KẾT LUẬN THANH TRA Về công tác cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đối với Ủy ban nhân dân huyện Hải Hà giai đoạn từ ngày 01/7/2014 đến hết ngày 30/9/2016.

29/12/2016 19:00

Thực hiện Quyết định thanh tra số 462/QĐ-TNMT ngày 24/10/2016 của Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường về việc thanh tra công tác cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi tắt là GCN) cho hộ gia đình, cá nhân đối với Ủy ban nhân dân huyện Hải Hà giai đoạn từ ngày 01/7/2014 đến hết ngày 30/9/2016.


I. KHÁI QUÁT CHUNG:

1. Khái quát đặc điểm tình hình huyện.

Hải Hà là huyện miền núi biên giới biển đảo phía Đông Bắc của tỉnh Quảng Ninh, nằm bên đường Quốc lộ 18A từ Hạ Long đi Móng Cái, phía Đông giáp thành phố Móng Cái, phía Tây giáp huyện Đầm Hà và huyện Bình Liêu, phía Nam giáp biển, phía Bắc giáp nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Huyện Hải Hà có 15 xã và 1 thị trấn (trong đó có 2 xã biên giới và 1 xã đảo) với 118 thôn, bản, khu phố. Trên địa bàn huyện có 01 Khu công nghiệp cảng biển Hải Hà, 01 Khu kinh tế cửa khẩu Bắc Phong Sinh và có 09 xã, thị trấn nằm trong Khu kinh tế cửa khẩu Móng Cái. Diện tích tự nhiên của huyện là 690,07 km2, có 35 km bờ biển. Dân số gần 58 ngàn người, trong đó dân số vùng nông thôn chiếm 86,3%. Cơ cấu kinh tế của huyện là: Nông - Lâm - Ngư nghiệp, Dịch vụ, Công nghiệp và Xây dựng.

2. Tình hình tổ chức, hoạt động của phòng Tài nguyên và Môi trường, Văn phòng ĐKQSD đất, Trung tâm hành chính công và đội ngũ cán bộ địa chính xã, thị trấn.

 

2.1. Tổ chức, hoạt động của phòng Tài nguyên và Môi trường, Văn phòng ĐKQSD đất, Trung tâm hành chính công.

- Về số lượng: Hệ thống ngành Tài nguyên và Môi trường cấp huyện có tổng 15 cán bộ công chức, viên chức, hợp đồng được bố trí:

+ Trưởng phòng: 01 đồng chí;

+ Phó Trưởng phòng: 02 đồng chí. trong đó: Một đồng chí kiêm Giám đốc Văn phòng ĐKQSD đất;

+ Phó Giám đốc Văn phòng ĐKQSD đất: 01 đồng chí;

+ Cán bộ công chức phụ trách lĩnh vực đất đai: 04 đồng chí;

+ Cán bộ công chức phụ trách lĩnh vực môi trường, nước: 02 đồng chí;

+ Cán bộ viên chức thuộc Văn phòng ĐKQSD đất: 04 đồng chí (trong đó có 01 đồng chí trực tại Trung tâm hành chính công);

+ Kế toán: 01 đồng chí.

- Về trình độ: 03 đồng chí có trình độ Thạc sỹ; 11 đồng chí có trình độ Đại học; 01 đồng chí có trình độ Cao đẳng.

- Về trang thiết bị: 02 chiếc Máy phô tô A3 + A4; 05 chiếc Máy tính để bàn; 11 chiếc Máy tính xách tay; 07 chiếc Máy in A4; 02 chiếc Máy in A3; 01 chiếc Máy toàn đạc điện tử Topcon.

- Nơi làm việc: Hệ thống ngành Tài nguyên và Môi trường cấp huyện được bố trí 05 phòng làm việc; 01 phòng họp; 01 phòng kho. Đặc biệt, Văn phòng Đăng ký QSD đất huyện được bố trí 01 phòng tại Trung tâm hành chính công.

Nhìn chung, trong thời kỳ thanh tra, phòng Tài nguyên và Môi trường cơ bản đủ về biên chế cũng như trang thiết bị và cơ sở vật chất để làm việc, thực hiện nhiệm vụ chính trị của huyện. Tuy nhiên, theo báo cáo của huyện trong thời gian tới triển khai việc lập hồ sơ cấp mới, cấp đổi GCN theo bản đồ địa chính trên địa bàn huyện nên phòng Tài nguyên và Môi trường cần được bổ sung thêm về biên chế, kinh phí, trang thiết bị làm việc để đáp ứng kịp nhiệm vụ công việc.

 

2.2. Đội ngũ cán bộ địa chính xã, thị trấn.

- Tổng số cán bộ địa chính toàn huyện là 28 cán bộ (Nam: 26 cán bộ; Nữ: 02 cán bộ) được bố trí hợp lý theo nhiệm vụ công việc cho 16 xã, thị trấn trên địa bàn huyện, cụ thể: 05 xã được bố trí 01 cán bộ địa chính; 10 xã được bố trí 02 cán bộ địa chính; 01 xã được bố trí 03 cán bộ địa chính.

- Cán bộ địa chính các xã, thị trấn có trình độ từ Trung cấp trở lên. Trong đó, phần lớn cán bộ địa chính có trình độ Đại học.

 

3. Hồ sơ, tài liệu phục vụ cho công tác cấp GCN giai đoạn từ ngày 01/7/2014 đến hết ngày 30/9/2016 trên địa bàn huyện.

- Hệ thống các bản đồ giải thửa 299 tỷ lệ 1/1.000 lập năm 1987.

- Về bản đồ địa chính:

+ Đối với đất Lâm nghiệp (đất rừng sản xuất): Tất cả các xã, thị trấn trên địa bàn huyện đã hoàn thành việc đo đạc lập hồ sơ địa chính tỷ lệ 1/10.000; Đơn vị tư vấn đã hoàn thiện đồng bộ và lập hồ sơ cấp GCN quyền sử dụng đất theo bản đồ địa chính;

+ Đối với đất ở và các loại đất khác: Tất cả các xã, thị trấn trên địa bàn huyện đã được thành lập bản đồ địa chính tỷ lệ 1/1.000 và 1/2.000; Đơn vị tư vấn đã bàn giao cho UBND huyện, các xã, thị trấn để quản lý và thực hiện việc cấp đổi, cấp mới GCN.

- Bản đồ Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất huyện Hải Hà: đã được UBND tỉnh Quảng Ninh phê duyệt tại Quyết định số 2620/QĐ-UBND ngày 10/11/2014 về việc xét duyệt điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất năm đầu của điều chỉnh quy hoạch huyện Hải Hà.

- Các đầu sổ quản lý đất đai như: sổ mục kê, sổ địa chính, sổ cấp GCN, sổ theo dõi biến động, ... được lập tương đối đầy đủ cho cả 16 xã, thị trấn lữu trữ tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, phòng Tài nguyên và Môi trường và tại các xã, thị trấn.

 

II. KẾT QUẢ KIỂM TRA, XÁC MINH:

 

II.1. VỀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI, CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT.

 

1. Công tác quản lý đất đai và cụ thể hóa cấp GCN trên địa bàn huyện.

Thực hiện Nghị Quyết số 30/2012/QH13 của Quốc hội về việc hoàn thành cơ bản cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu trên phạm vi cả nước, Chỉ thị số 15-CT/TU ngày 16/01/2013 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ninh về tăng cường lãnh đạo công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; và thực hiện Văn bản số 732/UBND-QLĐĐ1 ngày 19/02/2013 của UBND tỉnh Quảng Ninh về việc triển khai công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện đã triển khai phổ biến, quán triệt các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác quản lý Nhà nước về đất đai một cách nghiêm túc; đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các phòng ban chuyên môn, UBND các xã, phường xây dựng và giao chỉ tiêu kế hoạch đẩy nhanh tiến độ công tác cấp giấy chứng nhận trên địa bàn, triển khai kế hoạch hoàn thiện hệ thống hồ sơ địa chính, xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai. Cụ thể:

+ Công văn số 373-CV/HU ngày 22/01/2013 của Ban thường vụ Huyện ủy Hải Hà về việc tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác cấp GCNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất.

+ Kế hoạch số 29/KH -UBND ngày 04/4/2013 của UBND huyện v/v giao chỉ tiêu cấp GCNQSD đất (lần đầu) trên địa bàn huyện Hải Hà năm 2013.

 

+ Văn bản số 149/UBND ngày 14/03/2013 và Văn bản số 229/UBND ngày 09/5/2013 của UBND huyện về việc tăng cường lãnh đạo chỉ đạo công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

 

Trên cơ sở những văn bản chỉ đạo, điều hành nêu trên thì các phòng, ban chức năng của huyện đã quán triệt thực hiện nhằm hoàn thành tốt công tác quản lý đất đai, cấp GCN quyền sử dụng đất trên địa bàn huyện.

- Trong thời kỳ thanh tra, Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân huyện chưa ban hành thêm văn bản để chỉ đạo điều hành triển khai cấp GCN trên địa bàn. Tuy nhiên, từ năm 2015 phòng Tài nguyên và Môi trường đã có văn bản hướng dẫn UBND các xã, thị trấn và VPĐKQSDĐ trong việc cấp GCNQSDĐ theo bản đồ địa chính trên địa bàn huyện như:

+ Thông báo số 81A/TB-TNMT ngày 08/5/2015 của phòng TNMT thông báo kết luận tại cuộc họp giao ban cán bộ địa chính thường kỳ;

+ Văn bản số 107/TNMT ngày 08/4/2016 của phòng TNMT về việc thực hiện công tác cấp đổi GCN theo bản đồ địa chính.

 - Trong thời kỳ thanh tra, huyện Hải Hà đã hoàn thành Trung tâm hành chính công và đi vào hoạt động từ tháng 7/2015, UBND huyện đã chỉ đạo đưa các thủ tục hành chính về đất đai, về cấp GCN để tiếp nhận và trả kết quả tại Trung tâm hành chính công.

 

2. Công tác lập hồ sơ cấp GCN cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn huyện.

 

2.1. Các văn bản quy phạm pháp luật (trình tự, thủ tục, hạn mức,...) được UBND huyện áp dụng thực hiện cấp GCN trong kỳ thanh tra gồm:

- Luật đất đai năm 2013 ;

- Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về việc Quy định chi tiết thi hành một số điều Luật Đất đai;

- Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;

- Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về hồ sơ địa chính;

- Quyết định số 1768/2014/QĐ-UBND ngày 13/8/2014 của UBND tỉnh Quảng Ninh về việc ban hành Quy định hạn mức giao đất ở, hạn mức công nhận đất ở, diện tích đất tối thiểu được tách thửa cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh;

- Quyết định số 2779/2014/QĐ-UBND ngày 24/11/2014 của UBND tỉnh Quảng Ninh về việc ban hành Quy định về việc tiếp nhận, giải quyết thủ tục, thời gian các bước thực hiện thủ tục về việc đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh;

- Quyết định số 2626/QĐ-UBND ngày 08/9/2015 của Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh về việc công bố thủ tục hành chính mới ban hành; thủ tục hành chính hủy bỏ, bãi bỏ trong lĩnh vực đất đai thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND cấp huyện tỉnh Quảng Ninh.

 

2.2. Kết quả cấp Giấy chứng nhận lần đầu.

- Căn cứ số liệu lũy kế, trên địa bàn huyện đến nay đã cơ bản hoàn thành công tác cấp GCN lần đầu với tỷ lệ khá cao tạo điều kiện cho người sử dụng đất thực hiện các quyền của mình, làm cơ sở cho việc quản lý Nhà nước về đất đai, tài sản trên đất. Hàng năm, UBND huyện đã chỉ đạo UBND các xã, thị trấn thực hiện công tác thống kê, kiểm kê đất đai các nhóm đất tăng, giảm diện tích, nguyên nhân việc tăng, giảm diện tích đất và sự phù hợp với Quy hoạch của những loại nhóm đất tăng, giảm diện tích theo Quy hoạch đã được phê duyệt.

- Theo đó, sau thống kê kiểm kê và theo yêu cầu sử dụng đất, UBND huyện xác định tổng số hộ cần cấp GCN đất lần đầu kể từ ngày 01/07/2014 đến hết ngày 30/9/2016 là: 686 GCN (diện tích cần cấp là 743.512,1 m2). Kết quả đã cấp GCN lần đầu như sau:

+ Số GCN đã cấp là 585/686 GCN (đạt 85,3%), cụ thể:

TT

Loại đất

Số GCN theo KH phải cấp

Số GCN đã ký

Tỷ lệ cấp GCN (%)

Diện tích theo Kế hoạch phải cấp (m2)

Diện tích đã cấp (m2)

Tỷ lệ diện tích đã cấp (%)



 

Toàn huyện:

 

       686

 

   585

 

       85,3

 

     743.512,1

 

  743.200,1

 

     100,0


1

Đất ở đô thị

         31

     27

       87,1

         2.669,8

      2.357,8

       88,3


2

Đất ở nông thôn

       474

   470

       99,2

     115.077,8

  115.077,8

     100,0


3

Đất chuyên dùng

           1

       1

     100,0

            737,0

         737,0

     100,0


4

Đất sản xuất nông nghiệp

         57

     57

     100,0

     351.478,8

  351.478,8

     100,0


5

Đất lâm nghiệp

       119

     26

       21,8

       75.669,9

    75.669,9

     100,0


6

Đất nuôi trồng thủy sản

           4

       4

     100,0

     197.878,8

  197.878,8

     100,0


+ Số GCN chưa cấp 101/685 GCN (chiếm 14,74,8%). Trong đó: 04 hồ sơ còn để tồn đọng chưa cấp GCN trong khi hộ dân sử dụng ổn định, đã được đo đạc bản đồ địa chính, đủ điều kiện cấp GCN trên địa bàn thị trấn Quảng Hà; 04 hồ sơ trên địa bàn xã Quảng Phong chưa giải quyết dứt diểm việc tranh chấp đất đai; 93 hồ sơ cấp GCN đất lâm nghiệp trên địa bàn các xã Cái Chiên, Quảng Long, Đường Hoa chưa xác định được chủ sử dụng đất. Nguyên nhân tồn đọng: UBND huyện chưa chỉ đạo quyết liệt trong công tác cấp GCN theo đúng tinh thần Nghị Quyết số 30/2012/QH13 của Quốc hội về việc hoàn thành cơ bản cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu trên phạm vi cả nước; Một số cán bộ địa chính cấp xã trình độ chuyên môn chưa đáp ứng được yêu cầu của công việc, chưa nâng cao trách nhiệm thực thi công vụ.

- Ngoài ra, trên địa bàn xã Cái Chiên còn tồn đọng 01 hồ sơ hợp thức hoá chưa cấp GCN (hộ bà Phạm Thị Miên, thôn đầu Rồng. Theo báo cáo của UBND xã Cái Chiên vướng mắc là do hộ bà Miên chuyển về xã Quảng Minh sinh sống).

 

2.3. Kết quả cấp Giấy chứng nhận sau đăng ký biến động.

Trong thời kỳ thanh tra, số lượng GCN được cấp sau đăng ký biến động là: 3.078 GCN (diện tích đã cấp 4.238.691,51 m2). Trong đó:

- Cấp đổi lại Giấy chứng nhận sau khi làm thủ tục tách thửa, chuyển nhượng tặng, thừa kế quyền sử dụng đất: 2.487 GCN (diện tích đã cấp 3.607.788,76 m2).

- Cấp đổi lại Giấy chứng nhận do cấp bổ sung tài sản gắn liền với đất và cấp đổi lại theo kết quả đo đạc bản đồ địa chính: 591 GCN (diện tích đã cấp 630.902,75 m2).

 

2.4. Về xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai.

 

Trong quá trình thẩm định hồ sơ cấp GCN, Văn phòng ĐK QSD đất đã thực hiện việc chuyển thông tin địa chính sang cơ quan thuế. Theo báo cáo của Chi cục thuế huyện Hải Hà: trong thời kỳ thanh tra, hộ gia đình, cá nhân đã nộp vào ngân sách nhà nước các khoản thu liên quan đến đất đai (tiền sử dụng đất; tiền trước bạ nhà, đất; tiền thuê đất) với số tiền là 57.921.844.000 đồng. 

 

2.5. Về đơn thư khiếu kiện trong công tác cấp GCN.

Trong thời kỳ thanh tra có 02 GCN UBND huyện Hải Hà đã cấp cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn xã Đường Hoa (GCN số sê ri BV 638930 ngày 27/5/2015 diện tích 319 m2 và GCN số sê ri BV 928861 ngày 06/11/2015 diện tích 224,4 m2 tại thôn 3 xã Đường Hoa của bà Phan Thị Ngọc) đang có đơn thư khiếu kiện. UBND Tỉnh đã thụ lý, ngày 21/10/2016 giao Sở TNMT xác minh (Ngày 08/12/2016 Sở TNMT đã có văn bản số 5883/BC-TNMT báo cáo kết quả xác minh về UBND Tỉnh).

 

3. Công tác quản lý, cấp phát phôi GCN.

 

3.1. Việc sử dụng phôi GCN.

- Theo báo cáo của UBND huyện: tính đến hết ngày 30/9/2016 tổng số phôi GCN đã nhận phát hành từ Bộ Tài nguyên và Môi trường là 13.000 phôi giấy. Trong thời kỳ thanh tra, số lượng phôi GCN huyện đã sử dụng là:

+ Số lượng phôi tồn đầu kỳ là: 10.400 phôi giấy.

+ Số phôi nhận trong kỳ là: 2.600 phôi giấy (mới nhận từ Bộ TN&MT ngày 26/5/2016).

+ Số phôi đã sử dụng để cấp GCN là: 9.858 phôi giấy.

+ Số phôi đã sử dụng hỏng là: 542 phôi giấy.

+ Số phôi còn tồn cuối kỳ chưa sử dụng là: 2.600 phôi giấy.

- Nguyên nhân phôi GCN bị hỏng là do việc in vẽ GCN có sai sót. Văn phòng đăng ký QSD đất theo định kỳ đều có báo cáo số lượng phôi giấy hỏng về Sở Tài nguyên và Môi trường để đề nghị tiêu hủy theo quy định tại văn bản số 888/TCQLĐĐ-CĐKTK của Tổng cục quản lý đất đai về việc hủy phôi giấy chứng nhận bị hư hỏng trong quá trình quản lý và in, viết giấy chứng nhận. Tuy nhiên, đến nay toàn bộ số lượng phôi giấy hỏng trên địa bàn huyện chưa được tiêu hủy theo đúng quy định.

 

3.2. Việc thu hồi GCN.

Thời kỳ thanh tra theo báo cáo của UBND huyện, UBND huyện đã thực hiện thu hồi GCN đã cấp là: 3.298 GCN. Cụ thể như sau:

- Thu hồi GCN sau khi làm thủ tục tách thửa, chuyển nhượng tặng, thừa kế quyền sử dụng đất: 2.487 GCN.

- Thu hồi GCN do cấp bổ sung tài sản gắn liền với đất và cấp đổi lại theo kết quả đo đạc bản đồ địa chính: 591 GCN.

- Thu hồi do GPMB các dự án: 220 GCN.

* Dự án chợ Hải Hà (Quảng Trung): Số Giấy chứng nhận thu hồi, chỉnh lý là: 24 GCN; Diện tích: 13.956,3 m2; Loại đất: HNK

* Dự án Texhong giai đoạn 1, xã Quảng Điền: 150 GCN

+ Đất HNK: Số GCN thu hồi, chỉnh lý là: 81 GCN; Diện tích: 199.911,3 m2;

+ Đất ở (ONT): Số GCN thu hồi, chỉnh lý là: 62 GCN; Diện tích: 16.900 m2;

+ Đất CLN: Số Giấy chứng nhận thu hồi, chỉnh lý là: 7 GCN; Diện tích: 7.205 m2 (số diện tích đất CLN nằm trong cùng với Giấy chứng nhận thu hồi diện tích đất ở);

* Dự án Đường điện 110, xã Quảng Điền: 27 GCN

+ Đất HNK: Số GCN thu hồi, chỉnh lý là: 20 GCN; Diện tích: 4.153,4 m2;

+ Đất ở (ONT): Số GCN thu hồi, chỉnh lý là: 7 GCN; Diện tích: 1.193,8 m2;

* Dự án Texhong giai đoạn 1, xã Quảng Phong: 15 GCN

+ Đất HNK: Số GCN thu hồi, chỉnh lý là: 12 GCN; Diện tích: 21.395 m2;

+ Đất Lâm nghiệp(RSX): Số GCN thu hồi, chỉnh lý là: 03 GCN; Diện tích: 40.714m2;

* Dự án Đường cảng qua xã Quảng Long: Đất HNK: Số Giấy chứng nhận thu hồi, chỉnh lý là: 2 GCN; Diện tích: 46.206 m2;

* Dự án Đấu giá đất ở xã Đường Hoa: Đất HNK: Số Giấy chứng nhận thu hồi, chỉnh lý là: 2 GCN; Diện tích: 500 m2.

 

II.2. CÁC TỒN TẠI QUA CÔNG TÁC CẤP GCN QSD ĐẤT .

 

1. Về quản lý hồ sơ địa chính và chỉnh lý biến động đất đai.

Qua kiểm tra hồ sơ địa chính tại 07/16 xã, thị trấn (Quảng Hà, Quảng Điền, Phú Hải, Cái Chiên, Đường Hoa, Quảng Phong, Quảng Thành), tại Văn phòng ĐKQSD đất, Phòng Tài nguyên và Môi trường có tồn tại như:

 

a. Việc khai thác, sử dụng hồ sơ địa chính.

- Bản đồ, hồ sơ địa chính chính quy được đo đạc, nghiệm thu, bàn giao cho huyện Hải Hà, các xã, thị trấn sử dụng từ năm 2008 đến năm 2012 trên ranh giới toàn huyện nhưng việc đưa vào khai thác, sử dụng còn hạn chế (đặc biệt xã Cái Chiên còn chưa khai thác, sử dụng); Mặt khác, yêu cầu của UBND Tỉnh đối với các địa phương phải thực hiện việc cấp mới, cấp đổi GCN theo bản đồ địa chính thời hạn từ năm 2009 đến 2017 (theo Kế hoạch số 2783/KH-UBND ngày 20/5/2016 của UBND Tỉnh). Tuy nhiên, việc triển khai cấp mới GCN, cấp đổi GCN trên địa bàn huyện Hải Hà tiến độ còn chậm, không đảm bảo yêu cầu của dự án tổng thể xây dựng hệ thống hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu đất đai tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020 được UBND Tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 3954/QĐ-UBND ngày 11/12/2015.

 

- Việc chậm cấp đổi GCN theo bản đồ địa chính đã gây khó khăn cho công tác quản lý đất đai. Đặc biệt theo báo cáo của UBND xã Quảng Phong tại thôn Cái Đước đã xảy ra việc tranh chấp đất đai do ranh giới sử dụng thực tế khác so với ranh giới hộ dân đã được cấp GCN từ những năm 2004-2007.

 

 

b. Việc lập, quản lý, sử dụng các đầu sổ theo dõi, quản lý đất đai.

- Phần lớn các xã, thị trấn không lập sổ tiếp nhận và trả kết quả thực hiện thủ tục hành chính về đất đai theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 12 Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT;

- Một số xã không lập sổ theo dõi cấp GCN (trừ đất Lâm nghiêp) như xã: Quảng Điền, Phú Hải, Cái Chiên, Đường Hoa, Quảng Phong. Không lập sổ chỉnh lý biến động đất đai như xã: Quảng Điền, Cái Chiênl. Sổ theo dõi biến động đất đai nhưng không ghi chép, cập nhật trên sổ như: Xã Phú Hải không cập nhật từ năm 2014 đến thời điểm kiểm tra; Xã Quảng Phong không cập nhật trên Sổ từ tháng 12/2010 đến thời điểm kiểm tra.

- Tại sổ theo dõi cấp GCN đất Lâm nghiệp, một số xã không thực hiện việc ký xác nhận của hộ dân khi phát trả GCN trên Sổ như: xã Quảng Phong, xã Quảng Thành, Đường Hoa.

 

c. Việc chỉnh lý biến động đất đai.

 

- Đối với Văn phòng ĐKQSD đất:

+ Sau khi cấp GCN do đăng ký biến động (chuyển nhượng, tách thửa,…), Văn phòng ĐKQSD đất đã cập nhật thông tin vào sổ cấp GCN và cập nhật chỉnh lý biến động trên file số bản đồ địa chính. Tuy nhiên, không cập nhật, chỉnh lý các biến động đất đai trên bản giấy tài liệu đo đạc địa chính, sổ địa chính, sổ mục kê đất đai đang quản lý theo quy định tại Khoản 5 Điều 6, Điều 25 Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014; Không gửi Thông báo và bản sao GCN về UBND xã, thị trấn để có cơ sở cập nhật, chỉnh lý hồ sơ địa chính sau khi cấp GCN theo quy định tại Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014;

+ Không thực hiện kiểm tra thường xuyên việc cập nhật, chỉnh lý biến động trên bản sao hồ sơ địa chính đối với cán bộ địa chính cấp xã sáu tháng một lần theo quy định tại Điểm d Khoản 3 Điều 28 Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 để kịp thời hướng dẫn, nhắc nhở công vụ cán bộ địa chính.

- Đối với các xã, thị trấn: Biến động đất đai thường xuyên diễn ra (tách thửa, chuyển nhượng,...). Tuy nhiên, cán bộ địa chính không cập nhật, chỉnh lý các biến động đất đai trên bản giấy tài liệu đo đạc địa chính, sổ địa chính, sổ mục kê đất đai đang quản lý theo quy định tại Khoản 5 Điều 6, Điều 25 Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 gây khó khăn cho công tác quản lý đất đai và giải quyết các kiến nghị, khiếu nại về đất đai.

 

d. Việc sử dụng các phần mềm chuyên ngành phục vụ cho công tác quản lý đất đai.

Một số cán bộ địa chính còn chưa sử dụng được các phần mềm về đo đạc để trích lục thửa đất khi lập hồ sơ ban đầu trong công tác cấp GCN; Còn thực hiện đo vẽ thủ công sơ đồ đất đai do vậy hình thể không đúng với thưc tế các hộ dân đang sử dụng. Trình độ tin học và công tác quản lý đất đai chưa đạt yêu cầu đối với sự phát triển kinh tế xã hội và các biến động thường xuyên về đất đai (như cán bộ địa chính xã Cái Chiên).

 

2. Về trình tự thủ tục lập hồ sơ, áp dụng pháp luật trong công tác cấp GCN

Qua kiểm tra xác xuất 375 hồ sơ cấp GCN trên địa bàn 07/16 xã, có 165 hồ sơ (Trong đó: thị trấn Quảng Hà 43 hồ sơ, Quảng Điền 53 hồ sơ, Phú Hải 9 hồ sơ, Cái Chiên 06 hồ sơ, Đường Hoa 37 hồ sơ, Quảng Phong 13 hồ sơ, Quảng Thành 04 hồ sơ) cấp giấy CNQSD đất có một số tồn tại (có biểu 01 chi tiết kèm theo). Cụ thể:

 

2.1. Về trình tự, thủ tục, thời hạn cấp GCN.

- Có 19/165 hồ sơ không có Phiếu tiếp nhận và hẹn trả kết quả ở Trung tâm hành chính công nên không có cơ sở hồ sơ giải quyết đảm bảo công khai, minh bạch, đúng thời hạn. Như: hồ sơ cấp GCN ngày 18/8/2015 cho ông Bùi Văn Bính thôn 5 xã Quảng Phong, hồ sơ cấp GCN ngày 18/8/2015 cho ông Đỗ Văn Khương thôn 2 xã Quảng Phong,....

- Có 27/165 hồ sơ cấp GCN thuộc diện tái định cư, khi UBND xã Quảng Điền xác nhận vào đơn đề nghị cấp GCN không ghi rõ ngày, tháng. Như: hồ sơ cấp GCN cho hộ ông Nguyễn Văn Lán, thôn 6 xã Quảng Điền, hộ ông Nguyễn Hữu Đặng Khu TĐC Khu CN cảng biển Hải Hà xã Quảng Điền,.....

- Có 01/165 hồ sơ cấp GCN mà Biên bản kiểm tra thực địa có sự tẩy xóa như: hồ sơ cấp GCN cho ông Vi Hoài Nam, thôn Bắc, xã Phú Hải;

- Có 30/165 hồ sơ cấp GCN quá thời hạn thực hiện cấp GCN theo quy định tại Điều 61 Nghị định 43/2014/NĐ-CP như: Hồ sơ cấp GCN cho ông Vi Hoài Nam, thôn Bắc, xã Phú Hải (Tiếp nhận ngày 18/11/2013, VP ĐKSD đất xác nhận 31/7/2014, Tờ trình của phòng TNMT ngày 20/4/2015); Hồ sơ cấp GCN cho ông Bùi Khắc Hiệp thôn Vạn Cả xã Cái Chiên, bà Hoàng Thị Vân thôn Đầu Rồng, xã Cái Chiên (Tiếp nhận ngày 03/9/2013, VP ĐKQSD đất xác nhận ngày 04/9/2013, Tờ trình của phòng TNMT ngày 03/7/2015); Ngoài ra, theo báo cáo của Trung tâm hành chính công huyện Hải Hà: từ khi Trung tâm đi vào hoạt động tháng 7 năm 2015 đến tháng 9/2016 có 85 hồ sơ giải quyết về đất đai vượt quá thời gian quy định,...

- Có 05/165 hồ sơ cấp GCN thực hiện cấp đổi GCN (do chuyển nhượng, tặng cho, tách thửa,....) có thu hồi lại GCN cũ lưu trữ trong hồ sơ (chờ hủy). Tuy nhiên, không ghi lý do và đóng dấu xác nhận của VP ĐKQSD đất tại Trang 1 của GCN theo quy định, tại Khoản 18, Điều 18 của Thông tư số 23/2014/TT- BTNMT ngày 19/5/2014. Như: hồ sơ cấp GCN cho hộ ông Trần Đăng Xuê thôn 4 xã Quảng Điền; hồ sơ cấp GCN cho bà Lê Thị Sinh phố Trần Khánh Dư, thị trấn Quảng Hà,....

- Có 03/165 hồ sơ cấp GCN thực hiện việc thu hồi GCN cũ đã cấp trước đây khi thực hiện việc cấp đổi lại GCN. Tuy nhiên, UBND huyện không ban hành Quyết định thu hồi GCN cũ như: hồ sơ cấp GCN cho bà Lê Thị Sinh phố Trần Khánh Dư, thị trấn Quảng Hà;....

- Có 77/165 hồ sơ cấp GCN trên GCN đã cấp không ghi số thửa, số tờ Bản đồ, không trích lục từ Bản đồ địa chính theo quy định tại Điều 6, thông tư số 23/2014 của Bộ TN&MT. Như: GCN đã cấp cho hộ ông Bùi Khắc Hiệp, thôn Vạn Cả;...

- Có 44/165 hồ sơ cấp GCN thể hiện sơ đồ trên GCN không đúng quy định tại Điều 12 Thông tư 23/2014/TT-BTNMT. Như GCN đã cấp cho: hộ ông Nguyễn Trung Hiếu thôn Trung xã Phú Hải; hộ ông Bùi Khắc Hiệp thôn Vạn Cả xã Cái Chiên;...

- Có 05/165 hồ sơ cấp GCN còn sử dụng mẫu đơn đề nghị cấp GCN không đúng quy định tại Thông tư 24/2014/TT-BTNMT của Bộ TN&MT. Như hồ sơ cấp GCN cho: hộ bà Đinh Thị Thành, phố Hoàng Hoa Thám, thị trấn Quảng Hà; hộ ông Nguyễn Đức Doanh, phố Nguyễn Du, thị trấn Quảng Hà,...

- Có 01/165 hồ sơ cấp GCN không lưu phiếu chuyển thông tin địa chính sang cơ quan thuế để xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai theo quy định trước khi cấp GCN như hồ sơ cấp GCN cho bà Ngô Thị Loan phố Trần Quốc Toản, thị trấn Quảng Hà;

- Có 01/165 hồ sơ cấp GCN không thực hiện việc cấp GCN không đúng quy trình giải quyết thủ tục đã tích hợp trong phần mềm của Trung tâm hành chính công huyện (UBND xã, thị trấn không được tiếp nhận hồ sơ, chỉ nhận hồ sơ do Trung tâm hành chính công chuyển đến) để tránh quá hạn khi tính thời gian thực hiện cấp GCN từ khi tiếp nhận tại Trung tâm hành chính công. Như hồ sơ cấp GCN ông Nguyễn Văn Đại thôn Bắc (hồ sơ nhận ở xã được xã thẩm tra xác nhận tính hợp lệ ngày 20/8/2013 đến ngày 20/11/2015 Trung tâm hành chính công mới tiếp nhận hồ sơ cấp GCN của dân).

- Có 05/165 hồ sơ cấp GCN không có tờ trình về cấp GCN của phòng TNMT. Như: hồ sơ cấp GCN cho bà Ngô Thị Loan phố Trần Quốc Toản, thị trấn Quảng Hà;...

- Có 14/165 hồ sơ cấp GCN thể hiện thông tin về nguồn gốc sử dụng đất tại trang 2 của GCN chưa đúng quy định tại Điều 6 Thông tư 23/2014/TT-BTNMT. Như hồ sơ cấp cho ông Nguyễn Văn Đại, thôn Bắc, xã Phú Hải trên GCN ghi: "Nhà nước công nhận QSD đất" trong khi theo quy định phải ghi:"Công nhận QSD đất như giao đất không thu tiền sử dụng đất";...

- Có 01/165 hồ sơ cấp sai lệch diện tích 50 m2 đất ở cho hộ ông Trần Quốc Toản thôn đầu rồng, xã Cái chiên. Hồ sơ trình của xã Cái chiên và phòng tài nguyên và Môi trường diện tích 277,4 m2, trong giấy chứng nhận cấp 227,4 m2 đất ở.

 

2.2. Về diện tích, hạn mức khi cấp GCN.

- Có 03/165 hồ sơ cấp GCN lần đầu, UBND huyện Hải Hà cần xem xét nguồn gốc, quá trình sử dụng đất và hạn mức đất ở để cấp GCN cho người dân đảm bảo quyền lợi  theo Quyết định số 4505/2007/QĐ-UBND ngày 05/12/2007 (nay là Quyết định số 1768/2014/QĐ-UBND ngày 13/8/2014 của UBND Tỉnh) trong khi người dân đang sử dụng đất với ranh giới, diện tích lớn hơn so với hạn mức công nhận đất ở:

+ Hộ ông Bùi Khắc Hiệp thôn Vạn Cả xã Cái Chiên (hạn mức đất ở là 400m2, mới cấp đất ở  361m2, không cấp đất CLN so với thửa đất số 64 Tờ bản đồ số 52 diện tích 471m2 );

+ Hộ ông Nguyễn Văn Đại thôn Bắc xã Phú Hải (cấp 165m2 đất ở, 263m2 đất CLN) Cấp thiếu 135 m2 đất ở cho Hộ ông Nguyễn Văn Đại  trong khi đó hạn mức tại xã Phú Hải là 300m2 đất ở.

+ Hộ ông Trần Quốc Toản thôn Đầu Rồng xã Cái Chiên: nguồn gốc ở từ năm 1990 không tranh chấp, cấp ngày 8/7/2015 diện tích cấp 227,4 m2 trong khi đó diện tích thực tế sử dụng 392,2m2 (thửa đất số 100 Tờ bản đồ số 81 diện tích 392,2m2); Mặt khác, còn sai lệch 50 m2 đất ở so với hồ sơ trình của UBND xã và phòng Tài nguyên và Môi trường diện tích là 277,4 m2.

- Có 01/165 hồ sơ cấp GCN lần đầu nhưng không đúng về ranh giới và không đủ diện tích đất vườn (CLN) liền kề đất ở cho dân trong khi người dân đang sử dụng đất ổn định. Do vậy, khó khăn cho công tác quản lý đất đai (phần diện tích đất vườn liên kề không có đối tượng quản lý). Như: Hộ bà Hoàng Thị Vân thôn Đầu Rồng (cấp thiếu đất CLN chỉ cấp 198 m2 đất CLN, cấp 400m2 đất ở so với thửa đất số 73 Tờ bản đồ số 78 diện tích 1.160,1m2).

- Có 15/165 hồ sơ cấp GCN sau đăng ký biến động đất đai (chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế, ....) cho nhân dân không đúng với ranh giới, diện tích hộ dân đang quản lý, sử dụng; Chưa đảm bảo cấp đủ hạn mức đất ở, không cấp đất vườn (CLN) liền kề đất ở cho nhân dân trong khi người dân đang sử dụng đất ổn định. Như:

+ Hộ bà Lê Thị Sinh (Nhận tặng cho từ ông Nguyễn Văn Hải) phố Trần Khánh Dư, thị trấn Quảng Hà: Cấp thiếu 85,6 m2 đất vườn liền kề cho bà Sinh do cấp không căn cứ vào hồ sơ địa chính thửa đất số 43 Tờ bản đồ địa chính số 19, diện tích 211,6 m2 trên địa bàn thị trấn  mà chỉ cấp theo GCN đã cấp ngày 22/7/2004 của ông Nguyễn Văn Hải.

+ Hộ ông Đinh Văn Khạnh (nhận chuyển nhượng từ bà Vũ Thị Hải được cấp GCN năm 2014) thôn 4 xã Đường Hoa: cấp thiếu đất vườn liền kề so với hồ sơ địa chính thửa đất số 372 Tờ bản đồ số 70 diện tích 964,1m2 đo vẽ năm 2012 trên địa bàn xã.

+ Hộ ông Đinh Văn Nghĩa (nhận tặng cho từ mẹ Đinh Thị Tâm được cấp GCN năm 2002) thôn 4 xã Đường Hoa: cấp chưa đủ đất vườn liền kề so với hồ sơ địa chính thửa đất số 288 Tờ bản đồ số 70 diện tích 1.046,9m2 đo vẽ năm 2012 trên địa bàn xã. (Trong khi hồ sơ cấp GCN cho bà Đinh Thị Tâm năm 2002 chỉ cấp 300m2 đất ở thiếu 100m2 đất ở theo quy định tại Quyết định số 2515/2000/QĐ-UBND ngày 02/10/2000 của UBND Tỉnh hạn mức là 400m2);

+ Hồ sơ cấp GCN cho Ông Vũ Văn Phượng (nhận CN của ông Phạm Văn Huynh được cấp GCN năm 2003) thôn 4 xã Quảng Phong: cấp thiếu đất vườn liền kề so với hồ sơ địa chính thửa đất số 311 Tờ Bản đồ địa chính số 39 năm 2012 diện tích 2.766m2 (Trong khi hồ sơ cấp GCN cho ông Phạm Văn Huynh năm 2003 chỉ cấp 300m2 đất ở thiếu 100m2 đất ở theo quy định tại Quyết định số 2515/2000/QĐ-UBND ngày 02/10/2000 của UBND Tỉnh hạn mức là 400m2);

+ Hồ sơ cấp GCN cho ông Nguyễn Văn Sáng (Nhận thừa kế của bố là ông Nguyễn Văn Lai được cấp GCN năm 2007) thôn Hải Thành xã Quảng Thành: cấp thiếu 2.720,6m2 đất nông nghiệp liền kề so với thửa đất số 277 Tờ 47 Bản đồ địa chính năm 2008 diện tích 3.020,6m2 (Trong khi hồ sơ cấp GCN cho ông Nguyễn Văn Lai năm 2007 chỉ cấp 300m2 đất ở thiếu 100m2 đất ở theo quy định tại Quyết định số 3717/2005/QĐ-UBND ngày 30/9/2005 của UBND Tỉnh hạn mức là 400m2)

+ Hộ ông Nguyễn Hữu Thạo (nhận tặng cho từ mẹ Lê Thị Kỳ được cấp GCN năm 2003): Cấp thiếu 1.141 m2 đất vườn liền kề so với hồ sơ địa chính thửa đất số 14 Tờ Bản đồ địa chính số 58 năm 2008 diện tích 1.441m2;

+ Hộ Phạm Gia Đoàn (cấp đổi từ GCN cũ đã cấp năm 2007): cấp thiếu 165m2 đất ở theo hạn mức đã không căn cứ vào hồ sơ địa chính thửa đất số 43 Tờ Bản đồ địa chính số 58 năm 2008 diện tích 265m2.

* Kiểm tra 03 hồ sơ cấp GCN thời kỳ trước đây (Hộ bà Đinh Thị Tâm thôn 4 xã Đường Hoa được cấp GCN năm 2002, Hộ ông Phạm Văn Huynh thôn 4 xã Quảng Phong được cấp GCN năm 2003, Hộ ông Nguyễn Văn Lai thôn 3 xã Quảng Thành được cấp GCN năm 2007) thấy rằng, phần lớn GCN cũ đã cấp giai đoạn từ năm 2002 năm 2007 được hộ gia đình tự kê khai đăng ký quyền sử dụng đất theo Mẫu số 6d/ĐK, Mẫu số 6b/ĐK, Mẫu số 04/ĐK được UBND cấp xã xác nhận, phòng TNMT thẩm tra, sơ đồ thửa đất được định hướng tương đối đo bằng thước dây vẽ thủ công bằng tay, khi cấp GCN chỉ cấp đối với phần diện tích đất ở có nhà, không cấp đất vườn liền kề đất ở, chưa cấp đủ hạn mức đất ở so với Quy định tại các Quyết định số: 2515/2000/QĐ-UB ngày 02/10/2000, số 3717/2005/QĐ-UBND ngày 30/9/2005, số 4505/2007/QĐ-UBND ngày 05/12/2007 của UBND Tỉnh). Đây là nguyên nhân chính nảy sinh tranh chấp đất đai giữa người đã chuyển nhượng, cho tặng với người được nhận chuyển nhượng được nhận tặng cho. Khó khăn cho công tác thu hồi đất, đền bù GPMB (nếu có). Lý do cấp sai: cán bộ thẩm tra hồ sơ (cấp xã, cấp huyện) không căn cứ hồ sơ địa chính đã được đo đạc, xét duyệt từ năm 2008-2012 (bản đồ địa chính tỷ lệ 1/1.000; Sổ mục kê; sổ địa chính,...) để hướng dẫn các hộ dân cấp đổi lại GCN theo đúng ranh giới đang quản lý, sử dụng trước khi thực hiện việc đăng ký biến động mà thực hiện ngay việc cấp GCN theo đăng ký biến động căn cứ diện tích GCN cũ đã cấp trước đây.

- Có 01/165 hồ sơ cấp GCN, UBND huyện đã tự ý cắt, không cấp phần diện tích đất nằm trong hành lang an toàn công trình trong khi người dân đang quản lý, sử dụng (thể hiện trên hồ sơ địa chính đã được xét duyệt) và không có thông báo thu hồi đất hoặc quyết định thu hồi đất của cấp có thẩm quyền sai so với quy định tại Điểm c Khoản 4 Điều 56 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP. Như hồ sơ cấp GCN cho hộ bà Ngô Thị Loan phố Trần Quốc Toản thị trấn Quảng Hà (không cấp cho nhân dân phần diện tích 33,5m2 ảnh hưởng bởi hành lang An toàn lưới điện).

 

2.3. Về cấp không đúng thời gian sử dụng theo loại đất.

Có 05/165 hồ sơ cấp GCN thực hiện cấp đất nông nghiệp cho nhân dân chưa đảm bảo thời hạn sử dụng đất. Trong đó:

- Có 04/05 hồ sơ cấp GCN lần đầu thiếu căn cứ và không đồng nhất thời hạn sử dụng đất CLN cho dân như: hồ sơ cấp GCN cho ông Phạm Trung Dũng, thôn Hải Tiến và ông Nguyễn Văn Đại, thôn Bắc thời hạn sử dụng đất CLN đến ngày 01/7/2064; Trong khi hồ sơ cấp GCN cho hộ bà Hoàng Thị Vân, thôn Đầu Rồng thời hạn sử dụng đất CLN lại đến ngày 15/10/2043; Hồ sơ cấp GCN cho ông Nguyễn Phú Quảng, thôn Nam thiếu cơ sở cấp thời hạn sử dụng đất HNK đến ngày 01/7/2063;....

- Có 01/05 hồ sơ cấp đổi lại GCN thiếu cơ sở xác định thời hạn sử dụng đất CLN như hồ sơ cấp GCN cho bà Ngô Thị Loan phố Trần Quốc Toản, thị trấn Quảng Hà đến 15/10/2043;

2.4. Về luân chuyển hồ sơ giữa các cơ quan.

Có 39/165 hồ sơ cấp GCN quá thời hạn do Chi cục thuế Hải Hà chậm ban hành thông báo nộp nghĩa vụ tài chính cho các hộ dân.

 

3. Kết quả kiểm tra hiện trạng

Đoàn thanh tra kiểm tra thực địa 17 hồ sơ cấp GCN QSD đất tại 07 xã, thị trấn, Cụ thể:

3.1. Thị trấn Quảng Hà: kiểm tra sử dụng đất của 02 hộ.

- Hộ bà Lê Thị Sinh số nhà 27 phố Trần Khánh Dư: GCN số sê ri BV 928042 ngày 18/6/2015 cấp cho hộ bà Sinh không đúng so với thực tế bà Sinh đang quản lý, sử dụng không phù hợp so với hồ sơ địa chính thửa đất số 43 Tờ bản đồ địa chính số 19 trên địa bàn thị trấn. Tại thời điểm kiểm tra hộ bà Sinh sử dụng đất vượt ra ngoài ranh giới đã được cấp GCN số sê ri BV 928042 ngày 18/6/2015 với diện tích vượt là 85,6 m2 (Vượt chiều ngang khoảng 3 m, vượt chiều dọc khoảng 6 m); trên 1 phần diện tích đất vượt hộ bà Sinh đã xây dựng 01 nhà cấp 4 mái lợp proximăng.

- Hộ bà Ngô Thị Loan phố Trần Quốc Toản: GCN số sê ri BV 638994 ngày 09/6/2015 cấp cho hộ bà Loan không đúng so với thực tế bà Loan đang quản lý, sử dụng. Tại thời điểm kiểm tra hộ bà Loan sử dụng đất vượt ra ngoài ranh giới đã được cấp GCN số sê ri BV 638994 ngày 09/6/2015 với diện tích khoảng 33,5m2 trên đất đã làm sân, xây tường rào và làm cổng.

3.2. Xã Quảng Điền: kiểm tra hiện trạng sử dụng đất của 04 hộ.

- Hộ ông Hoàng Văn Chinh thôn 1: GCN cấp cho hộ ông Chinh không đúng ranh giới, diện tích so với thực tế hộ ông Chinh đang quản lý, sử dụng. Tại thời điểm kiểm tra hộ ông Chinh đang quản lý, sử dụng 1.500m2 trong đó 142,86 m2 đất ở đã được cấp GCN còn lại là đất nông nghiệp liền kế đất ở đang sử dụng chưa được cấp GCN.

- Hộ ông Ngô Xuân Thiệu thôn 3: GCN cấp cho hộ ông Thiệu không đúng về ranh giới, diện tích so với thực tế hộ ông Thiệu đang quản lý, sử dụng. Lý do: Chưa cấp đổi theo bản đồ địa chính.

- Hộ ông Đỗ Văn Thạo thôn 4: GCN cấp cho hộ ông Thạo không đúng về ranh giới, diện tích so với thực tế hộ ông Thạo đang quản lý, sử dụng. Tại thời điểm kiểm tra, hộ ông Thạo đang quản lý, sử dụng 3.643m2 trong đó 300 m2 đất ở đã được cấp GCN (đã được tách làm 3 bìa mang tên ông Thạo) còn lại là đất nông nghiệp liền kế đất ở hộ ông Thạo đang sử dụng không được cấp GCN.

- Hộ ông Nguyễn Hữu Đặng thôn 6: sử dụng đất đúng mục đích, đúng ranh giới đã được cấp GCN.

3.3. Xã Phú Hải: kiểm tra hiện trạng sử dụng đất của 03 hộ.

- Hộ ông Nguyễn Hồng Thành, thôn Nam: GCN cấp cho hộ ông Thành không đúng ranh giới, diện tích so với thực tế hộ ông Thành đang quản lý, sử dụng, không đúng so với hồ sơ địa chính thửa đất số 163 Tờ bản đồ địa chính số 9 trên địa bàn xã. Tại thời điểm kiểm tra hộ ông Thành sử dụng đất vượt ra ngoài ranh giới đã được cấp GCN số sê ri BV 991591 ngày 23/3/2016.

- Hộ ông Nguyễn Trung Hà, ông Nguyễn Trung Hiếu thôn Trung: GCN cấp cho hộ ông Hà, ông Hiếu không đúng ranh giới, diện tích so với thực tế hộ ông Hà, ông Hiếu đang quản lý, sử dụng, không đúng so với hồ sơ địa chính thửa đất số 448 Tờ bản đồ địa chính số 6 (diện tích 548 m2) trên địa bàn xã. Tại thời điểm kiểm tra hộ ông Hà sử dụng đất vượt ra ngoài ranh giới đã được cấp GCN số sê ri BL 465927 ngày 06/8/2014 và GCN số sê ri BL 465926 ngày 06/8/2014.

- Hộ ông Phạm Văn Lý, thôn Nam: tại thời điểm kiểm tra hộ ông Lý sử dụng đúng mục đích, đúng ranh giới theo GCN số BL 333067 cấp ngày 08/6/2016.

3.4. Xã Cái Chiên: kiểm tra hiện trạng sử dụng đất của 02 hộ.

- Hộ bà Hoàng Thị Vân thôn Đầu Rồng: GCN cấp cho hộ bà Vân không đúng ranh giới, diện tích so với thực tế hộ bà Vân đang quản lý, sử dụng, không đúng so với hồ sơ địa chính thửa đất số 73 Tờ bản đồ số 78 diện tích 1.160,1m2 đo vẽ năm 2012 trên địa bàn xã. Tại thời điểm kiểm tra hộ bà Vân sử dụng đất đúng mục đích. Tuy nhiên, về ranh giới đã sử dụng đất vượt ra ngoài ranh giới đã được cấp GCN số sê ri BV 928150 ngày 03/7/2015 đối với phần đất CLN.

- Hộ ông Trần Quốc Toản thôn Đầu Rồng: GCN cấp cho hộ ông Toản không đúng ranh giới, diện tích so với thực tế hộ ông Toản đang quản lý, sử dụng, không đúng so với hồ sơ địa chính thửa đất số 100 Tờ bản đồ số 81 diện tích 392,2m2 đo vẽ năm 2012 trên địa bàn xã. Tại thời điểm kiểm tra hộ ông Toản sử dụng đất đúng mục đích. Tuy nhiên, về ranh giới đã sử dụng đất vượt ra ngoài ranh giới đã được cấp GCN số sê ri BV 928151 ngày 03/7/2015.

3.5. Xã Đường Hoa: kiểm tra hiện trạng sử dụng đất của 02 hộ.

- Hộ ông Đinh Khắc Khạnh thôn 4: GCN cấp cho hộ ông Khạnh không đúng ranh giới, diện tích so với thực tế hộ ông Khạnh đang quản lý, sử dụng, không đúng so với hồ sơ địa chính thửa đất số 372 Tờ bản đồ số 70 diện tích 964,1m2 đo vẽ năm 2012 trên địa bàn xã. Tại thời điểm kiểm tra hộ ông Khạnh sử dụng đất đúng mục đích. Tuy nhiên, về ranh giới đã sử dụng đất vượt ra ngoài ranh giới đã được cấp GCN số sê ri BV 638528 ngày 21/01/2015.

- Hộ ông Đinh Văn Nghĩa thôn 4: GCN cấp cho hộ ông Nghĩa không đúng ranh giới, diện tích so với thực tế hộ ông Nghĩa đang quản lý, sử dụng, không đúng so với hồ sơ địa chính thửa đất số 288 Tờ bản đồ số 70 diện tích 1.046,9m2 đo vẽ năm 2012 trên địa bàn xã. Tại thời điểm kiểm tra hộ ông Nghĩa đã sử dụng đất vượt ra ngoài ranh giới đã được cấp GCN số sê ri BV 638464 ngày 09/01/2015; Trên phần đất sử dụng vượt (giáp phần đất trống) hộ ông Nghĩa đã tự ý xây dựng trên đất 01 quán bán hàng với diện tích khoảng 40 m2 chưa chuyển mục đích sử dụng.

* Ngoài ra, đã kiểm tra đối với hộ bà Đinh Thị Tý và ông Lê Văn Đạo thôn 3. Tại thời điểm kiểm tra, 02 hộ có hành vi tự ý chuyển mục đích từ đất trồng lúa nước sang đất phi nông nghiệp. Theo báo cáo của UBND xã đã lập biên bản vi phạm hành chính đối với 02 hộ với hành vi tự ý chuyển mục đích từ đất trồng lúa nước sang đất phi nông nghiệp; Hiện nay UBND huyện đã chỉ đạo UBND xã buộc 02 hộ phải thực hiện khắc phục hậu quả trả lại tình trạng ban đầu của đất.

3.6. Xã Quảng Phong: kiểm tra hiện trạng sử dụng đất của 02 hộ.

- Hộ ông Nguyễn Văn Khuê, thôn 2: tại thời điểm kiểm tra hộ ông Khuê chưa xây dựng nhà ở trên đất đã nhận chuyển nhượng ô đất số 05 Khu tái định cư Texhong của ông Vũ Văn Ngữ (vợ Lương Thị Liên).

- Hộ ông Vũ Văn Phượng, thôn 4 (nhận chuyển nhượng của ông Phạm Văn Huynh): GCN cấp cho hộ ông Phượng không đúng ranh giới, diện tích so với thực tế hộ ông Phượng đang quản lý, sử dụng, không đúng so với hồ sơ địa chính thửa đất số 311 Tờ Bản đồ địa chính số 39 năm 2012 diện tích 2.766m2. Tại thời điểm kiểm tra về ranh giới đang sử dụng đất thực tế vượt ra ngoài ranh giới đã được cấp GCN số sê ri BV 928444 ngày 19/8/2015.

3.7. Xã Quảng Thành: kiểm tra hiện trạng sử dụng đất của 02 hộ.

- Hộ ông Phạm Gia Đoàn thôn Hải Tiến (cấp đổi bổ sung tài sản): GCN cấp cho hộ ông Đoàn không đúng ranh giới, diện tích so với thực tế hộ ông Đoàn đang quản lý, sử dụng, không đúng so với hồ sơ địa chính thửa đất số 43 Tờ Bản đồ địa chính số 58 năm 2008 diện tích 265m2. Tại thời điểm kiểm tra về ranh giới đang sử dụng đất thực tế vượt ra ngoài ranh giới đã được cấp GCN số sê ri CĐ 775293 ngày 08/9/2016.

- Hộ ông Nguyễn Hữu Thạo, thông Hải Tiến (nhận thừa kế của mẹ là bà Lê Thị Kỳ): GCN cấp cho hộ ông Thạo không đúng ranh giới, diện tích so với thực tế hộ ông Thạo đang quản lý, sử dụng, không đúng so với hồ sơ địa chính thửa đất số số 14 Tờ Bản đồ địa chính số 58 năm 2008 diện tích 1.441m2. Tại thời điểm kiểm tra về ranh giới đang sử dụng đất thực tế vượt ra ngoài ranh giới đã được cấp GCN số sê ri CĐ 775300 ngày 12/9/2016.

 

III. KẾT LUẬN:

 

1. Nhận xét:

- Trong thời kỳ thanh tra, Huyện Hải Hà đã có nhiều cố gắng trong việc tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện công tác cấp GCN cho hộ gia đình, cá nhân; Các Phòng ban chuyên môn của UBND huyện, UBND các xã, thị trấn đã chủ động vào cuộc, phối hợp khá tốt trong quá trình cấp GCN. Việc kê khai đăng ký, kiểm tra, lập và hoàn thiện hồ sơ, tổ chức xét duyệt, công khai niêm yết hồ sơ của UBND các xã, thị trấn; việc tham mưu giải quyết các hồ sơ cấp GCN của các cơ quan chuyên môn cơ bản đã đảm bảo trình tự, thủ tục trong quá trình thẩm định tính pháp lý của hồ sơ để trình UBND huyện ký GCN.

 

- Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện việc cấp GCN cho hộ gia đình, cá nhân các đơn vị, phòng ban chuyên môn của UBND huyện, UBND các xã, thị trấn còn có một số tồn tại, thiếu sót về: trình tự, thủ tục, luân chuyển hồ sơ giữa các cơ quan, thời hạn cấp GCN; về diện tích, hạn mức, thời hạn sử dụng theo loại đất; về chỉnh lý biến động hồ sơ địa chính trong công tác cấp GCN (đã nêu chi tiết tại mục II.2 trên).

 

2. Trách nhiệm các đơn vị đối với các tồn tại trên.

 

2.1. Đối với Phòng Tài nguyên và Môi trường.

 

- Chưa triển khai đồng loạt cấp GCN, cấp đổi GCN theo hồ sơ địa chính mới trên địa bàn toàn huyện. Việc thẩm định hồ sơ cấp giấy chứng nhận cho các hộ dân trên địa bàn chưa rà soát kỹ như việc không ghi ngày tháng của UBND cấp xã khi xác nhận hồ sơ, còn chậm nhất là hồ sơ cấp giấy Đất ở lần đầu cho các hộ. Tuy đã có văn bản chỉ đạo Văn phòng Đăng ký QSDĐ tổ chức cấp đổi GCN theo hồ sơ địa chính mới cho các hộ dân tại Thông báo số 81A/TB-TNMT ngày 08/5/2015 và Văn bản số 107/TNMT ngày 08/4/2016 của phòng TNMT về việc thực hiện công tác cấp đổi GCN theo bản đồ địa chính. Nhưng chỉ đạo chỉ cấp bổ sung đất nông nghiệp liền kề đất ở giữ nguyên diện tích đất ở theo giấy chứng nhận đã được cấp do vậy VPĐK không thực hiện đối với các hộ đề nghị cấp đủ hạn mức theo quy định do những năm trước cấp thiếu hạn mức cho các hộ dân. Hàng năm chưa chủ động trong việc kiểm tra, tập huấn về chuyên môn cho cán bộ địa chính cấp xã.

 

- Công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho cán bộ quản lý tài nguyên môi trường cho nhân dân hiểu pháp luật đất đai và pháp luật về tài nguyên môi trường chưa thường xuyên và sâu rộng.

 

2.2. Đối Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất.

Cán bộ phụ trách địa bàn chưa thực hiện tốt các trình tự thủ tục trong việc lập hồ sơ cấp giấy CNQSD đất cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn huyện, còn để nhiều tồn tại như đã nêu chi tiết tại mục II.2:

 

2.3. Đối với cấp xã, thị trấn.

- Cán bộ địa chính chưa thực hiện hết các chức năng nhiệm vụ của mình trong việc tham mưu cho Chủ tịch UBND cấp xã trong lĩnh vực quản lý đất đai và Tài nguyên Môi trường. Quản lý hồ sơ địa chính chưa chặt chẽ để mất, thất lạc nhiều bản đồ giải thửa đất nông nghiệp được đo vẽ theo Chỉ thị 299/TTg ngày 10/11/1980 của Thủ tướng Chính phủ về công tác đo đạc, phân hạng và đăng ký ruộng đất trong cả nước.

- Việc lập hồ sơ ban đầu khi cấp giấy chứng nhận cho các hộ trên địa bàn quản lý thực hiện chưa tốt còn để nhiều tồn tại như đã nêu chi tiết tại mục II.2;

- Việc kiểm tra, phát hiện hộ gia đình sử dụng đất không đúng mục đích được giao hoặc tự ý chuyển mục đích sử dụng đất chưa kịp thời và xử lý các vi phạm chưa cương quyết.

3. Nguyên nhân các tồn tại.

3.1. Về khách quan: Do giai đoạn chuyển tiếp của Luật đất đai 1993 đến Luật đất đai 2003 đến Luật đất đai 2013 có nhiều Nghị định, Thông tư hướng dẫn chậm ban hành (các tồn tại về xác định nguồn gốc, hạn mức đất ở: do cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở thời kỳ 2004 trở về trước. Đồng thời huyện Hải Hà là huyện miền núi và hải đảo, địa hình đi lại khó khăn, có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số do đó hạn chế nhận thức về pháp luật.

3.2. Về chủ quan: Cán bộ, công chức làm công tác Tài nguyên và Môi trường vừa thiếu về số lượng, việc chủ động tham mưu về chuyên môn chưa nhiều và  chưa vững về sử dụng các phần mềm chuyên ngành Tài nguyên và Môi trường. Trang thiết bị máy móc của văn phòng đăng ký đất đai còn thiếu nhiều không đồng bộ. Khi cấp giấy chứng nhận  theo chỉ thị số 18/1999/CT-TTg ngày 01/7/1999 của Thủ tướng Chính phủ do thực hiện theo tiến độ UBND huyện Hải Hà chỉ cấp đối với phần diện tích đất ở có nhà, không cấp đất vườn liền kề đất ở, có hộ cấp  chưa đủ hạn mức đất ở theo quy định. Mặt khác tại thời điểm cấp giấy theo chỉ thị số 18/1999/CT-TTg ngày 01/7/1999 của Thủ tướng Chính phủ chưa có bản đồ địa chính do đó sơ đồ thửa đất được xác định tương đối do đo bằng thước dây vẽ thủ công bằng tay vì vậy còn sai về diện tích và hiện trạng so với thực tế các hộ dân đang sử dụng. Khi thực hiện cấp do biến động  cán bộ chuyên môn không trích lục từ bản đồ địa chính do đó rất khó khăn trong việc cập nhật chỉnh lý các biến động về đất đai.

IV. KIẾN NGHỊ CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ.

 

Từ các tồn tại nêu trên, để thực hiện tốt công tác cấp GCN QSD đất nói riêng và công tác quản lý đất đai nói chung trên địa bàn huyện Hải Hà. Sở Tài nguyên và Môi trường kiến nghị:

 

IV.1. UBND huyện Hải Hà chỉ đạo:

 

1. Đối với Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện.

- Tập trung tổ chức thực hiện công tác quản lý nhà nước về đất đai, đặc biệt trong công tác lập hồ sơ cấp giấy chứng nhận lần đầu, hồ sơ chuyển mục đích sử dụng đất, quan tâm thẩm tra việc xác định nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất của UBND cấp xã để kịp thời phát hiện, ngăn chặn những sai phạm trong quản lý, sử dụng đất ở địa phương. Tập trung việc thẩm định hồ sơ cấp giấy chứng nhận QSDĐ lâm nghiệp còn tồn 93 hồ sơ cho các hộ dân trên địa bàn, chỉ đạo Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất tổ chức phát giấy chứng nhận cho các hộ đã duyệt cấp giấy, đồng thời khắc phục tất cả những tồn tại nêu trên.

 

- Tham mưu UBND huyện thu hồi giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất do UBND huyện sai 50 m2 đất ở của Hộ ông Trần Quốc Toản thôn Đầu Rồng xã Cái Chiên: 

 

 

2. Đối với Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất huyện.

- Chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện đầy đủ các nội dung những hồ sơ còn thiếu sót.

 

- Rà soát tổng hợp những hồ sơ đã cấp giấy chứng nhận cấp trước đây không đủ hạn mức, không cấp đất nông nghiệp liền kề đất ở cho các hộ dân và thực hiện cấp đổi theo đúng Luật Đất đai năm 2013, Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ và Thông tư 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014, Thông tư 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Khắc phục tất cả những tồn tại nêu trên.

 

3. Đối với Uỷ ban nhân dân cấp xã, thị trấn.

 

- Thực hiện tốt công tác quản lý các hồ sơ địa chính, bản đồ giải thửa hiện có tại xã, thường xuyên chỉnh lý các biến động, cập nhật các quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn vào bản đồ địa chính trên bản đồ và hồ sơ địa chính. Thực hiện nghiêm chỉnh chỉ đạo của UBND tỉnh tại văn bản số 7254/QĐ-UBND ngày 10/11/2016 để tạo thuận lợi cho cá nhân, tổ chức trên địa bàn huyện trong việc nộp hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.  

 

- Thường xuyên kiểm tra, phát hiện hộ gia đình sử dụng đất không đúng mục đích được giao hoặc tự ý chuyển mục đích sử dụng đất, kịp thời xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.

 

IV.2. Kiến nghị UBND Tỉnh yêu cầu UBND huyện Hải Hà:

1. Chỉ đạo phòng Tài nguyên - Môi trường, Văn phòng đăng ký QSDĐ và UBND các xã, thị trấn khắc phục ngay các tồn tại trong việc cấp GCN theo quy định của pháp luật (đã nêu tại mục II.2 trên); Kiểm điểm rút kinh nghiệm đối với các tập thể, cá nhân trong công tác quản lý đất đai, cấp GCN thời gian qua báo cáo kết quả kiểm điểm, khắc phục các tồn tại về UBND tỉnh và Sở Tài nguyên và Môi trường trong quý II/2017.

2. Tổng hợp báo cáo, đề xuất hướng giải quyết về UBND tỉnh đối với các trường hợp UBND huyện Hải Hà cấp GCN cho nhân dân thời kỳ trước đây (cấp GCN theo chỉ thị số 18/1999/CT-TTg ngày 01/7/1999 của Thủ tướng Chính phủ) cấp chưa đủ hạn mức đất ở theo quy định, chưa cấp đủ đất vườn liền kề đất ở nhằm đảm bảo quyền lợi cho người dân tránh việc khiếu kiện về đất đai. Đặc biệt việc thu hồi đất, GPMB cho các dự án phát triển kinh tế xã hội (nếu có) trong quý II/2017.

3. Chỉ đạo các cơ quan có liên quan lập đầy đủ và đúng mẫu các loại sổ quản lý đất đai theo quy định: Sổ theo dõi hồ sơ theo mẫu số 02 tại Phụ lục ban hành kèm theo Quyết định số 09/2015/QĐ-TTg ngày 25/3/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện cơ chế một cửa liên thông; Sổ tiếp nhận và trả kết quả đăng ký cấp GCN, Sổ cấp GCN theo quy định tại Thông tư 24/2014/TT-TNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

4. Chỉ đạo phòng Tài nguyên - Môi trường, Văn phòng đăng ký QSDĐ và UBND các xã, thị trấn quản lý tốt hồ sơ địa chính, chỉnh lý biến động đất đai theo quy định tại thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/05/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường (VPĐKQSD đất gửi Thông báo và bản sao GCN về UBND xã, thị trấn để có cơ sở cập nhật, chỉnh lý hồ sơ địa chính tại cấp xã. Kiểm tra định kỳ sáu tháng một lần đối với cán bộ địa chính cấp xã theo Điểm d Khoản 3 Điều 28 Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014).

5. Khẩn trương giải quyết dứt điểm 101 hồ sơ còn tồn đọng đảm bảo quyền lợi của người dân, không để phát sinh kiến nghị, khiếu nại. Quan tâm công tác tổ chức, đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên môn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của địa phương; Hạn chế sai sót trong việc lập hồ sơ, tiếp nhận, luân chuyển hồ sơ cấp GCN. Tổ chức cấp mới, cấp đổi GCN theo hồ sơ địa chính chính quy để thực hiện đề án xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính đến từng thửa đất, chủ sử dụng đất, phục vụ tốt cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn. Hàng năm UBND huyện Hải Hà thực hiện giao chỉ tiêu cấp GCN đến các xã, Thị trấn và các cơ quan liên quan làm căn cứ đôn đốc, kiểm điểm tiến độ và đánh giá thi đua của các cơ quan, đơn vị. Hàng tháng Lãnh đạo UBND huyện tổ chức giao ban kiểm điểm kết quả công tác quản lý đất đai đặc biệt công tác cấp GCN với lãnh đạo UBND cấp xã, Thị trấn và cán bộ địa chính cấp xã, Thị trấn.

6. Chỉ đạo các cơ quan có liên quan chỉ được tiếp nhận hồ sơ cấp GCN tại Trung tâm hành chính công cấp huyện theo Quyết định số 3045/QĐ-UBND ngày 21/9/2016 của UBND tỉnh “về việc công bố danh mục và nội dung TTHC được chuẩn hóa thuộc thẩm quyền quản lý của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh” Việc tiếp nhận hồ sơ phải đảm bảo đúng thành phần hồ sơ quy định, có Phiếu tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả theo đúng Quyết định số 09/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; hồ sơ phải được luân chuyển kịp thời đến các bộ phận có trách nhiệm giải quyết; lập đầy đủ Phiếu kiểm soát quá trình giải quyết hồ sơ ký người giao, người nhận, thời gian giao nhận hồ sơ.

7. Tăng cường công tác quản lý phôi GCN, đặc biệt các phôi giấy chứng nhận bị hư hỏng. Định kỳ hàng năm phải tổ chức tiêu hủy phôi giấy chứng nhận bị hư hỏng theo quy định, công bố danh sách các phôi giấy chứng nhận hỏng đã thực hiện tiêu hủy lên cổng thông tin điện tử của địa phương, đồng thời gửi danh sách tiêu hủy về Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh tổng hợp, theo dõi. Rà soát lại toàn bộ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã ký nhưng chưa trao (kể cả các giấy chứng nhận đã ký trước đây bàn giao cho cán bộ địa chính các xã, Thị trấn nhưng chưa trao), khẩn trương tổ chức trao giấy chứng nhận cho người dân. Những giấy chứng nhận chưa trao được phải tổng hợp danh sách và bàn giao cho bộ phận chuyên môn quản lý chặt chẽ, không để thất lạc, mất mát. Tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho cán bộ quản lý, cán bộ chuyên trách quản lý tài nguyên môi trường và nhân dân về pháp luật đất đai và pháp luật về tài nguyên môi trường.

8. Chỉ đạo các cơ quan chuyên môn tổ chức thanh, kiểm tra 09 xã còn lại (Tiến Tới, Quảng Thịnh, Quảng Trung, Quảng Thắng, Quảng Minh, Quảng Long, Quảng Chính, Quảng Đức, Quảng Sơn) theo các nội dung Thanh tra sở Tài nguyên và Môi trường đã tiến hành; hướng dẫn các xã trong việc quản lý đất đai theo dõi các biến động đất đai và lập hồ sơ cấp GCN các loại đất đúng, đầy đủ theo quy định.

Trên đây là kết luận thanh tra về công tác công tác cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đối với Ủy ban nhân dân huyện Hải Hà giai đoạn từ ngày 01/7/2014 đến hết ngày 30/9/2016; Đề nghị UBND huyện Hải Hà, các cá nhân, tổ chức liên quan nghiêm túc thực hiện./.

Chi tiết Kết luận tải dưới đây

Tệp đính kèm

Thanh tra Sở


Tìm kiếm theo chuyên mục - nội dung - ngày tháng

Tin Nóng
Tin tiêu điểm

Lịch công tác trống

Website liên kết
Thống kê truy cập
Hôm nay: 758
Đã truy cập: 1014882