Tại Quảng Ninh, cá song (mú trân châu) được lựa chọn là đối tượng nuôi chủ lực bởi phù hợp với điều kiện sinh thái, có tốc độ sinh trưởng nhanh, ít bệnh, chất lượng thịt ngon và giá trị kinh tế cao. Sau khoảng 8-10 tháng nuôi, cá có thể đạt kích cỡ trên 1,1 kg/con, đáp ứng tốt nhu cầu thị trường trong nước cũng như xuất khẩu.
Việc áp dụng mô hình nuôi cá song bằng lồng HDPE, sử dụng thức ăn công nghiệp gắn với liên kết tiêu thụ sản phẩm mang ý nghĩa quan trọng: nâng cao hiệu quả kinh tế cho người dân, giảm thiểu rủi ro, bảo đảm tính bền vững và từng bước hình thành chuỗi giá trị nuôi biển hiện đại.

Cán bộ Khuyến nông cùng hộ nuôi kiểm tra sinh trưởng của cá
Năm 2025 là năm đầu thực hiện dự án khuyến nông Trung ương: “Xây dựng mô hình nuôi cá song (mú trân châu) bằng lồng HDPE trên biển đạt chứng nhận VietGAP gắn với tiêu thụ sản phẩm” do Trung tâm Khuyến nông Hải Phòng chủ trì. Trung tâm Khuyến nông và Quản lý Bảo vệ, phát triển rừng đã tổ chức triển khai xây dựng mô hình tại đặc khu Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh, với quy mô 315 m³ lồng HDPE (mật độ thả 20 con/m3). Mô hình thực hiện trong thời gian 10 tháng, từ khâu khảo sát địa điểm, lựa chọn hộ nuôi, thả giống, theo dõi kỹ thuật đến thu hoạch, đánh giá và tổ chức hội nghị tổng kết mô hình. Hộ nuôi được hỗ trợ 70% vật tư thiết yếu (con giống, thức ăn, chế phẩm sinh học, tư vấn - đánh giá VietGAP, pano nhận diện, tập huấn và hội nghị), còn 30% là vốn đối ứng của hộ dân, cùng toàn bộ nhân công chăm sóc và quản lý trong quá trình nuôi. Cơ chế hỗ trợ - đối ứng này tạo sự linh hoạt, giảm gánh nặng chi phí cho người nuôi nhưng vẫn đảm bảo tính chủ động, trách nhiệm và bền vững của mô hình.


Nghiệm thu mô hình nuôi cá song trân châu tại hộ nuôi
Trong quá trình triển khai mô hình, các hộ tham gia luôn tuân thủ đầy đủ quy trình kỹ thuật và các hướng dẫn của cán bộ khuyến nông; tổ chức nuôi theo đúng các tiêu chí của tiêu chuẩn VietGAP, đảm bảo an toàn sinh học và chất lượng sản phẩm: Sử dụng lồng HDPE đáp ứng yêu cầu an toàn trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt, đặc biệt là mùa bão; Cá giống được tuyển chọn từ cơ sở sản xuất giống đủ điều kiện theo quy định. Trước khi thả nuôi, cá được thuần hoá môi trường và tắm nước ngọt/iodine nhằm hạn chế mầm bệnh, nâng cao tỷ lệ sống; Thường xuyên theo dõi các yếu tố môi trường như độ mặn, nhiệt độ, ôxy hòa tan; vệ sinh lồng định kỳ 20 - 30 ngày để hạn chế vật bám; Sử dụng thức ăn công nghiệp có hàm lượng đạm 45-50%, cho ăn 2 lần/ngày; quan sát khả năng bắt mồi của cá để điều chỉnh khẩu phần phù hợp. Áp dụng biện pháp phòng bệnh tổng hợp, sử dụng các chế phẩm sinh học và hạn chế tối đa việc sử dụng kháng sinh; Ghi chép đầy đủ nhật ký nuôi, cập nhật thường xuyên các chỉ tiêu tăng trưởng, tỷ lệ sống, lượng thức ăn.
Kết quả thực hiện dự án năm 2025 cho thấy hiệu quả cao hơn so với các chỉ tiêu kỹ thuật và kinh tế đề ra. Sau 8 tháng nuôi, tỷ lệ sống của cá đạt 75,5%; cỡ thu hoạch trung bình 1,15 kg/con; năng suất đạt 17 kg/m³, vượt 11,6% so với kế hoạch ban đầu. Sản phẩm của mô hình khi thu hoạch được liên kết bao tiêu 100%, giúp người nuôi yên tâm sản xuất. Đáng chú ý, hộ tham gia đmô hình được hướng dẫn, thẩm định và cấp chứng nhận VietGAP; quy mô nhân rộng mô hình năm 2025 đạt 158,7%, khẳng định tính khả thi và sức lan tỏa trong cộng đồng ngư dân.
Mô hình nuôi cá song (mú trân châu) bằng lồng HDPE trên biển gắn với tiêu thụ sản phẩm bước đầu đã chứng minh được tính hiệu quả, bền vững và phù hợp với định hướng phát triển nuôi biển công nghiệp của tỉnh. Mô hình không chỉ mang lại giá trị kinh tế cao, giảm thiểu rủi ro cho người nuôi mà còn góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo việc làm ổn định và thúc đẩy tăng trưởng ngành thuỷ sản.
Kết quả đạt được trong năm 2025 khẳng định mô hình có tính khả thi cao, phù hợp với định hướng phát triển nuôi biển công nghiệp, an toàn và bền vững của tỉnh. Để mô hình được nhân rộng, đóng góp tích cực vào mục tiêu phát triển kinh tế biển bền vững và nâng cao thu nhập cho ngư dân Quảng Ninh cần có sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan chức năng, đơn vị khoa học và người nuôi. Trung tâm Khuyến nông và Quản lý Bảo vệ, phát triển rừng tiếp tục triển khai dự án trong năm 2026-2027 và hoàn thiện quy trình kỹ thuật, bổ sung cơ sở dữ liệu phục vụ nhân rộng mô hình; các đơn vị chuyên môn tăng cường giám sát môi trường vùng nuôi, hướng dẫn áp dụng VietGAP đồng bộ và kiểm soát giống, thức ăn, dịch bệnh. Đồng thời, các địa phương cần quan tâm quy hoạch và quản lý vùng nuôi, hỗ trợ hạ tầng phục vụ chuyển đổi sang lồng HDPE; doanh nghiệp tiếp tục tham gia chuỗi liên kết để bảo đảm tiêu thụ sản phẩm ổn định và nâng cao giá trị cá song trân châu./.
Nguyễn Thị Ngần (Trung tâm Khuyến nông và Quản lý Bảo vệ, phát triển rừng)