Đồng bộ hóa chủ trương của Trung ương với chiến lược phát triển xanh của Quảng Ninh
Những năm gần đây, bảo tồn đa dạng sinh học và phục hồi hệ sinh thái rừng ngập mặn đã trở thành định hướng xuyên suốt trong các chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước cũng như chiến lược phát triển của tỉnh Quảng Ninh.

Kiểm tra rừng ngập mặn
Nghị quyết số 36-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 xác định rõ yêu cầu “bảo tồn và phục hồi các hệ sinh thái biển, ven biển quan trọng”, coi đây là nền tảng cho tăng trưởng xanh và phát triển kinh tế biển hiện đại.
Tiếp đó, Quyết định số 149/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã nhấn mạnh nhiệm vụ phục hồi hệ sinh thái tự nhiên bị suy thoái, tăng cường bảo vệ rừng ngập mặn, sử dụng bền vững tài nguyên sinh học và nâng cao khả năng chống chịu của cộng đồng trước biến đổi khí hậu.
Đối với ngành Nông nghiệp và Môi trường, định hướng xuyên suốt hiện nay là phát triển nông nghiệp sinh thái, kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh gắn với bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và giảm phát thải khí nhà kính. Trong đó, hệ sinh thái rừng ngập mặn được xác định là “hạ tầng sinh thái mềm” có vai trò quan trọng trong phòng chống thiên tai, hấp thụ carbon và bảo vệ đa dạng sinh học ven biển.
Bám sát chủ trương của Trung ương, tỉnh Quảng Ninh đã ban hành nhiều chương trình, quy hoạch và chỉ đạo chuyên đề nhằm bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và phục hồi hệ sinh thái ven biển. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XV xác định rõ định hướng phát triển nhanh, bền vững trên nền tảng tăng trưởng xanh, chuyển đổi mô hình phát triển từ “nâu” sang “xanh”, lấy bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên làm điều kiện tiên quyết.
Tỉnh cũng xác định rõ mục tiêu phát triển kinh tế biển phải gắn với bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ hệ sinh thái tự nhiên, đặc biệt là hệ sinh thái rừng ngập mặn, bãi triều, cỏ biển và rạn san hô. Đây là quan điểm phát triển có ý nghĩa chiến lược trong bối cảnh biến đổi khí hậu đang tác động trực tiếp tới vùng ven biển Quảng Ninh.
Quy hoạch bài bản các hành lang đa dạng sinh học ven biển
Quảng Ninh hiện là một trong những địa phương có mức độ đa dạng sinh học cao của cả nước với khoảng 4.350 loài thuộc 19 hệ sinh thái chính, trong đó có nhiều loài đặc hữu, quý hiếm và nguy cấp cần được bảo tồn.
Theo đó, các ngành chức năng của tỉnh đã thực hiện kiểm kê, bảo vệ khoảng 122.656ha rừng tự nhiên, 19.686ha rừng ngập mặn, 850ha cỏ biển và 140 rạn san hô. Tỷ lệ che phủ rừng của tỉnh tăng từ 38% năm 2000 lên 55,06% hiện nay, đứng thứ 14 cả nước.
Đặc biệt, nhằm tăng cường kết nối sinh thái và bảo vệ tính toàn vẹn của các hệ sinh thái tự nhiên, tỉnh đã quy hoạch thành lập 3 hành lang đa dạng sinh học loại không liên tục gồm hành lang ven biển, hành lang núi và hành lang biển với tổng diện tích 131.525ha để quản lý trong giai đoạn 2021–2030.
Đây được xem là bước đi có ý nghĩa khoa học và chiến lược rất lớn, thể hiện tư duy quản trị tài nguyên theo hướng liên kết vùng sinh thái thay vì quản lý cục bộ theo từng địa phương hành chính như trước đây.
Song song với đó, tỉnh cũng ưu tiên triển khai các dự án gây bồi, tạo bãi và trồng rừng ngập mặn ven biển nhằm tăng khả năng phòng hộ, giảm thiểu tác động của triều cường và nước biển dâng. Nhiều chương trình phục hồi rừng phòng hộ ven biển, thay thế phao xốp trong nuôi biển, bảo vệ vùng đất ngập nước và phục hồi nguồn lợi thủy sản tự nhiên đang được triển khai đồng bộ tại các địa phương ven biển.

Hệ sinh thái rừng ngập mặn Đồng Rui
Rừng ngập mặn – “ngân hàng nguồn gen” cho kinh tế sinh thái biển
Tại các khu vực như Quảng Yên, Móng Cái, Đầm Hà và vùng đệm Vườn quốc gia Bái Tử Long, hệ sinh thái rừng ngập mặn hiện là nơi cư trú, sinh trưởng và tái tạo nguồn lợi của nhiều loài thủy sản bản địa có giá trị cao như cá song, cua biển, ngán, sá sùng, hàu cửa sông, hải sâm, cầu gai, bào ngư và nhiều loài nhuyễn thể vùng triều.
Về mặt sinh thái học, rừng ngập mặn chính là “vườn ươm tự nhiên” của đại dương. Đây là nơi cung cấp nguồn thức ăn, nơi trú ngụ và sinh trưởng cho phần lớn các loài thủy sản ven bờ trước khi di cư ra vùng biển rộng.
Đặc biệt, các giống thủy sản bản địa dưới tán rừng ngập mặn có khả năng thích nghi rất cao với điều kiện tự nhiên địa phương, sức chống chịu tốt với dịch bệnh và biến động môi trường. Đây là lợi thế quan trọng để phát triển các mô hình nuôi sinh thái phát thải thấp trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay.
Đẩy mạnh mô hình sinh kế dưới tán rừng ngập mặn
Từ thực tiễn địa phương, nhiều mô hình nuôi sinh thái dưới tán rừng ngập mặn đã chứng minh hiệu quả rõ rệt cả về kinh tế và môi trường như nuôi hà treo dây tại xã Hoàng Tân, mô hình đồng quản lý khai thác nhuyễn thể tự nhiên tại Vườn quốc gia Bái Tử Long hay các mô hình phục hồi bãi giống thủy sản vùng triều.
Trong thời gian tới, cần tiếp tục đẩy mạnh các mô hình: Nuôi cua biển, vọp sông, hà sinh thái… dưới tán rừng ngập mặn; Bảo tồn và phục hồi các giống bản địa như ngán, sá sùng, hải sâm; Mô hình phục hồi rừng kết hợp tái tạo nguồn lợi thủy sản; Mô hình du lịch sinh thái cộng đồng vùng đất ngập nước; Mô hình đồng quản lý tài nguyên ven biển có sự tham gia của người dân.
Đây không chỉ là giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học mà còn là hướng tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng ngư dân ven biển, đặc biệt là các nhóm yếu thế chịu tác động trực tiếp của biến đổi khí hậu.

Một góc rừng ngập mặn Móng Cái nhìn từ trên cao
Phát huy vai trò của Trung tâm Khuyến nông và Quản lý bảo vệ, phát triển rừng
Trong quá trình triển khai các chủ trương của tỉnh và định hướng của ngành Nông nghiệp và Môi trường, Trung tâm Khuyến nông và Quản lý Bảo vệ, phát triển rừng Quảng Ninh giữ vai trò quan trọng trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị hệ sinh thái rừng ngập mặn.
Là đơn vị trực tiếp quản lý nhiều diện tích rừng ngập mặn ven biển, Trung tâm cần tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động: Điều tra, đánh giá nguồn gen thủy sản bản địa dưới tán rừng ngập mặn; Xây dựng các mô hình khuyến nông – khuyến ngư sinh thái thích ứng với biến đổi khí hậu; Phục hồi rừng gắn với tái tạo nguồn lợi thủy sản tự nhiên; Chuyển giao kỹ thuật nuôi sinh thái các giống thủy sản bản địa có giá trị cao; Hỗ trợ hình thành hợp tác xã, tổ hợp tác sinh kế vùng ven biển; Tăng cường truyền thông cộng đồng về bảo tồn đa dạng sinh học và kinh tế tuần hoàn.
Đặc biệt, Trung tâm cần trở thành hạt nhân trong việc xây dựng các mô hình tổng hợp “bảo tồn – sinh kế – thích ứng khí hậu”, tạo cơ sở thực tiễn để nhân rộng trên toàn vùng ven biển của tỉnh.
Trong chiến lược phát triển xanh của Quảng Ninh, rừng ngập mặn không còn đơn thuần là tài nguyên tự nhiên mà đã trở thành “hạ tầng sinh thái chiến lược” cho tương lai phát triển bền vững. Bảo vệ và phát huy giá trị của những cánh rừng ngập mặn hôm nay chính là bảo vệ đa dạng sinh học, bảo vệ sinh kế cộng đồng và bảo vệ dư địa phát triển xanh cho các thế hệ mai sau./.