Triển khai Quyết định số 31/2020/QĐ-UBND ngày 31/8/2020 và Quyết định số 30/2021/QĐ-UBND ngày 21/5/2021 của Uỷ ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh: giải pháp mạnh tay của tỉnh trong việc xóa sổ phao xốp trong nuôi trồng thủy sản.

10/09/2021 08:26

      Trên thế giới, rác thải nhựa đại dương là một vấn đề nghiêm trọng ảnh hưởng đến môi trường biển với ước tính hiện tại cho thấy có khoảng từ 27 đến 66,7 triệu tấn nhựa trên các đại dương và sông trên thế giới. Trong đó, ba phần tư (tức 74%) rác thải nhựa đại dương có nguồn gốc từ đất liền, 9,4% rác thải từ hoạt động nghề cá, 7,8%  từ các vi nhựa nguyên sinh (primary mciroplastics), 4,9% rác thải từ hoạt động vận chuyển trên biển. Theo báo cáo khoa học của Eunomia, số lượng rác thải nhựa hiện tăng khoảng hơn 12 triệu tấn mỗi năm, và hệ quả của vấn đề này là gia tăng áp lực đối với chi phí sinh thái, xã hội và kinh tế có thể được xem là đáng kể.

Bản đồ rác thải nhựa của các quốc gia trên thế giới năm 2010

      Theo quan điểm truyền thống, rác thải nhựa từ hoạt động nuôi trồng thủy sản và đánh bắt thủy sản đang được xem xét như nhau, nhưng các chuyên gia nuôi trồng thủy sản cho rằng quan điểm này không hữu ích cho lĩnh vực nuôi trồng thủy sản. Đối với khai thác thủy sản, các tổ chức đã tiêu tốn rất nhiều chi phí để đánh giá việc có bao nhiêu ngư cụ bị bỏ rơi, bị thất lạc và bị vứt bỏ trên các khu vực biển, cũng như việc khai thác thủy sản ma, ngư cụ hủy diệt, và phá hoại môi trường cư trú của các loài thủy sản đã góp phần làm tăng mức độ rác thải nhựa địa dương.

      Tuy nhiên, đối với nuôi trồng thủy sản còn rất nhiều hạn chế để nhận thức về vấn đề rác thải nhựa liên quan đến hoạt động nuôi trồng thủy sản (chưa được coi trọng đánh giá như khai thác thủy sản); rất nhiều tổ chức và chuyên gia môi trường đang quan ngại và đặt ra giải pháp để giải quyết sự mất cân bằng này, bằng cách phân loại các nguyên nhân khác nhau của chất thải nhựa từ nuôi trồng thủy sản và đánh giá rủi ro đối với các hệ thống nuôi trồng thủy sản khác nhau.

      Đặc biệt, quy mô ngày càng được mở rộng và vai trò của ngành nuôi trồng thủy sản ngày càng được đề cao vì đã cung cấp hơn một nửa lượng thủy sản trên thế giới và ngành này sẽ có tầm quan trọng lớn hơn trong những thập kỷ tới, khi dân số toàn cầu tăng lên và nguồn tài nguyên biển hoang dã được khai thác đang giảm dần hoặc khan hiếm tài nguồn lợi thủy sản biển. Do vậy, nghiên cứu của các nhà hoạt động môi trường cho thấy nuôi trồng thủy sản sử dụng rất nhiều nhựa gồm cho cả thiết bị nuôi và bao bì, với vật liệu nhựa được sử dụng trong mọi thứ, từ phần hỗ trợ nổi lồng nuôi bằng xốp polystyrene và lưới lồng nuôi được phủ lớp polyme đến thùng thu hoạch bằng nhựa và bao bì thức ăn. Nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng các nguyên nhân có khả năng gây phát tán nhựa cao nhất (ô nhiễm nhựa ra môi trường biển) là do thời tiết khắc nghiệt, quản lý chất thải trong quá trình nuôi kém và quá trình lắp đặt thiết bị nuôi bị mài mòn và hỏng hóc do bố trí không tốt hoặc thiếu bảo trì.

      Tại Việt Nam, chưa có nhiều nghiên cứu cụ thể về phát thải rác thải nhựa đối với hoạt động khai thác thủy sản và nuôi trồng thủy sản (tuy nhiên theo báo cáo của Hiệp hội nhựa, năm 2015, Việt Nam sản xuất và tiêu thụ khoảng 5 triệu tấn nhựa, trong đó, khoảng 80% nguyên liệu nhập khẩu sử dụng từ nhựa phế liệu; Chỉ số tiêu thụ nhựa trên đầu người tại Việt Nam tăng nhanh từ 3,8kg/năm/người năm 1990, tăng lên 41kg/năm/người vào năm 2015).

      Hiện nay, tỉnh Quảng Ninh là một trong các địa phương trên cả nước đi đầu trong việc thực hiện quản lý nuôi trồng thủy sản theo hướng bền vững thân thiện với môi trường. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã khảo sát đánh giá báo cáo trên địa bàn toàn tỉnh có khoảng trên 5.488 ha diện tích mặt nước biển tại 08 huyện, thị xã (tập trung nhiều tại Vân Đồn, Cẩm Phả, Móng Cái và Quảng Yên) với trên 2.500 hộ, sử dụng khoảng 10.200 ngàn quả phao xốp làm vật liệu nổi trong nuôi cá biển, hầu; cụ thể, nuôi cá biển là 1.448 ha tại 500 cơ sở nuôi với trên 14.700 ô lồng, sử dụng khoảng 20 nghìn quả; nuôi hàu khoảng 3.400 ha tại 2.000 cơ sở, sử dụng khoảng trên 10 triệu phao xốp (trong đó có khoảng hơn 3 triệu quả phao, với diện tích khoảng trên 3.400 ha trong quy hoạch, còn khoảng hơn 7 triệu quả phao với khoảng 2.088 ha ngoài quy hoạch) và có khoảng trên 1.200 bè nuôi hàu dùng vật liệu tre kết hợp với xốp để làm phao nổi. Phao xốp là vật liệu nổi có độ bền không cao trong môi trường nước biển (từ 1-3 năm); để tăng độ bền ngư dân đã bọc bạt dứa, bạt nhựa dẻo, có độ nổi tốt. Kích cỡ phao xốp khác nhau tùy mục đích sử dụng, loại phao dùng làm bè nuôi cá 0,6 x 0,6 x 1,2 mét, loại dùng làm bè nuôi hầu 0,3 x 0,3 x 0,5 mét. Tuy nhiên cho dù có gia cố thêm nhưng độ nổi và tuổi thọ chỉ đạt từ 2-3 năm, trong quá trình sử dụng nếu phao xốp bị hỏng, thì người dân vứt bỏ trực tiếp xuống biển hoặc quá trình sử dụng gặp bão gió dễ bị hỏng, tuột khỏi bè nuôi, trôi nổi trên mặt biển gây mất an toàn, ảnh hưởng đến cảnh quan, môi trường... nơi mà hàng năm có hàng chục triệu lượt người đến thăm quan du lịch. Mỗi năm, tỉnh Quảng Ninh phải chi ra hàng chục tỷ đồng để thu gom rác thải chủ yếu là phao xốp, tre, luồng mục, hỏng trôi dạt trên mặt, bờ biển.

Bè nuôi trồng thủy sản sử dụng phao xốp

      Trước tình hình thực tiễn đặt ra, Sở Nông nghiệp và PTNT đã tham mưu Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh xây dựng Quy chuẩn kỹ thuật địa phương về về vật liệu sử dụng làm phao nổi trong nuôi trồng thủy sản lợ, mặn tại Quảng Ninh; ngày 31/8/2020 Uỷ ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã ban hành Quyết định số 31/2020/QĐ-UBND ban hành quy chuẩn kỹ thuật địa phương về vật liệu nổi sử dụng trong nuôi trồng thuỷ sản lợ, mặn và Quyết định số 30/2021/QĐ-UBND ngày 21/5/2021 về việc Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 31/2020/QĐ-UBND ngày 31/8/2020 (sau đây gọi tắt là Quyết định 30, 31); trong đó, tại điểm b, khoản 2, điều 2 quy định: Kể từ ngày 01/01/2022: Các cơ sở nuôi trồng thủy sản lợ, mặn đang sử dụng vật liệu làm phao nổi hiện có tại thời điểm quy định này có hiệu lực thi hành phải thực hiện xong việc chuyển đổi và sử dụng vật liệu làm phao nổi phù hợp đáp ứng yêu cầu QCĐP 08:2020/QN. Đối tượng áp dụng quy chuẩn gồm: Các cơ sở NTTS lợ, mặn bằng lồng bè, giàn bè có sử dụng phao nổi; cơ sở sản xuất, nhập khẩu phao nổi, vật liệu làm phao nổi trong nước, nhập khẩu từ nước ngoài để phục vụ NTTS. Quy chuẩn cũng quy định rõ về công tác quản lý; trách nhiệm của tổ chức, cá nhân; công tác tổ chức thực hiện; các thông tin chi tiết về phao nổi, vật liệu làm phao nổi.

Bè nuôi trồng thủy sản sử dụng vật liệu HDPE

      Ban hành Quyết định số 30, 31 được coi là giải pháp mạnh tay của tỉnh trong việc quản lý, rà soát và giám sát chặt chẽ, giảm thiểu rác thải từ các vật liệu không thân thiện, không bền vững trên vùng biển Quảng Ninh. Thực hiện chỉ đạo của các cấp lãnh đạo Tỉnh, với mục tiêu đẩy nhanh tiến độ thực hiện áp dụng vật liệu mới làm phao nổi trong nuôi trồng thủy sản lợ, mặn trên địa bàn tỉnh phù hợp với Quy chuẩn địa phương. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã chủ trì, phối hợp với các sở ngành, địa phương có liên quan triển khai đồng bộ các giải pháp và đã đạt được các kết quả nhất định qua gần 8 tháng triển khai: (1) Công tác lãnh đạo, chỉ đạo và truyền thông ở cấp tỉnh được triển khai thường xuyên, liên tục; (2) Một số địa phương đã tích cực triển khai, huyện Vân Đồn xây dựng và ban hành Nghị quyết chuyên đề của Huyện uỷ, Kế hoạch triển khai của UBND huyện, một số địa phương đã vào cuộc tích cực; (3) Đã tiếp nhận công bố Hợp quy cho 5 cơ sở sản xuất vật liệu nổi có khả năng cung ứng trên 20 triệu phao đáp ứng 100% nhu cầu chuyển đổi của người dân trong năm 2021; (4) Bước đầu đã có một số mô hình (HTX đảo Phất Cờ, Công ty TNHH Bình Minh, HTX Thắng Lợi, một số cơ sở nuôi trồng thủy sản tại huyện Vân Đồn, Đầm Hà, Hải Hà) sử dụng vật liệu nổi phù hợp với Quy chuẩn địa phương làm cơ sở cho người dân triển khai thực hiện; (5) Công tác kiểm tra, xử lý vi phạm đã triển khai thực hiện, làm thay đổi nhận thức của người dân trong việc chuyển đổi vật liệu nổi phù hợp với Quy chuẩn địa phương.

      Tuy nhiên, Quảng Ninh là địa phương đầu tiên của cả nước đưa ra quy chuẩn địa phương về vật liệu nổi trong nuôi trồng thủy sản. Do vậy, bên cạnh  những kết quả đã đạt được vẫn còn một số khó khăn, tồn tại hạn chế nhất định: (1) Công tác lãnh đạo, chỉ đạo và giám sát việc thực thi quy định của địa phương còn hạn chế, đặc biệt là chính quyền cấp xã, cụ thể nhiệm vụ được giao (Văn bản số 3014/UBND-NLN ngày 18/5/2021 của UBND tỉnh v/v tăng cường quản lý, kiểm tra và xử lý vi phạm sử dụng vật liệu nổi trong nuôi trồng thủy sản không đảm bảo theo Quy chuẩn địa phương), hiện nay người dân vẫn tiếp tục đầu tư mới phao xốp đưa xuống bè nuôi, trong khi đó rất ít người dân chủ động thay thế; (2) Việc tiến hành kiểm tra xử lý vi phạm liên quan đến đầu tư mới và thay thế vật liệu nổi chưa được thường xuyên, liên tục; (3) Chế độ báo cáo của các địa phương chưa đúng tinh thần chỉ đạo của UBND tỉnh; (4) Công tác tuyên truyền chưa được sâu rộng (toàn tỉnh đã tuyên truyền được khoảng 1000 lượt người/ khoảng tổng số 3.000 lượt người thuộc diện phải tuyên tuyền về nội dung này, đạt 40%), vẫn còn người dân chưa biết về chủ trương thay thế, một bộ phận người dân đã được tuyên truyền nhưng vẫn ỷ lại, trông chờ vào chính sách hỗ trợ của tỉnh; (5) Việc rà soát, thống kê đánh giá diện tích nuôi, số lượng phao xốp còn chưa thống nhất giữa các lần báo cáo, cụ thể như huyện Vân Đồn, dẫn đến số liệu sai khác lớn giữa thực tế và báo cáo, do đó đã thay đổi bản chất của vấn đề cần chỉ đạo của Tỉnh uỷ và Uỷ ban nhân dân tỉnh; (6) Triển khai các chính sách liên quan đến vật liệu nổi theo Nghị quyết 194/2019/NQ-HĐND ngày 30/7/2019 còn chưa được sâu rộng, chưa được áp dụng vào thực tiễn do điều kiện phải xây dựng dự án liên kết theo chuỗi, khó làm; (7) Số lượng phao xốp sử dụng trong nuôi trồng thủy sản là rất lớn, khó khăn trong việc chuyển đổi theo quy chuẩn địa phương trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới đây.

      Như đã đề cập, Quảng Ninh là địa phương đầu tiên của cả nước đưa ra quy chuẩn vật liệu nổi trong nuôi trồng thủy sản tính đến thời điểm hiện nay. Do vậy, quá trình triển khai thực hiện thay thế phao xốp tại các địa phương đang gặp không ít khó khăn, vướng mắc với các nguyên nhân cụ thể như sau:

     - Nguyên nhân khách quan: (1) Do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid kéo dài, phức tạp, sản phẩm thủy sản nói chung, cá biển, hầu nuôi nói riêng khó xuất bán, giá cả bấp bênh nên nguồn lực tái đầu tư cho sản xuất gặp nhiều khó khăn; (2) Việc giao mặt nước chưa triển khai thực hiện được vì chưa công bố được ranh giới đường triều kiệt trung bình nhiều năm, đường 3 hải lý, đường 6 hải lý theo hiện trạng thực tế  của tỉnh, do vậy các cơ quan chức năng chưa có cơ sở để giao mặt nước, cũng như tổ chức cấp phép nuôi trồng thủy sản biển; (3) Giá thành vật liệu nổi theo Quy chuẩn địa phương cao gấp 1,5- 2 lần với phao xốp.

      - Nguyên nhân chủ quan: (1) Do thói quen và quan điểm kế thừa của người dân trong sử dụng phao xốp, bên cạnh đó là cấp ủy đảng, chính quyền địa phương tại một số địa phương còn chưa sâu sắc về chỉ đạo của Tỉnh trong việc chuyển đổi vật liệu nổi; (2) Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các địa phương còn chưa quyết liệt, có nơi còn buông lỏng quản lý (theo báo cáo của HĐND tỉnh), vẫn xảy ra người dân đầu tư mới sử dụng vật liệu nổi không đảm bảo theo Quy chuẩn địa phương; (3) Công tác tuyên truyền còn chưa sâu rộng, vẫn còn có người dân chưa hiểu hết về việc cần phải chuyển đổi vật liệu nổi theo quy định và chỉ đạo của Tỉnh; (4) Việc thống kê rà soát diện tích về sử dụng phao nổi còn chưa chính xác, số liệu thống kê cơ sở nuôi trồng thủy sản trong quy hoạch và ngoài quy hoạch còn chưa được rõ ràng; (5) Thực thi pháp luật tại các địa phương còn chưa nghiêm, chưa tuân thủ các quy định của Tỉnh trong việc chuyển đổi vật liệu nổi.

      Để quá trình triển khai thay thế phao xốp tại các địa phương đạt được kết quả và lộ trình theo quy định; đồng thời để tháo gỡ kịp thời không ít khó khăn, vướng mắc, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tiếp tục đề xuất các nhiệm vụ giải pháp quyết liệt hơn nữa trong thời gian tới như sau:

1. Tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền; phân công, phân cấp rõ trách nhiệm của từng cấp ủy đảng, chính quyền, nhất là người đứng đầu cơ quan, đơn vị, tổ chức; đồng thời quy định rõ nhiệm vụ của các cấp ngành từ tỉnh đến cơ sở trong công tác quản lý Nhà nước về thực hiện đầy đủ, nghiêm túc, trách nhiệm và hiệu quả theo đúng tinh thần chỉ đạo của đồng chí Bí Thư Tỉnh uỷ và các chỉ đạo của HĐND và UBND tỉnh.

2. Tiếp tục, tuyên truyền sâu rộng trên các phương tiện thông tin đại chúng, thông tin đến từng hộ dân nuôi trồng thủy sản trên biển khẩn trương thay thế theo lộ trình thực hiện của Quyết định số 30/2021/QĐ-UBND ngày 21/5/2021 v/v Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 31/2020/QĐ-UBND ngày 31/8/2020; công bố công khai danh sách các cơ sở sản xuất đã được công nhận hợp quy có khả năng cung cấp sản phẩm theo quy định, để người dân biết lựa chọn sử dụng.

Lồng nuôi trồng thủy sản hiện đại trên biển

3. Các địa phương triển khai xây dựng kế hoạch, lộ trình theo từng tháng để triển khai thực hiện đảm bảo tiến độ theo quy định của Tỉnh.

4. Tăng cường tuần tra, kiểm tra, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về sử dụng vật liệu nổi trong nuôi trồng thủy sản biển như: Các loại phao nổi, phao xốp không có nguồn gốc xuất xứ, chưa được công bố hợp quy theo quy định của tỉnh.

5. Đẩy mạnh áp dụng chính sách khuyến khích đầu tư, liên kết trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp tỉnh Quảng Ninh tại Nghị quyết 194/2019/NQ-HĐND ngày 30/7/2019 trong triển khai hỗ trợ ngư dân chuyển đổi vật liệu nổi trong nuôi trồng thủy sản. Đặc biệt huyện Vân Đồn triển khai xây dựng mô hình điểm liên kết trong thời gian sớm nhất để các địa phương khác học tập kinh nghiệm triển khai thực hiện.

     Thời gian qua, ban hành Chỉ thị số 13-CT/TU của Ban Thường vụ tỉnh ủy một lần nữa khẳng định sự quan tâm của các cấp lãnh đạo Tỉnh để hiện thực hóa phát triển kinh tế thủy sản và góp một phần vào phát triển kinh tế biển của Tỉnh trong những năm tiếp theo phù hợp với chủ trương, định hướng của Đảng, Nhà nước và Chính phủ cũng như theo kịp xu thế của thời đại “vươn biển”. Đặc biệt, triển khai Quyết định số 30, 31 đây được coi là giải pháp mạnh tay của tỉnh trong việc quản lý, rà soát và giám sát chặt chẽ, giảm thiểu rác thải từ các vật liệu không thân thiện, không bền vững trên vùng biển Quảng Ninh; quan điểm nhất quán phù hợp với chủ trương, định hướng hiện nay “không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế”./.

Mr. Cricket - CCTS


Tìm kiếm theo chuyên mục - nội dung - ngày tháng

Tin Nóng
Tin tiêu điểm

Lịch công tác trống

Website liên kết
Thống kê truy cập
Hôm nay: 602
Đã truy cập: 1824604