Qua tổng hợp báo cáo của các địa phương và đánh giá thực tế tại một số ổ dịch cho thấy, dịch bệnh thường phát sinh tại các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, nơi điều kiện chuồng trại, vệ sinh thú y, xử lý chất thải, kiểm soát con giống, thức ăn, con người và phương tiện ra vào khu vực chăn nuôi còn hạn chế. Việc thực hiện chưa đầy đủ các biện pháp an toàn sinh học trong chăn nuôi là một trong những yếu tố làm tăng nguy cơ mầm bệnh xâm nhập, tồn tại và lây lan trong đàn vật nuôi.
Để hạn chế phát sinh, lây lan dịch bệnh trên đàn vật nuôi, nhất là tại các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, đặc biệt đối với bệnh Dịch tả lợn Châu Phi. Đồng thời theo sự chỉ đạo của Cục Chăn nuôi và Thú y tại văn bản số 1727/CNTY-DT ngày 18/5/2026, Sở Nông nghiệp và Môi trường đề nghị Ủy ban nhân dân các địa phương tăng cường thông tin, tuyên truyền, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc người chăn nuôi thực hiện các biện pháp an toàn sinh học, vệ sinh thú y, vệ sinh môi trường trong chăn nuôi nông hộ, trong đó tập trung một số nội dung sau:
1. Kiểm soát con giống nhập vào cơ sở chăn nuôi
- Con giống khi nhập vào cơ sở chăn nuôi phải khỏe mạnh, có nguồn gốc rõ ràng, đã được tiêm phòng các loại vắc xin theo quy định và được kiểm dịch theo quy định của pháp luật về thú y đối với con giống nhập về từ ngoại tỉnh.
- Con giống mới nhập về phải được nuôi cách ly ít nhất 02 tuần trước khi nhập đàn; khu cách ly phải tách biệt với đàn đang nuôi, có dụng cụ chăm sóc riêng, được vệ sinh, tiêu độc khử trùng trước và sau thời gian nuôi cách ly. Trong thời gian cách ly, nếu phát hiện vật nuôi có biểu hiện bất thường, ốm, chết hoặc nghi mắc bệnh truyền nhiễm thì không nhập đàn và phải báo ngay cho thú y cơ sở, UBND cấp xã hoặc cơ quan quản lý chuyên ngành chăn nuôi và thú y tại cơ sở để được hướng dẫn xử lý.
- Khuyến khích cơ sở chăn nuôi chủ động tự sản xuất con giống hoặc áp dụng chăn nuôi theo hướng “cùng vào – cùng ra”, hạn chế nuôi gối đàn, nuôi nhiều lứa tuổi hoặc các loại vật nuôi khác nhau trong cùng chuồng nuôi khi không bảo đảm điều kiện cách ly, vệ sinh thú y và an toàn sinh học.
- Thực hiện kê khai chăn nuôi theo đúng quy định của pháp luật về chăn nuôi.
2. Kiểm soát thức ăn chăn nuôi và nước uống
- Thức ăn chăn nuôi khi đưa vào sử dụng phải có nguồn gốc rõ ràng, biết rõ không mang mầm bệnh truyền nhiễm nguy hiểm với vật nuôi; được bảo quản nơi khô ráo, sạch sẽ, tránh ẩm mốc, không để chuột, côn trùng, chim hoang dã và động vật khác tiếp xúc với thức ăn.
- Tuyệt đối không tận dụng thức ăn chăn nuôi dư thừa của các cơ sở chăn nuôi, cơ sở giết mổ, nơi thu gom, buôn bán động vật đang có dịch bệnh, nghi có dịch bệnh hoặc không rõ tình trạng dịch bệnh để chăn nuôi.
- Hạn chế hoặc không tận dụng thức ăn thừa của con người để làm thức ăn chăn nuôi. Trường hợp sử dụng thức ăn thừa của con người để làm thức ăn chăn nuôi thì phải được xử lý nhiệt thật kỹ trước khi cho vật nuôi ăn và vệ sinh sạch sẽ khu vực chế biến thức ăn chăn nuôi.
- Nước uống của vật nuôi phải phải đảm bảo sạch sẽ; ưu tiên sử dụng nguồn nước sinh hoạt của người hoặc nguồn nước đã được xử lý bảo đảm vệ sinh hoặc được xử lý bằng hóa chất trước khi cho vật nuôi uống. Tuyệt đối không sử dụng nước ao, hồ, sông, suối chưa qua xử lý để cho vật nuôi uống.
3. Vệ sinh chuồng trại và dụng cụ chăn nuôi
- Chuồng trại chăn nuôi phải được bố trí tách biệt với nơi ở của người, bảo đảm thông thoáng, đủ ánh sáng, dễ vệ sinh, thuận lợi cho việc thu gom, xử lý chất thải và tiêu độc khử trùng; bảo đảm thoáng mát vào mùa hè, ấm áp vào mùa đông, luôn sạch sẽ và khô ráo.
- Hàng ngày phải thực hiện vệ sinh chuồng nuôi, máng ăn, máng uống, dụng cụ chăn nuôi; thu gom thức ăn thừa, chất thải, chất độn chuồng, không để tồn đọng làm phát sinh mùi hôi, ruồi, muỗi, côn trùng, chuột và các động vật trung gian truyền bệnh.
- Chất thải chăn nuôi phải được thu gom, xử lý theo quy định như ủ nhiệt hoặc bioga hoặc biện pháp phù hợp khác trước khi xả thải ra môi trường; nước thải chăn nuôi phải được thu gom, xử lý, không xả trực tiếp ra môi trường, ao hồ, kênh mương, khu dân cư.
- Tuyệt đối không sử dụng nước ao, hồ, sông, suối chưa qua xử lý để vệ sinh chuồng trại, tắm rửa cho vật nuôi hoặc rửa dụng cụ chăn nuôi.
- Dụng cụ chăn nuôi phải được sử dụng riêng cho từng khu vực, từng đàn hoặc từng ô chuồng nếu có điều kiện; không dùng chung dụng cụ giữa khu vực nuôi cách ly, khu vực có vật nuôi nghi mắc bệnh với khu vực đàn khỏe. Dụng cụ chăn nuôi đang sử dụng mà mang ra khỏi chuồng nuôi hoặc dụng cụ chăn nuôi mới thì phải được phun hóa chất tiêu độc khử trùng trước khi mang vào chuồng nuôi.
4. Kiểm soát người và phương tiện ra vào
- Trong quá trình chăn nuôi cần hạn chế tối đa người lạ vào khu vực chăn nuôi. Trong gia đình nên phân công rõ người phụ trách chăn nuôi, hạn chế tối đa các thành viên khác trong gia đình ra vào chuồng nuôi nếu không trực tiếp tham gia chăn nuôi.
- Chuồng nuôi cần phải có cổng, cửa, hàng rào hoặc biện pháp ngăn cách phù hợp để kiểm soát động vật, phương tiện ra vào, người không có nhiệm vụ không tự do vào được chuồng nuôi.
- Người vào khu vực chăn nuôi phải có bảo hộ đầy đủ và thực hiện vệ sinh, sát trùng trước khi vào chuồng nuôi (như thay dép, ủng, lội qua chậu/hố sát trùng trước khi vào chuồng nuôi…).
- Người chăm sóc vật nuôi nên thực hiện theo nguyên tắc từ khu sạch đến khu bẩn, từ đàn khỏe đến đàn nghi mắc bệnh; không đi từ hộ chăn nuôi này sang hộ chăn nuôi khác khi chưa thay bảo hộ, quần áo, giày dép và sát trùng phù hợp.
- Thương lái, người thu mua, người vận chuyển, người cung cấp thức ăn, thuốc thú y, vật tư chăn nuôi chỉ được vào khu vực chăn nuôi khi thật sự cần thiết và phải tuân thủ yêu cầu về bảo hộ, vệ sinh, tiêu độc khử trùng theo hướng dẫn của chủ cơ sở chăn nuôi và cơ quan thú y.
- Phương tiện vận chuyển con giống, thức ăn, thuốc thú y, vật tư chăn nuôi phải được vệ sinh, sát trùng kỹ trước và sau khi ra vào chuồng nuôi; không đưa phương tiện vận chuyển vào sát khu vực chuồng nuôi nếu không cần thiết.
5. Kiểm soát động vật trung gian truyền bệnh
- Định kỳ thực hiện các biện pháp diệt chuột, ruồi, muỗi và côn trùng truyền bệnh trong khu vực chăn nuôi, kho chứa thức ăn, khu xử lý chất thải chăn nuôi và khu vực xung quanh chuồng nuôi.
- Có biện pháp ngăn chặn chuột, ruồi, muỗi,côn trùng, chim hoang dã và động vật khác xâm nhập vào chuồng nuôi, kho thức ăn, khu vực chứa chất độn chuồng, dụng cụ chăn nuôi (căng lưới, tường kín…). Thường xuyên thu gom thức ăn rơi vãi, che đậy kín bao thức ăn, không để thức ăn tồn đọng qua đêm làm thu hút động vật trung gian truyền bệnh.
- Không nuôi chó, mèo trong khu vực chăn nuôi, không cho chó, mèo, gia cầm, chim hoang dã và động vật nuôi khác tự do ra, vào khu vực chăn nuôi.
6. Khử trùng, tiêu độc
- Tại lối ra, vào chuồng nuôi phải được bố trí hố/chậu sát trùng phù hợp, sử dụng nước vôi hoặc các thuốc sát trùng khác để người ra vào chuồng nuôi bắt buộc phải đi qua. Các hố, chậu sát trùng tại cửa chuồng nuôi phải được định kỳ thay nước sát trùng hoặc bổ sung thêm nếu bị nước mưa rơi vào.
- Trước khi phun hóa chất sát trùng phải quét dọn, thu gom chất thải, rửa sạch bề mặt chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi, vì chất hữu cơ, bùn đất và chất thải có thể làm giảm hiệu quả sát trùng.
- Chỉ sử dụng hóa chất sát trùng được phép sử dụng trong thú y, bảo đảm đúng nồng độ, liều lượng, thời gian tiếp xúc, cách sử dụng theo hướng dẫn của nhà sản xuất và cơ quan thú y; không pha trộn hóa chất tùy tiện, không sử dụng hóa chất không rõ nguồn gốc.
- Định kỳ hàng tuần phun thuốc sát trùng khu vực chăn nuôi, dụng cụ chăn nuôi và phun sát trùng hàng ngày khi địa bàn đang có dịch hoặc theo hướng dẫn của nhà sản xuất hóa chất sát trùng.
7. Chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng bệnh bằng vắc xin
- Cung cấp đầy đủ thức ăn, nước uống sạch sẽ cho vật nuôi.
- Thức ăn cần đảm bảo thành phần dinh dưỡng, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của vật nuôi.
- Thực hiện các biện pháp chăm sóc, nuôi dưỡng hợp lý, hạn chế các yếu tố gây stress cho vật nuôi như thay đổi thức ăn đột ngột, tiếng ồn quá lớn, nhiệt độ môi trường quá cao hay quá thấp, vận chuyển động vật kéo dài…
- Thực hiện tiêm phòng đầy đủ, đúng đối tượng, đúng lịch các loại vắc xin theo khuyến cáo của cơ quan quản lý chuyên ngành chăn nuôi và thú y.
- Theo dõi sức khỏe đàn vật nuôi hằng ngày; kịp thời phát hiện vật nuôi có biểu hiện bất thường như sốt, bỏ ăn, mệt mỏi, ho, khó thở, tiêu chảy, nổi mụn, xuất huyết, đi lại khó khăn, chết bất thường hoặc các dấu hiệu nghi mắc bệnh truyền nhiễm để cách ly và báo cho thú y cơ sở, UBND cấp xã hoặc cơ quan quản lý chuyên ngành chăn nuôi và thú y.
- Không tự ý điều trị, bán chạy, giết mổ, vận chuyển vật nuôi mắc bệnh, nghi mắc bệnh truyền nhiễm nguy hiểm hoặc chết không rõ nguyên nhân khi chưa có hướng dẫn của cơ quan thú y.
8. Xử lý xác động vật mắc bệnh, nghi mắc bệnh, chết và sản phẩm động vật có nguy cơ mang mầm bệnh
- Khi phát hiện động vật nuôi bị ốm, chết, có dấu hiệu nghi do mắc bệnh truyền nhiễm nguy hiểm hoặc chết không rõ nguyên nhân, chủ vật nuôi phải báo ngay cho thú y cơ sở hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan quản lý chuyên ngành chăn nuôi và thú y để được kiểm tra, hướng dẫn xử lý theo quy định.
- Không giết mổ, mua bán, vận chuyển, tiêu thụ, vứt bỏ, chôn lấp tùy tiện động vật mắc bệnh, nghi mắc bệnh, chết không rõ nguyên nhân; không sử dụng thịt, sản phẩm động vật từ động vật mắc bệnh, nghi mắc bệnh hoặc chết không rõ nguyên nhân làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi hoặc sử dụng vào mục đích khác.
- Việc tiêu hủy xác động vật, sản phẩm động vật, chất thải, chất độn chuồng, thức ăn thừa, dụng cụ có nguy cơ mang mầm bệnh phải thực hiện theo hướng dẫn của cơ quan thú y, bảo đảm không làm phát tán mầm bệnh, không gây ô nhiễm môi trường. Khu vực có động vật mắc bệnh, nghi mắc bệnh, chết; khu vực chôn lấp, tiêu hủy; dụng cụ, phương tiện, quần áo, giày dép, ủng và các vật dụng có tiếp xúc với động vật bệnh, xác động vật hoặc chất thải phải được vệ sinh, tiêu độc khử trùng theo hướng dẫn của cơ quan thú y./.