Nâng cao hiệu quả thực hiện Kết luận số 36-KL/TW ngày 23/6/2022 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh nguồn nước, an toàn đập hồ chứa nước

05/12/2022 09:59

      Cụ thể hóa và triển khai có hiệu quả Kết luận số 36-KL/TW ngày 23/6/2022 của Bộ Chính trị nhằm tạo chuyển biến căn bản về nhận thức, trách nhiệm và hành động của các cấp ủy, chính quyền địa phương, các cấp, ngành, tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp và nhân dân trên địa bàn tỉnh trong công tác bảo đảm an ninh nguồn nước, an toàn đập, hồ chứa nước; trên cơ sở đó xác định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ của các cấp, các ngành và người dân trong thực hiện công tác này; phát huy ưu điểm, kết quả đạt được trong thời gian qua và kịp thời chấn chỉnh, khắc phục những mặt còn hạn chế để thực hiện tốt hơn trong thời gian tới.

     

Bảo đảm an ninh nguồn nước và an toàn đập, hồ chứa nước trên cơ sở tôn trọng quy luật tự nhiên, lấy tài nguyên nước là cốt lõi, trong đó kết cấu hạ tầng về nước giữ vai trò quan trọng đặc biệt

      Ngày 23/6/2022, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 36-KL/TW về bảo đảm an ninh nguồn nước và an toàn đập, hồ chứa nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Nhằm cụ thể hóa và triển khai có hiệu quả Kết luận số 36-KL/TW ngày 23/6/2022, các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, trực tiếp là người đứng đầu cần xác định rõ vai trò, trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Kết luận số 36-KL/TW ngày 23/6/2022 của Bộ Chính trị; đổi mới tư duy trong hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát đối với an ninh nguồn nước, an toàn đập, hồ chứa nước, phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu, coi đây là nhiệm vụ trung tâm, cấp bách, lâu dài, liên tục, thống nhất và xuyên suốt từ chính quyền đến doanh nghiệp và người dân; một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm  cần triển khai thực hiện trong thời gian tới, như sau:

      Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng, sự quản lý, điều hành của chính quyền; nâng cao nhận thức về tầm quan trọng bảo đảm an ninh nguồn nước và an toàn đập, hồ chứa nước trong tình hình mới

      Xác định bảo đảm an ninh nguồn nước và an toàn đập, hồ chứa nước là yêu cầu tất yếu khách quan, là trách nhiệm và nghĩa vụ của cả hệ thống chính trị và toàn dân. Các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, phân cấp, phân quyền; xác định rõ trách nhiệm của các cấp, các ngành, tổ chức, cá nhân, nhất là người đứng đầu trong lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai quyết liệt, hiệu quả chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và các chỉ đạo của Trung ương và của Tỉnh về lĩnh vực bảo đảm an ninh nguồn nước, an toàn đập, hồ chứa nước. Tiếp tục quán triệt, triển khai thực hiện các Nghị quyết của Trung ương, Chương trình hành động của quốc gia, Chính phủ, của tỉnh, trong đó tập trung: Nghị quyết Trung ương V khoá XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Kết luận số 36-KL/TW ngày 23/6/2022 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh nguồn nước và an toàn đập, hồ chứa nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết của Quốc hội về bảo đảm an ninh nguồn nước; Quyết định số 33/QĐ-TTg ngày 07/01/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược thủy lợi Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết của Ban chấp hành Đảng bộ Tỉnh về bảo vệ môi trường, sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, đảm bảo an ninh nguồn nước, phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030; Quyết định số 45/QĐ-UBND ngày 07/01/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc phê duyệt Đề án nâng cao năng lực quản lý an toàn đập, hồ chứa nước thủy lợi trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, giai đoạn 2018-2025.

      Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục để cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là người đứng đầu cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp nhận thức đúng, đầy đủ về bảo đảm an ninh nguồn nước và an toàn đập, hồ chứa nước là nhiệm vụ quan trọng, vừa cấp bách, vừa lâu dài, liên quan trực tiếp đến đời sống nhân dân, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, trên cơ sở đó xác định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ của các cấp, các ngành và người dân trong thực hiện công tác này. Phát huy vai trò giám sát của người dân, cộng đồng; vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, nghề nghiệp trong tuyên truyền, vận động nhân dân quản lý, chủ động tích trữ, sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả.

      Hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về bảo đảm an ninh nguồn nước và an toàn đập, hồ chứa nước

      Rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách liên quan đến an ninh nguồn nước và an toàn đập, hồ chứa nước bảo đảm đồng bộ, khả thi. khắc phục chồng chéo, xung đột trong cơ chế phối hợp giữa các sở, ngành, địa phương; tăng cường phân cấp, giảm thủ tục hành chính. Xây dựng và ban hành quy định mức hỗ trợ đầu tư xây dựng công trình thủy lợi nhỏ, thủy lợi nội đồng và tưới tiên tiến, tiết kiệm nước; giá sản phẩm, dịch vụ thủy lợi theo cơ chế thị trường trên cơ sở nguyên tắc Nhà nước và nhân dân cùng làm, từng bước tính đúng, tính đủ giá dịch vụ thủy lợi theo quy định của Luật Thủy lợi, có lộ trình hỗ trợ hợp lý cho nông dân, hộ nghèo theo xu thế giảm dần sự bao cấp của Nhà nước.

      Sắp xếp, kiện toàn hệ thống tổ chức, bộ máy quản lý nguồn nước bảo đảm thống nhất, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả từ các cấp và sự phối hợp đồng bộ giữa các ngành, các cấp, địa phương. Thành lập, củng cố, kiện toàn các tổ chức thủy lợi cơ sở phù hợp với đặc thù của từng địa phương, quy mô hệ thống công trình, trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng và gắn với xây dựng nông thôn mới, phát huy vai trò chủ thể của người sử dụng sản phẩm, dịch vụ thủy lợi.

Tạo điều kiện, khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư, quản lý, vận hành kết cấu hạ tầng ngành nước, sản xuất và kinh doanh nước sạch

      Xây dựng và hoàn thiện chính sách khuyến khích thu hút nguồn lực để đầu tư các dự án trọng điểm liên kết, kết nối nguồn nước liên vùng; tạo điều kiện, khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư, quản lý, vận hành kết cấu hạ tầng ngành nước, sản xuất và kinh doanh nước sạch; kết hợp lồng ghép nguồn lực từ các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình, dự án đầu tư công để đầu tư xây dựng đập, hồ chứa nước đa mục tiêu; hoàn thiện hệ thống hạ tầng thuỷ lợi, cấp nước sinh hoạt, bảo đảm năng lực cấp nước, tiêu thoát nước, kết hợp phục hồi nguồn nước suy thoái, ô nhiễm. Có chính sách thu hút nguồn vốn đầu tư xây dựng công trình tích trữ nước, liên kết, kết nối nguồn nước và công trình bảo đảm an sinh xã hội. Bố trí đủ nguồn lực, trước hết là ngân sách nhà nước để nâng cấp, bảo đảm an toàn đập, hồ chứa nước trước các mùa mưa lũ.

      Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch thuỷ lợi, tài nguyên nước và điều tra cơ bản, đánh giá trữ lượng nguồn nước

      Tăng cường công tác quy hoạch, điều tra cơ bản, giám sát, kiểm kê, đánh giá trữ lượng nguồn nước, phục vụ hiệu quả công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ, chuyển đổi số để quản lý, điều tiết nguồn nước, ứng phó với thiên tai liên quan đến nước, thích ứng với biến đổi khí hậu; xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về nguồn nước, quản lý hệ thống công trình thủy lợi, nước sạch nông thôn; cơ sở dữ liệu quản lý an toàn đập, hồ chứa nước; phát triển hoàn thiện hệ thống thông tin cảnh báo sớm thiên tai tích hợp thông số tại các trạm đo mưa tự động và hệ thống camera trực tuyến giám sát mực nước tại các điểm xung yếu đồng thời bảo đảm sự kết nối, chia sẻ hiệu quả giữa các cấp, ngành, địa phương. Xây dựng kịch bản phát triển, giải quyết các tác động cực đoan về hạn hán, thiếu nước, lũ, ngập lụt, úng, ô nhiễm, suy thoái nguồn nước, bảo vệ môi trường nước; có giải pháp dài hạn cho các vùng có nguy cơ cao về mất an ninh nguồn nước.

      Chủ động tích trữ, điều hoà, phân phối nguồn nước, đáp ứng yêu cầu sử dụng nước phục vụ dân sinh và phát triển kinh tế - xã hội

      Cơ cấu lại các ngành, lĩnh vực sản xuất sử dụng nhiều nước; thực hiện các giải pháp tiết kiệm nước, tái sử dụng nước, theo dõi, giám sát chặt chẽ việc sử dụng nước sinh hoạt và sản xuất để giảm thất thoát, lãng phí; tăng cường thực hiện các biện pháp sử dụng nước trong sản xuất nông nghiệp tiết kiệm, hiệu quả; rà soát, chuyển đổi cơ cấu cây trồng chịu hạn, mặn, sử dụng ít nước cho những vùng khan hiếm nước.

      Đầu tư xây dựng công trình bảo vệ, kiểm soát nguồn nước, cấp, trữ nước, chuyển nước cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo, vùng khan hiếm nước, vùng bị ảnh hưởng lớn do biến đổi khí hậu. Đầu tư khép kín, hoàn chỉnh hệ thống công trình thuỷ lợi, bảo đảm chủ động trữ nước ngọt, điều hoà, phân phối nguồn nước trong nội tỉnh, liên vùng, phân bổ nước cho các vùng kinh tế trọng điểm. Xây dựng, hoàn thiện công trình cấp, thoát nước sinh hoạt nông thôn, đô thị, ưu tiên đầu tư cho khu vực chịu ảnh hưởng của thiên tai, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo; thực hiện giải pháp tích trữ nước quy mô nhỏ, hộ gia đình phục vụ sinh hoạt và sản xuất.

Thực hiện giải pháp tích trữ nước quy mô nhỏ, hộ gia đình phục vụ sinh hoạt và sản xuất, trong đó ưu tiên vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo

      Nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý, vận hành, bảo đảm an toàn đập, hồ chứa nước

      Hoàn thành sửa chữa, nâng cấp các đập, hồ chứa nước hư hỏng, xuống cấp, chưa đủ khả năng thoát lũ theo thiết kế, trong đó ưu tiên các công trình có nguy cơ rủi ro cao, lưu vực tập trung dòng chảy nhanh. Khẩn trương nghiên cứu xây dựng mới các đập, hồ chứa nước, công trình điều tiết nguồn nước tại các vùng thường xuyên xảy ra hạn hán, thiếu nước, để tích trữ nước, chuyển nước; nâng cấp, hiện đại hoá các công trình phòng, chống tác hại của nước, bảo đảm an toàn chống lũ, nước biển dâng kết hợp kiểm soát nguồn nước.

      Rà soát, đánh giá lại công năng, nhiệm vụ, quy trình vận hành của các đập, hồ chứa nước, nạo vét bồi lắng lòng hồ, bảo đảm dung tích phòng lũ của hồ chứa theo thiết kế. Hiện đại hoá hệ thống quan trắc, cảnh báo, cơ sở thông tin dữ liệu liên quan đến an ninh nguồn nước và an toàn đập, hồ chứa nước, kết nối với hệ thống quan trắc khí tượng, thuỷ văn để phục vụ quản lý, vận hành đập, hồ chứa nước theo thời gian thực. Tăng cường công tác quản lý, vận hành các đập, hồ chứa nước, bảo đảm an toàn công trình. Hoàn thành lắp đặt hệ thống giám sát vận hành, xây dựng bản đồ ngập lụt vùng hạ du đập, phương án ứng phó thiên tai và phương án ứng phó với tình huống khẩn cấp cho các đập, hồ chứa thủy lợi theo quy định tại Nghị định số 114/2018/NĐ-CP. Kiện toàn, củng cố tổ chức quản lý, khai thác đập, hồ chứa thủy lợi đáp ứng năng lực theo quy định của Luật Thủy lợi, Nghị định số 67/2018/NĐ-CP ngày 14/5/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thủy lợi. Không giao cho tổ chức, cá nhân không có đủ năng lực quản lý, khai thác đập, hồ chứa nước.

Tăng cường công tác quản lý, vận hành các đập, hồ chứa nước, bảo đảm an toàn công trình

      Phòng, chống, giảm thiểu tác động bất lợi do thiên tai liên quan đến nước và biến đổi khí hậu

      Tăng cường năng lực, chất lượng dự báo, cảnh báo thiên tai, nguy cơ mất an ninh nguồn nước theo thời gian thực; kịp thời cung cấp thông tin, dữ liệu, bảo đảm chủ động trong phát triển kinh tế - xã hội và dân sinh. Tăng cường chuyển đổi số, hiện đại hoá công tác quản lý, vận hành hệ thống công trình thuỷ lợi, hệ thống chống ngập đô thị, công nghiệp, khu dân cư; quản lý chặt chẽ việc khai thác cát, sỏi lòng sông, hồ chứa nước.

      Nâng cấp, hiện đại hoá mạng lưới quan trắc khí tượng thuỷ văn, chú trọng mạng lưới trạm thuỷ văn chuyên dùng. Xây dựng, củng cố, nâng cấp bảo đảm an toàn công trình thuỷ lợi, đê điều. Tiếp tục thực hiện hiệu quả Chương trình nâng cấp hệ thống đê sông; đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng các dự án di dân khẩn cấp phòng, chống lũ quét, sạt lở đất, sạt lở bờ sông, bờ biển.

      Nghiên cứu, phát triển, ứng dụng khoa học và công nghệ, chuyển đổi số trong bảo đảm an ninh nguồn nước, an toàn đập, hồ chứa nước

      Nghiên cứu, phát triển, ứng dụng công nghệ mới, tiên tiến, hiện đại, thông minh, vật liệu thân thiện với môi trường, phục vụ quản lý nguồn nước, bảo đảm an toàn đập, hồ chứa nước. Chú trọng ứng dụng thành tựu khoa học - công nghệ; đẩy mạnh chuyển đổi số để quản lý, điều tiết nguồn nước, ứng phó với thiên tai liên quan đến nước, thích ứng với biến đổi khí hậu. Ưu tiên ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ để tái sử dụng nước, phát triển, tạo nguồn nước mới, thu, tích trữ, điều tiết, điều hoà, chuyển nước, liên kết nguồn nước; sử dụng tiết kiệm nước, hiệu quả, an toàn, tuần hoàn, giảm thất thoát nước, tăng hiệu quả sử dụng nước; giám sát, quan trắc an toàn cho hệ thống hồ, đập và mạng lưới khí tượng thuỷ văn và hệ thống quan trắc, cảnh báo động đất, sóng thần; quản lý hiệu quả nhu cầu sử dụng nước trong các ngành kinh tế, nhất là trong nông nghiệp. Xây dựng cơ chế, chính sách đào tạo, đãi ngộ, thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao; tổ chức triển khai thực hiện hiệu quả Chương trình khoa học công nghệ phục vụ bảo đảm an ninh nguồn nước và an toàn đập, hồ chứa nước.

      Tăng cường bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn sinh thuỷ, phòng, chống ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước

      Kiểm soát, giám sát chặt chẽ các nguồn thải, chất thải xả vào nguồn nước, nhất là nước thải sinh hoạt, công nghiệp. Đánh giá khả năng chịu tải, phân vùng xả thải, hạn ngạch xả nước thải; xác định mục tiêu, lộ trình giảm xả thải vào nguồn nước, công trình thuỷ lợi không còn khả năng chịu tải.

      Xây dựng và triển khai lộ trình cấm sử dụng các loại hoá chất độc hại gây ô nhiễm nguồn nước; quản lý chặt chẽ khai thác nước ngầm ở khu vực có nguy cơ xâm nhập mặn, sụt lún đất. Đẩy nhanh việc cải tạo, phục hồi các nguồn nước bị suy thoái, ô nhiễm nghiêm trọng, bảo vệ nguồn nước. Quản lý chặt chẽ, bảo vệ và phục hồi rừng tự nhiên gắn với bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ cảnh quan, môi trường sinh thái. Nâng cao chất lượng rừng trồng, phát triển trồng rừng gỗ lớn, lâm sản ngoài gỗ; bảo vệ, phát triển rừng đầu nguồn phù hợp với thực tế quản lý. Tiếp tục nâng cao chất lượng hệ thống rừng đặc dụng, phòng hộ, phát triển rừng phòng hộ ven biển để phát huy hiệu quả chức năng phòng hộ, bảo vệ môi trường sinh thái và tính đa dạng sinh học, bảo vệ và phát triển bền vững nguồn sinh thuỷ, các hệ sinh thái ngập nước quan trọng

      Đẩy mạnh hợp tác quốc tế về đảm bảo an ninh nguồn nước

      Chủ động, tham gia, hợp tác có hiệu quả với các đối tác, tổ chức quốc tế về an ninh nguồn nước, quản lý an toàn đập, hồ chứa nước, trong đó tập trung vào hợp tác phòng chống và giảm nhẹ thiên tai liên quan đến nước, dự báo, giám sát nguồn nước, đánh giá tác động hoạt động phát triển thượng nguồn các lưu vực sông; hợp tác giáo dục, chuyển giao công nghệ, chia sẻ kinh nghiệm, chính sách về an ninh nguồn nước, an toàn đập, hồ chứa thủy lợi. Phối hợp thực hiện quản lý vệ sinh môi trường, chống ô nhiễm nguồn nước sông, phòng ngừa ứng phó sự cố môi trường nước xuyên biên giới. Vận động và sử dụng hiệu quả nguồn tài trợ quốc tế thông qua hợp tác song phương và đa phương trong thực hiện các giải pháp đảm bảo an ninh nguồn nước, an toàn đập, hồ chứa nước. Kêu gọi các tổ chức quốc tế hỗ trợ vốn vay ưu đãi để đầu tư, nâng cấp sửa chữa, quản lý vận hành các công trình cấp nước; tham gia hợp tác khu vực và toàn cầu về biến đổi khí hậu./.

Thành Minh


Tìm kiếm theo chuyên mục - nội dung - ngày tháng

Tin Nóng
Tin tiêu điểm

Lịch công tác trống

Website liên kết
Thống kê truy cập
Hôm nay: 47
Đã truy cập: 2416514