KỸ THUẬT KHAI THÁC, SƠ CHẾ VÀ BẢO QUẢN QUẾ

15/03/2022 16:51

      Tại Quảng Ninh, từ lâu cây quế đã được người dân các huyện Tiên Yên, Đầm Hà, Hải Hà đưa vào khai thác và phát triển thành một trong những cây trồng chủ lực, mang lại thu nhập cao, giúp giảm nghèo bền vững. Đến nay, cây quế đã được tỉnh quy hoạch, nhân rộng và phát triển theo hướng chuyên canh tập trung.

 Các sản phẩm từ cây quế được sử dụng trong nhiều lĩnh vực từ làm thuốc, hương liệu, gia vị cho tới đồ thủ công mỹ nghệ… vì vậy việc nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật khai thác, chế biến và bảo quản sản phẩm từ cây quế là rất cần thiết.

 KHAI THÁC RỪNG QUẾ

 1. Về phương thức khai thác

 Với mật độ rừng trước khi khai thác từ 2.000 đến 2.500 cây/ha.

 - Phương thức khai thác chọn: Chỉ khai thác những cây có đường kính, cấp kính định trước trong một mùa khai thác:

 + Khai thác lần đầu, áp dụng vào năm thứ 10 đến năm thứ 12 với mật độ để lại còn 1.500 đến 1.800 cây/ha.

 + Khai thác lần 2, áp dụng vào năm thứ 14, năm thứ 15 với mật độ để lại còn 1.000 đến 1.300 cây/ha.

 + Từ năm thứ 20 trở đi, mật độ để lại còn 600 đến 900 cây/ha.

 + Cây khai thác là những cây đáp ứng được mục đích kinh doanh và đảm bảo phân bố đồng đều để nuôi dưỡng tiếp.

  • Phương thức khai thác chính: Khai thác toàn bộ số cây trên 15 năm tuổi.

 Lưu ý: Ở n­ước ta có 2 mùa khai thác vỏ quế, vào mùa xuân thời tiết ít m­ưa, nắng ấm kéo dài rất thích hợp cho khai thác và chế biến vỏ quế. Mùa thu, thường có mư­a nhiều, thời tiết âm u rất rễ cho vỏ bị mốc, bị mục ải. Tuy nhiên thực tế cho thấy vỏ quế thu hoạch vụ thu có hàm lư­ợng tinh dầu nhiều hơn vỏ quế khai thác vụ xuân, khai thác đúng mùa thì vỏ dễ dàng bóc ra khỏi thân cây, vỏ không bị gãy, bị vỡ, bị sát lòng hay bị dính vào thân.

 2. Thời vụ khai thác: Theo thời vụ tỉa thưa nuôi dưỡng rừng.

 3. Kỹ thuật khai thác

 Trước khi khai thác cần ken vỏ quanh gốc cây 1 tuần để hạn chế lượng nước trong vỏ cây, nâng cao chất lượng vỏ Quế.

 - Kỹ thuật bóc vỏ cây: Dùng dao bóc vỏ để bóc một khoanh vỏ quanh thân cây, sát gốc cây, sau đó lại cắt một vòng phía trên cách vòng dưới từ 40 - 60 cm, giữa hai vòng cắt một đường thẳng dọc từ trên xuống, dùng dao tách nhẹ để vỏ bong ra.

 - Kỹ thuật chặt ngả cây: Chặt ngả cây phải đảm bảo không làm ảnh hưởng đến cây để lại.

 - Dùng dao bóc vỏ ra khỏi thân cây theo quy cách đã xác định từ 40 - 60 cm; khi lột vỏ ra khỏi thân cây cần nhẹ nhàng không để lòng thanh Quế bị xây xát, hai đầu không bị nứt, không bị thủng lỗ; lau sạch thanh Quế, lau khô nước lòng thanh Quế.

 - Vỏ sau khi khai thác xếp khít nên nhau, để vận chuyển ra khỏi khu rừng.

 4. Phân loại vỏ quế

 Vỏ Quế khai thác trên một cây thường được chia ra từ 3 - 4 loại sau đây:

 Phân loại theo vị trí thân cây

 - Loại 1 (Quế Trung Châu): Là vỏ Quế bóc ở thân cây hoặc đoạn thân cây cách gốc 1m đối với cây có đường kính trên 20 cm, đến vị trí phân cành. Đặc điểm là vỏ dày, nhiều dầu, vỏ thẳng đẹp, ít bị thủng lỗ và cong vênh.

 - Loại 2 (Quế Thượng Biểu): Là vỏ Quế bóc từ ngọn cây và các cành lớn của cây. Vỏ thường có nhiều vết nứt, lỗ thủng, bị cong vênh và hàm lượng tinh dầu trong vỏ cũng thấp hơn vỏ Quế loại 1.

 - Loại 3 (Quế Hạ Căn): Là vỏ Quế được bóc ra từ đoạn gốc dưới 1m đối với cây có đường kính trên 20cm. Vỏ thường dày, nhưng hàm lượng tinh dầu thấp, lớp biểu bì bên ngoài dầy.

 - Loại 4 (Quế Chi): Là vỏ Quế bóc từ những cành nhỏ.

Phân loại theo độ dày của vỏ

 - Quế loại A: Độ dày > 5 mm, chiều dài từ 40 - 60 cm; Quế thơm tự nhiên, vị cay ngọt, không bị vỡ dập, không thâm mốc, không sâu vỏ.

 - Quế loại B: Độ dày từ 2,5 - 5 mm, chiều dài từ 40 - 60 cm; Quế thơm tự nhiên, vị cay ngọt, không bị vỡ dập, không thâm mốc, không sâu vỏ.

 - Quế C: Độ dày dưới 2,5 mm, chiều dài từ 40 - 60 cm; Quế thơm tự nhiên, vị cay ngọt, không bị vỡ dập, không thâm mốc, không sâu vỏ.

 - Quế vụn: là các mảnh vỡ, gãy từ các loại quế A,B,C loại ra

 SƠ CHẾ VÀ BẢO QUẢN

 1. Sơ chế

 - Sau khi khai thác vỏ Quế đưa về khu vực rửa để làm sạch bụi bẩn và bào tử nấm mốc bám vào vỏ Quế, cần đưa vào sơ chế/chế biến ngay.

 - Quá trình rửa kết hợp với phân loại sản phẩm.

 - Vỏ Quế phải được phơi trên bạt, tuyệt đối không được phơi trên đất hoặc đường đi.

 - Sau khi phơi khô vỏ Quế được bó thành từng bó đưa vào chế biến hoặc bảo quản.

 2. Bảo quản

 - Sản phẩm sau khi phơi hoặc sấy khô và tạo dáng sẽ được phân loại và đóng gói vào các thùng gỗ có bọc túi polyetylen hoặc giấy hút ẩm. Khi đóng gói cần chú ý không làm các thanh Quế bị vỡ trong quá trình vận chuyển. Khi xếp phải đủ chặt để khi vận chuyển không va đập vào nhau gây hao hụt.

 - Sản phẩm sau khi sơ chế được bó thành các bó chắc chắn, dây bó 2 đầu với các loại Quế ống và đựng trong bao với Quế vụn. Cũng có thể dùng các bao tải có kích thước lớn (bao zumbo) đựng được 150 - 200 kg, sau đó lưu kho bảo quản được an toàn và thuận tiện.

 - Hàng lưu kho phải đặt trên kệ gỗ (Ballet) đóng, cách tường trên 30 cm, cách mặt đất trên 20 cm, dười trần nhà 50 cm, có phủ nylon bảo vệ, chống hút ẩm, chống bụi và côn trùng xâm nhập. Môi trường kho phải được giám sát chặt chẽ về nhiệt độ và độ ẩm để có biện pháp phòng chánh hư hại sản phẩm.

 - Nhà kho kín, sạch sẽ, cách xa nguồn ô nhiễm như chuồng gia súc, nhà vệ sinh hay nguồn ô nhiễm hóa chất và bảo đảm thoáng khí, tránh gần nơi ẩn náu của côn trùng và động vật gây hại. Nhà kho được kiểm tra côn trùng phá hoại thường xuyên với tần suất 3 tháng/lần.

 - Sử dụng các loại lưới để phòng tránh côn trùng gây hại hoặc đặt các loại bẫy để côn trùng và động vật gây hại. Thường xuyên kiểm tra bẫy, tiêu hủy xác côn trùng và động vật ngay khi phát hiện bằng cách chôn, có rắc vôi bột và lấp đất lên trên.

Hình ảnh minh họa

Chu Văn Trí - Trung tâm Khuyến nông


Tìm kiếm theo chuyên mục - nội dung - ngày tháng

Tin Nóng
Tin tiêu điểm

Lịch công tác trống

Website liên kết
Thống kê truy cập
Hôm nay: 977
Đã truy cập: 2108539