Nghiệm thu nuôi tôm thẻ chân trắng 3 giai đoạn đảm bảo an toàn thực phẩm

30/10/2023 15:10

      Quảng Ninh là một trong 7 tỉnh/thành phố nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ (Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh), có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của cả nước. Thành phố Hạ Long cách Thủ đô Hà Nội 150 km, cách sân bay Quốc tế Nội Bài 120 km, cách hệ thống cảng biển Hải Phòng và sân bay Cát Bi khoảng 80 km. Quảng Ninh có đường bờ biển dài 250 km; 6.100 km2 mặt biển, có biên giới cả trên đất liền và trên biển với Trung Quốc (khoảng 120 km trên đất liền, 191 km trên biển), có 03 khu kinh tế cửa khẩu (Móng Cái, Hoành Mô, Bắc Phong Sinh), 4 cảng khẩu trên biển (Cẩm Phả, Cái Lân, Hòn Gai, Vạn Gia) ... là điều kiện thuận lợi giúp Quảng Ninh trở thành trung tâm trung chuyển hàng hoá xuất khẩu của miền Bắc sang thị trường Quốc tế, đặc biệt với Trung Quốc, trong đó có mặt hàng thuỷ sản.

      Quảng Ninh là một trong những tỉnh đi đầu trong cả nước về nuôi tôm thẻ chân trắng công nghiệp. Diện tích nuôi tôm nước lợ trong tỉnh ước đạt 7500 ha (chiếm 23% diện tích nuôi trồng thủy sản toàn tỉnh); trong đó: Diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng là 4700 ha với phương thức thâm canh là chính và một số ít bán thâm canh; Diện tích nuôi tôm sú là 2800 ha với phương thức chủ yếu là nuôi quảng canh và quảng canh cải tiến. Năng suất trung bình ước đạt 2,26 tấn/ha; Trong đó tôm thẻ chân trắng 3,47 tấn/ha, tôm sú khoảng 0,24 tấn/ha.

       Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Quảng Ninh đã xây dựng, ban hành lịch thời vụ, giới thiệu các cơ sở giống uy tín, chất lượng trong và ngoài tỉnh để phục vụ nhu cầu của ngư dân đồng thời hướng dẫn các biện pháp phòng ngừa, xử lý khi có dịch bệnh tôm xảy ra nên đã hạn chế được các rủi ro do thiên tai, dịch bệnh. Công tác kiểm dịch giống được tăng cường, mạng lưới dịch vụ cung cấp giống, thức ăn, thuốc phòng trị bệnh, các hoá chất và chế phẩm sinh học tiếp tục được phát triển rộng trên toàn địa bàn tỉnh. Người nuôi tôm cũng thường xuyên được cung cấp thông tin, tập huấn kỹ thuật nâng cao trình độ, kinh nghiệm...từ đó nhiều tổ chức, hộ dân đã mạnh dạn đầu tư, nâng cấp, mở rộng cơ sở hạ tầng ao đầm nuôi làm diện tích nuôi thâm canh của tỉnh ngày càng được mở rộng. Việc tuân thủ các quy định, quy trình kỹ thuật, lịch thời vụ, kiểm dịch con giống được người dân ý thức và áp dụng vào thực tế sản xuất có hiệu quả.

      Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi trên, nuôi tôm những năm gần đây là một nghề rủi ro rất cao do dịch bệnh. Do đó, để bắt đầu vào nghề nuôi tôm, ngoài việc xây dựng hệ thống công trình thì người nuôi phải tìm hiểu, nghiên cứu rất nhiều về đặc điểm sinh học, sinh trưởng của con tôm: Với quy trình nuôi tôm hiện nay thì mọi yếu tố ảnh hưởng đến tôm nuôi đều có thể kiểm soát tốt, duy chỉ có điều kiện thời tiết như: nhiệt độ, mưa bão, nắng hạn… và dịch hại (do chim, cò là tác nhân mang lại) là chưa chủ động phòng, chống được. Đây là nguyên nhân khiến tôm nuôi dễ phát sinh dịch bệnh, mức độ rủi ro cao”. Bên cạnh đó, thực tế cũng cho thấy, tôm nuôi 1 tháng tuổi có tỷ lệ hao hụt rất cao, dịch bệnh xảy ra phổ biến nhất trong giai đoạn này, để việc sử dụng ao nuôi hợp lý là yêu cầu đặt ra để đạt năng suất tôm nuôi cao nhất. Hơn nữa, muốn thả tôm với mật độ cao để nâng cao năng suất tôm thì điều trở ngại là hàm lượng oxy khi sử dụng bằng quạt nước thông thường kết hợp với sử dụng máy sục khí cũng không đáp ứng được yêu cầu oxy của tôm nuôi. 

Mô hình Nuôi tôm thẻ chân trắng 3 giai đoạn đảm bảo an toàn thực phẩm gắn với liên kết tiêu thụ sản phẩm tại phường Tân An, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh

      Quy trình nuôi tôm 3 giai đoạn nuôi. Giai đoạn 1 (25 ngày) tôm được bố trí nuôi trong hệ thống bể xi măng (hoặc bể bạt) bố trí trong nhà có mái che kín để hạn chế đến mức thấp nhất tác động của thời tiết lên tôm nuôi.

      - Giai đoạn ương nuôi tôm giống (giai đoạn 1): Mật độ ương TB 2.000 con/m2 ; Cỡ tôm ương PL10 - 12; Thời gian ương từ 25 - 30 ngày khi tôm giống đạt cỡ 1.000 - 2.000 con/kg; Tỷ lệ sống 80- 85%; diện tích 1000m2

      - Giai đoạn ương nuôi tôm giống (giai đoạn 2): Mật độ ương TB 600 con/m2; Cỡ tôm ương: giống đạt cỡ 1.000 - 2.000 con/kg;  Thời gian ương từ 25 - 30 ngày khi tôm giống đạt cỡ 600 - 800 con/kg; Tỷ lệ sống 85 - 90%. Diện tích 3000m2.

      - Giai đoạn nuôi tôm thương phẩm (giai đoạn 3): Mật độ nuôi TB 250 con/m2; Cỡ tôm giống 300 - 200 con/kg; Thời gian nuôi: 25 - 30 ngày.

      Đây là một quy trình công nghệ mới đang được áp dụng có hiệu quả rất cao tại các tỉnh phía Nam. Việc áp dụng mô hình  nuôi tôm ba giai đoạn” không những tăng sản lượng tôm thẻ/vụ nuôi, tăng số vụ/năm, mà còn giúp giảm thiểu tác động tới môi trường nâng cao năng suất và hiệu quả nuôi góp phần quan trọng vào việc thực hiện các mục tiêu và nội dung đã đề ra trong Nghị Quyết số 13NQ/TU ngày 06/5/2014 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh về phát triển kinh tế thủy sản tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. 

Lãnh đạo Sở NN & PTNT, Chi cục Thủy sản xuống thăm mô hình Nuôi tôm thẻ chân trắng 3 giai đoạn đảm bảo an toàn thực phẩm gắn với liên kết tiêu thụ sản phẩm tại phường Tân An, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh

      Kết quả sinh trưởng phát triển tôm thẻ chân trắng: Qua theo dõi thực tế các chỉ tiêu sinh trưởng phát triển của tôm trong mô hình cho thấy đàn tôm lớn đồng đều, sinh trưởng phát triển khỏe và nhanh hơn 15-20% so với cách nuôi thông thường. Hiện nay, sau 97 ngày nuôi tôm đạt trọng lượng:   20g/con; tỷ lệ sống: 78%;    dự kiến sản lượng: 17.160 kg/5.500m2

      Trong quá trình thực hiện mô hình theo công nghệ  dùng vi sinh, ít thay nước, ít tác động đến môi trường bên ngoài, tân dụng tối đa dinh dưỡng từ thức ăn, tôm sinh trưởng phát triển tốt, sản phẩm tôm thịt không chứa chất kháng sinh, hóa chất độc hại.

      Mô hình thành công góp phần tăng thu nhập kinh tế hộ gia đình, đồng thời là địa điểm thăm quan, học tập trao đổi kinh nghiệm phát triển nuôi tôm tại địa phương. 

Lãnh đạo Sở NN & PTNT, Chi cục Thủy sản tham gia buổi Nghiệm thu mô hình Nuôi tôm thẻ chân trắng 3 giai đoạn

       Những thuận lợi trong quá trình thực hiện mô hình: (1) Mô hình được sự quan tâm, chỉ đạo của các cấp chính quyền từ tỉnh đến cơ sở, các ban ngành liên quan và các đơn vị cam kết thực hiện. (2) Mô hình triển khai trên tinh thần tham gia tự nguyện và được người dân nhiệt tình ủng hộ; Nông dân tham gia thực hiện là những hộ đã có kinh nghiệm trong nuôi tôm lâu năm, cam kết thực hiện mô hình theo đúng quy trình kỹ thuật được hướng dẫn. (3) Mô hình được triển khai trên qui mô nông hộ, hệ thống đường giao thông đi lại thuận tiện cho việc kiểm tra, theo dõi, chăm sóc,...

       Bên cạnh những thuận lợi, còn có những khó khăn, hạn chế: (1) Trong thời gian vừa qua tình hình bệnh dịch tôm phát triển mạnh và thời tiết thay đổi nên ảnh hưởng đến sự quản lý các yếu tố môi trường trong ao và các biện pháp phòng trị bệnh cho tôm. (2) Việc thực hiện ghi chép nhật ký của chủ hộ chưa quen với thực tế nên giai đoạn đầu cán bộ kỹ thuật thường xuyên bám sát hướng dẫn và nhắc nhở kỹ thuật thực hiện.

       Các giải pháp trong thời gian tới: Qui hoạch vùng nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh theo hướng công nghệ và đảm bảo an toàn thưc phẩm. 

       - Hệ thống chính quyền các cấp, các tổ chức chính trị xã hội cần tăng cường công tác chỉ đạo, tuyên truyền nông dân tiếp tục ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, giảm chi phí đầu tư, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao giá trị cạnh tranh trên thị trường.

       - Tăng cường công tác phối kết hợp với các cơ quan chuyên môn để chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật mới ứng dụng vào trong sản xuất, cũng như định hướng theo hướng hàng hóa tập trung, liên kết sản xuất,... cho người trực tiếp sản xuất.

       - Xây dựng các mô hình nuôi thủy sản tập trung để quản lý, chỉ đạo sản xuất, tiêu thụ cũng như làm đại diện trong quá trình thực hiện liên kết sản xuất.

      - Đối với người nuôi tôm cần nâng cao ý thức, trách nhiệm đối với nuôi  tôm tập trung, tăng cường ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất để nâng cao năng suất, chất lượng, tạo ra sản phẩm có tính chất hàng hóa (số lượng lớn, chất lượng ổn định,…); Đồng thời, chủ động để mở rộng thị trường tiêu thụ, giảm thiểu rủi ro trong nuôi trồng thủy sản./.

 

Lương Văn Chữ - CCTS


Tìm kiếm theo chuyên mục - nội dung - ngày tháng

Tin Nóng
Tin tiêu điểm

Lịch công tác trống

Website liên kết
Thống kê truy cập
Hôm nay: 604
Đã truy cập: 3048394