Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) Khu vực I nông, lâm, thủy sản 6 tháng đầu năm 2023 duy trì ổn định ở mức khá, ước đạt 4,48%

13/07/2023 11:12

       Ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Ninh 6 tháng đầu năm 2023 triển khai thực hiện nhiệm vụ trong bối cảnh nhiều thuận lợi đan xen những khó khăn, thách thức khó lường. Tuy nhiên, với tinh thần đoàn kết, tư duy đổi mới, cách làm sáng tạo, khoa học, toàn ngành đã đạt được những kết quả quan trọng, toàn diện góp phần vào tăng trưởng chung của Tỉnh và đảm bảo an sinh xã hội, phấn đấu thực hiện thành công chủ đề công tác năm “Nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư và chất lượng đời sống nhân dân”.

      Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) ước đạt 4,48%, cao hơn 1,2 điểm % cùng kỳ (cùng kỳ tăng 3,28%); cao hơn 0,52 điểm % kịch bản tăng trưởng 6 tháng của tỉnh (kịch bản 3,96%); chiếm tỷ trọng 4,9% trong GRDP, đóng góp 0,23 điểm % tăng trưởng GRDP của tỉnh. Toàn ngành đã tập trung đẩy mạnh cơ cấu lại ngành nông nghiệp, phát triển toàn diện, bền vững trên tất cả các lĩnh vực; hoàn thành đạt và vượt kế hoạch 8/8 chỉ tiêu chủ yếu, trong đó 6/8 chỉ tiêu hoàn thành ở mức cao vượt so với cùng kỳ và kịch bản tăng trưởng như: tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP)  khu vực I; tổng sản lượng thủy sản, tập trung vào sản lượng nuôi trồng thủy sản; sản lượng khai thác gỗ rừng trồng; sản lượng thịt hơi xuất chuồng, duy trì tỷ lệ che phủ; diện tích tưới tiêu vụ Đông Xuân. 

      Giá trị sản xuất lĩnh vực nông nghiệp ước đạt 3.449 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 47,85% trong cơ cấu ngành; giá trị tăng thêm ước đạt 153 tỷ đồng, tăng trưởng ước đạt 1,44%. Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ Đông Xuân 2022-2023 ước đạt 32.940 ha cây các loại, bằng 99,94% cùng kỳ. Tổng sản lượng lương thực cây có hạt ước đạt 104 nghìn tấn, bằng  97,3% cùng kỳ. Toàn tỉnh đã thực hiện chuyển đổi 456 ha diện tích đất trồng lúa kém hiệu quả sang trồng cây ngô và cây rau hoa màu các loại. Chuyển đổi cơ cấu cây trồng truyền thống sang các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao, đa dạng và chuyên canh nhằm tăng hiệu quả sử dụng đất, tăng giá trị trên một đơn vị diện tích, nâng cao hiệu quả sản xuất (lúa chất lượng cao Japonica 110 ha; cây ăn quả 7.310 ha, chè 1.056,5 ha...); dịch bệnh trên cây trồng được kiểm soát tốt, giảm so với cùng kỳ. Quy hoạch 17 vùng sản xuất nông nghiệp tập trung, 46 vùng trồng đủ điều kiện xuất khẩu; duy trì 1.095 ha diện tích trồng trọt, nông nghiệp hữu cơ được chứng nhận VietGAP với 94 cơ sở; 07 cơ sở đóng gói quả tươi với chất lượng sản phẩm nông sản ngày càng được nâng cao và có chỗ đứng ổn định trên thị trường tiêu thụ. Triển khai Đề án Phát triển nông nghiệp hữu cơ tỉnh Quảng Ninh đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, với mục tiêu sản xuất ra các sản phẩm hữu cơ đạt tiêu chuẩn để nâng giá trị đóng góp vào GRDP của ngành nông nghiệp trong cơ cấu nền kinh tế.

      Chăn nuôi chuyển biến rõ nét về phương thức chăn nuôi đã được cơ cấu lại, chuyển dần từ chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán sang chăn nuôi quy mô lớn, chăn nuôi nông hộ, áp dụng khoa học công nghệ; chăn nuôi hữu cơ gắn với các giống đặc sản bản địa có giá trị kinh tế cao gắn với an toàn dịch bệnh, nâng cao chất lượng sản phẩm, giá trị kinh tế, các doanh nghiệp chăn nuôi lớn duy trì tổng đàn, đáp ứng tiêu thụ nội tỉnh. Ước tính tổng đàn gia súc, gia cầm hiện có trên 47,2 triệu con, tăng 1,63% cùng kỳ. Tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng các loại ước đạt 46.450 tấn, tăng 3,6% cùng kỳ, chủ yếu tăng sản lượng gia cầm 12,3%, bò 12,1%, trâu 11%; sản lượng thịt lợn tương đương cùng kỳ. Hiện tại giá thức ăn chăn nuôi đang có xu hướng giảm, giá các sản phẩm chăn nuôi bắt đầu tăng từ tháng 5/2023 do nhu cầu tiêu thụ cao trong mùa du lịch, người chăn nuôi bắt đầu có lãi và tiếp tục tăng đàn vật nuôi. Mặc dù có phát sinh một số ổ dịch trên gia súc, gia cầm và thủy sản nhưng đều được kịp thời phát hiện và khống chế không lây lan rộng. 

Nông dân xã Đồn Đạc, huyện Ba Chẽ chuẩn bị cây giống trồng rừng

      Giá trị sản xuất lĩnh vực Lâm nghiệp ước đạt 516 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 7,15% trong cơ cấu ngành nông nghiệp; giá trị tăng thêm ước đạt 336 tỷ đồng, tăng trưởng ước đạt cao 8,73%. Công tác phát triển rừng tiếp tục được quan tâm chỉ đạo thực hiện, đẩy mạnh trồng, chăm sóc, khoanh nuôi tái sinh và nâng cao chất lượng rừng trồng. Diện tích rồng rừng tập trung toàn tỉnh ước đạt 9.460 ha, bằng 96,7% cùng kỳ. Trong đó có 631,87 ha Lim, Giổi, Lát, đạt 31,59% chỉ tiêu UBND tỉnh giao 2.000 ha, bằng 49% so với cùng kỳ. Do ảnh hưởng của hiện tượng thời tiết El Nino, nắng nóng kéo dài, kèm theo mưu lớn đã ảnh hưởng lớn đến tiến độ trồng rừng, thời điểm trồng lùi so với năm trước. Duy trì tỷ lệ che phủ rừng hàng năm cao đạt 55% và nâng cao chất lượng rừng, cao hơn mặt bằng chung của cả nước. Sản lượng khai thác gỗ rừng trồng đạt cao 447.768 m3, tăng 25,4% cùng kỳ.

       Giá trị sản xuất lĩnh vực thủy sản ước đạt 3.243 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng cao 45% trong cơ cấu ngành nông nghiệp; giá trị tăng thêm ước đạt 1.789 tỷ đồng, tăng trưởng lĩnh vực thủy sản ước đạt 6,4%. Tổng sản lượng 6 tháng đầu năm ước đạt cao 89.770 tấn, tăng 5,5% cùng kỳ, tăng 20% kịch bản, chiếm tỷ trọng cao, đóng góp lớn vào tăng trưởng của ngành, tập trung chủ yếu vào nuôi trồng thủy sản. 

Nuôi tôm ứng dụng công nghệ cao tại Tập đoàn Việt Úc – xã Tân Lập – huyện Đầm Hà

      Điều chỉnh cơ cấu nuôi hợp lý, phát triển các vùng nuôi tôm, cá tập trung ứng dụng công nghệ cao, công nghệ thân thiện với môi trường. Sản lượng nuôi trồng ước đạt 52.473 tấn, chiếm 59% tổng sản lượng thủy sản, tăng 9,2% cùng kỳ. Diện tích nuôi trên địa bàn tỉnh đạt 32.092 ha với 10.443 cơ sở nuôi trồng thuỷ sản. Đối tượng nuôi chủ lực: tôm thẻ chân trắng, nhuyễn thể (Hầu Thái Bình Dương, Hàu cửa sông); cá biển (Song, Giò, Chim vây vàng); một số loài thủy sản khác có giá trị kinh tế cao (Sá sùng, ốc đá, ốc đụn, ốc nhảy trắng, bào ngư, hải sâm…). Công bố hợp quy cho 17 đơn vị cung ứng vật liệu nổi cho người dân trên địa bàn tỉnh. Đã thực hiện chuyển đổi từ phao xốp sang phao nhựa theo quy chuẩn là 2.273.879/2.418.326, đạt tỷ lệ 94,02%. 

Các địa phương tích cực thực hiện chuyển đổi phao xốp sang phao nhựa theo quy chuẩn

      Cơ cấu lại hoạt động khai thác, phương tiện đánh bắt phù hợp với trữ lượng nguồn lợi thủy sản, đẩy mạnh phát triển đội tàu khai thác xa bờ, tạo điều kiện cho ngư dân vươn khơi bám biển, ổn định sản xuất. Sản lượng khai thác ước đạt 37.297 tấn, tăng 0,7% cùng kỳ. Sắp xếp cơ cấu lại đội tàu khai thác, rà soát công tác đăng ký, đăng kiểm, cấp giấy phép khai thác và cấp chứng nhận an toàn thực phẩm đến nay toàn tỉnh có: 6005 tàu giảm 1.964 tàu so với 01/01/2022. Tập trung khắc phục được cơ bản những tồn tại IUU: (1) Tập trung đăng ký, đăng kiểm đội tàu do cấp huyện quản lý (tàu cá có chiều dài từ 06m đến dưới 12m ) hoạt động tại vùng ven bờ 3.772 tàu; đăng ký chính thức 2.260 tàu (đạt 59,9%), đăng ký tạm thời 1.512 tàu; cấp phép khai thác 1.775/3772 tàu (đạt 46,5%). (2) Tỉ lệ giám sát sản lượng lên cảng còn thấp mới đạt khoảng 11,7%%; có 10 điểm kiểm soát tàu cá tạm thời tại 09 huyện, thị xã, thành phố ven biển: Móng Cái, Hải Hà, Đầm Hà, Tiên Yên, Vân Đồn, Cẩm Phả, Cô Tô, Hạ Long, Quảng Yên. Toàn tỉnh hiện có 12 khu neo đậu tránh trú bão. Đã có 04 khu neo đậu tránh trú bão được công bố, còn 08 khu neo đậu cần được đầu tư và hoàn thiện để đáp ứng các tiêu chí công bố khu neo đậu và cảng cá theo quy định.

      Hiện nay trên địa bàn tỉnh đã hoàn thành kế hoạch sản xuất vụ Đông Xuân; diện tích tưới tiêu vụ Đông Xuân trên địa bàn tỉnh đạt 99,6%. Nguồn nước ở các hồ chứa và các sông, suối đủ đảm bảo phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và sinh hoạt, công nghiệp. Toàn tỉnh có 262 công trình cấp nước sinh hoạt tập trung; kết quả cấp nước các công trình đến thời điểm hiện tại Bộ chỉ số nước sinh hoạt nông thôn: (1) Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nước hợp vệ sinh: 99,96%. Trong đó: Tỷ lệ sử dụng từ công trình cấp nước tập trung 61,94%, tỷ lệ sử dụng từ công trình cấp nước nhỏ lẻ 38,03%; (2) Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nước sạch đáp ứng QCVN 01-1:2018/BYT: 86,37%. Trong đó: Tỷ lệ sử dụng từ công trình cấp nước tập trung 58,23%, tỷ lệ sử dụng từ công trình cấp nước nhỏ lẻ 28,14%; (3) Tỷ lệ hộ nghèo sử dụng nước hợp vệ sinh: 100%.

      Mặc dù có nhiều khó khăn, thách thức nhưng ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vẫn nỗ lực phấn đấu 6 tháng cuối năm tốc độ tăng trưởng GRDP toàn ngành cả năm đạt 4,21 – 5,03%, góp phần vào tăng trưởng chung của Tỉnh và đảm bảo an sinh xã hội./.

 

Nguyễn Thị Phương Huyền - KHTC


Tìm kiếm theo chuyên mục - nội dung - ngày tháng

Tin Nóng
Tin tiêu điểm

Lịch công tác trống

Website liên kết
Thống kê truy cập
Hôm nay: 737
Đã truy cập: 4604775