó có 21 thành phần dân tộc thiểu số. Theo số liệu thống kê hiện nay dân số của tỉnh Quảng Ninh có khoảng là 1,3 triệu người, trong đó tỷ lệ dân số sống tại vùng nông thôn chiếm 36% dân số toàn tỉnh; tỷ lệ dân số là người dân tộc thiểu số chiếm 12,8% dân số toàn tỉnh.

        Do đặc trưng về vị trí địa lý và địa hình, Quảng Ninh luôn bị ảnh hưởng trực tiếp của các loại gió mùa, bão, áp thấp nhiệt đới… lượng mưa hàng năm tương đối lớn (khoảng 2.500 mm) và phân bố không đều trong năm, phần lớn tập trung vào các tháng mùa mưa, mùa khô nhiều sông suối bị cạn kiệt. Hầu hết đồng bào dân tộc thiểu số đều sử dụng nước từ các khe suối để sinh hoạt. Do địa hình dốc, sông, suối ngắn cho nên mùa mưa lũ thì nước lũ chảy mạnh, mùa khô thì nhanh cạn kiệt. Trong khi đó, nguồn nước này vừa không bảo đảm vệ sinh, vừa thường xuyên khan hiếm về mùa khô.

      Trong những năm qua, được sự quan tâm của Chính phủ, các Bộ, Ngành trung ương; đặc biệt là sự quan tâm chỉ đạo quyết liệt của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh; thông qua các chương trình, đề án, về cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, tranh thủ sự hỗ trợ từ các chương trình mục tiêu quốc gia dành cho miền núi, vùng sâu, lồng ghép các dự án, kêu gọi tài trợ... để xây dựng công trình cấp nước. Nỗ lực đó đã mang lại nguồn nước sinh hoạt, góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân vùng nông thôn, đặc biệt quan tâm đến người dân ở vùng sâu, vùng xa vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Tranh thủ nguồn lực, đầu tư xây dựng các công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn

       Đến hết năm 2020, công tác nước sạch nông thôn trên địa bàn tỉnh đã đạt được một số kết quả cụ thể như sau:

       - Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nước hợp vệ sinh: 99,36%;

       - Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nước sạch đáp ứng QCVN: 77,23%;

       - Tỷ lệ hộ nghèo sử dụng nước hợp vệ sinh: 95,79%;

       - Tỷ lệ hộ nghèo sử dụng nước sạch đáp ứng QCVN: 29,49%;

      - Về công trình cấp nước nông thôn: Trên địa bàn toàn tỉnh có 189 công trình cấp nước tập trung khu vực nông thôn.

       Đối với khu vực miền núi, vùng sâu, vùng khan hiếm nước, đến hết năm 2020 (86 xã với 88.473 hộ dân):

      - Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nước hợp vệ sinh: 99,26%;

      - Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nước sạch đáp ứng QCVN: 75,72%;

      - Tỷ lệ hộ nghèo sử dụng nước hợp vệ sinh: 95,79%;

      - Trong đó, đối với các địa phương vùng sâu, hải đảo như:

     + Huyện Bình Liêu: Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nước hợp vệ sinh: 100%; Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nước sạch đáp ứng QCVN: 83,53%; Tỷ lệ hộ nghèo sử dụng nước hợp vệ sinh: 100%; cao hơn trung bình toàn tỉnh;

    + Huyện Ba Chẽ: Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nước hợp vệ sinh: 98,51%; Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nước sạch đáp ứng QCVN: 60,01%; Tỷ lệ hộ nghèo sử dụng nước hợp vệ sinh: 100%;

    + Huyện Tiên Yên: Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nước hợp vệ sinh: 100%; Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nước sạch đáp ứng QCVN: 72,25%; Tỷ lệ hộ nghèo sử dụng nước hợp vệ sinh: 80%;

    + Huyện Vân Đồn: Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nước hợp vệ sinh: 98,67%; Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nước sạch đáp ứng QCVN: 77,03%; Tỷ lệ hộ nghèo sử dụng nước hợp vệ sinh: 86,73%;

    + Huyện Cô Tô: Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nước hợp vệ sinh: 100%; Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nước sạch đáp ứng QCVN: 89,41%.

Khảo sát, đầu tư xây dựng các công trình cấp nước sạch đạt quy chuẩn

       Theo kết quả rà soát, hiện nay trên địa bàn tỉnh còn 18/109 xã khu vực nông thôn chưa có công trình cấp nước hoặc chưa được đấu nối từ các công trình cấp nước tập trung hiện có; tỷ lệ và lượng sử dụng nước của người dân từ các công trình cấp nước tập trung vẫn còn hạn chế do thói quen sử dụng các nguồn nước nhỏ lẻ trên địa bàn. Do vậy, trong thời gian tới cần tiếp tục triển khai:

       Khảo sát, đầu tư xây dựng các công trình cấp nước sạch đạt quy chuẩn cho các xã chưa có công trình cấp nước mà ở đó mạng lưới cấp nước do các công trình cấp nước tập trung hiện có không phủ tới, đặc biệt tại các xã khu vực miền núi, hải đảo.

      Đối với các xã nằm ở lân cận các công trình cấp nước tập trung chất lượng nước đạt quy chuẩn đã có, tiến hành khảo sát, nghiên cứu để cải tạo, mở rộng công suất nhà máy để mở rộng mạng lưới cấp nước, nâng cao tối đa hiệu quả đầu tư công trình đã có;

Tiếp tục đầu tư xây dựng các công trình cấp nước sạch đạt quy chuẩn

      Đối với các công trình cấp nước tự chảy có quy mô nhỏ đã hoàn thành đầu tư và đang hoạt động (công suất đấu nối < 250 hộ/công trình): Do trước đây các công trình đầu tư với mục đích cấp nước hợp vệ sinh nên dây chuyền công nghệ không đảm bảo mục đích cấp nước sạch theo Quy chuẩn hiện hành. Vì vậy thực hiện cải tạo, nâng cấp dây chuyền công nghệ xử lý đảm bảo nước sau xử lý đạt chuẩn nước sạch;

Xây mới công trình tại 36/109 xã chưa có công trình hoặc có các công trình cấp nước tập trung quy mô nhỏ, chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng nước

Cải tạo, nâng cấp các công trình hiện có (gồm các Trạm cấp nước và các công trình cấp nước tập trung quy mô nhỏ) tại 02/98 xã

Mở rộng mạng đấu nối từ các công trình hiện có tại 70/98 xã

      Bên cạnh các giải pháp đầu tư, phải tiếp tục tăng cường quán triệt nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong thực hiện các Chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước; bám sát mục tiêu kế hoạch của Tỉnh, triển khai thực hiện hoàn thành mục tiêu về cấp nước sinh hoạt khu vực nông thôn.

      Tăng cường chỉ đạo các địa phương, các tổ chức chính trị xã hội đẩy mạnh hơn nữa công tác truyền thông nhằm thay đổi nhận thức, hành vi của người dân trong việc sử dụng và bảo vệ nguồn nước sạch, bảo vệ các công trình cấp nước; hạn chế việc sử dụng các nguồn nước nhỏ lẻ, chất lượng nước không được kiểm soát.

Nước sinh hoạt được đưa đến từng hộ gia đình

 

Thành Minh


Tìm kiếm theo chuyên mục - nội dung - ngày tháng

Tin Nóng
Tin tiêu điểm

Lịch công tác trống

Website liên kết
Thống kê truy cập
Hôm nay: 139
Đã truy cập: 2065849