Tài nguyên du lịch

09/07/2025

Vịnh Hạ Long

Vịnh Hạ Long là vùng biển đảo ở phía Đông Bắc của Việt Nam, thuộc địa phận tỉnh Quảng Ninh; phía Tây Bắc và Bắc kéo dài từ phường Liên Hòa, đến hết phần biển đảo đặc khu Vân Đồn; phía Đông và phía Nam giáp Vịnh Bắc Bộ; phía Tây Nam giáp đảo Cát Bà (thành phố Hải Phòng).

Theo các nhà khoa học, vùng Hạ Long và vùng rìa bờ, đảo phụ cận của vịnh, bao gồm nhiều hệ tầng trầm tích lục nguyên và cacbonat, có tuổi từ nguyên đại Cổ sinh đến Tân sinh. Nhiều hệ tầng trầm tích ở khu vực này chứa đựng các vết tích cổ sinh vật dưới các dạng hoá thạch khác nhau, trong đó có những nhóm ngành động, thực vật đã tuyệt diệt hoàn toàn hoặc gần như hoàn toàn trên trái đất.

Lịch sử địa chất Vịnh Hạ Long, như hiện biết, được mở ra từ khoảng gần 500 triệu năm trước đây, với những hoàn cảnh cổ địa lý hết sức khác nhau và khá phức tạp. Sự hiện diện của Vịnh và những hòn đảo trên Vịnh là những minh chứng độc đáo về lịch sử phát triển của trái đất, bao gồm đặc điểm địa chất và quá trình vận động, phát triển liên tục của dạng địa hình Karst, hệ Fengcong và Fengling. Địa hình đặc biệt của Vịnh Hạ Long có liên quan chặt chẽ tới lịch sử khí hậu và quá trình vận động kiến tạo của trái đất. Những hòn đảo ở đây là mẫu hình khá lý tưởng về Karst hình thành trong điều kiện nhiệt đới, ẩm. Toàn bộ khu vực Vịnh Hạ Long là một cảnh quan Karst qua nhiều triệu năm, với các tháp Karst hình chóp, hình tháp, bị bào mòn, tạo nên cảnh đẹp nổi bật, độc đáo toàn thế giới.

Thạch nhũ trong hang động trong khu Vịnh có tuổi trẻ hơn các hang động. Nước mưa theo các khe nứt trên trần hang động và vách chảy xuống, trên đường đi chúng hoà tan, bào mòn đá vôi và lắng đọng thành nhũ đá ở trần, măng đá ở nền…

Hàng ngàn hòn đảo, hàng chục hang động đẹp đã tạo nên giá trị thẩm mỹ của Vịnh. Vẻ đẹp của Hạ Long được tạo nên từ 3 yếu tố: đá, nước và bầu trời. Hệ thống đảo đá ở Hạ Long muôn hình vạn trạng quyện với trời biển, tạo ra một bức tranh thủy mặc. Phía trong những đảo đá lớn lại hấp dẫn bởi những hang động đẹp đẽ, kỳ lạ. Hang Đầu Gỗ gợi cảm giác choáng ngợp, với những nhũ đá muôn hình dáng vẻ. Động Thiên Cung như một đền đài hoành tráng, mỹ lệ. Hang Bồ Nâu có cửa uốn vòng cung, với vô số nhũ đá buông xuống mềm mại như cành liễu. Hang Sửng Sốt đẹp đến bất ngờ, với nhũ đá mang hình hài của gà rừng, cóc, rồng, thác nước, cùng với nhiều hình hài khác, như mở ra một thế giới cổ tích. Những hang động như Tam Cung, Trinh Nữ, Ba Hang, Tiên Long,… mỗi hang có những vẻ đẹp độc đáo, kỳ thú.

Lịch sử kiến tạo của Vịnh Hạ Long đã trải qua những hoàn cảnh cổ địa lý rất khác nhau, nhiều lần tạo sơn, biển thoái, sụt chìm, biển tiến… Vịnh Hạ Long còn giữ lại được những dấu ấn của quá trình tạo sơn, địa máng vĩ đại của trái đất, có cấu tạo địa lũy, địa hào cổ. Khu vực Vịnh Hạ Long đã từng là biển sâu vào các kỷ Odovic - Silua (khoảng 500 - 410 triệu năm trước), là biển nông vào các kỷ Cacbon - Pecmi (khoảng 340 - 250 triệu năm trước), biển ven bờ vào cuối kỷ Paleogen, đầu Neogen (khoảng 26 - 20 triệu năm trước) và trải qua một số lần biển lấn trong kỷ Nhân sinh (khoảng 2 triệu năm trước). Vào kỷ Trias (240 - 195 triệu năm trước), khi trái đất nói chung, châu Âu nói riêng có khí hậu khô nóng, thì khu vực Vịnh Hạ Long là những đầm lầy ẩm ướt, với những cánh rừng tuế, dương xỉ khổng lồ tích tụ nhiều thế hệ…

Địa hình Karst ngầm là hệ thống các hang động đa dạng trên vịnh, được chia làm 3 nhóm chính:

Nhóm 1: là di tích các hang ngầm cổ, tiêu biểu là hang Sửng Sốt, động Tam Cung, động Lâu Đài, động Thiên Cung, hang Đầu Gỗ, Thiên Long...;

Nhóm 2: là các hang nền Karst, tiêu biểu là các hang Trinh Nữ, Bồ Nâu, Tiên Ông và hang Trống…;

Nhóm 3: là hệ thống các “hàm ếch biển”, tiêu biểu như 3 hang thông nhau ở cụm hồ Ba Hầm, hang Luồn, Ba Hang…

Địa hình Karst của Vịnh Hạ Long có ý nghĩa toàn cầu và có tính chất nền tảng cho khoa học địa mạo. Môi trường địa chất còn là nền tảng phát sinh các giá trị khác của vịnh, như đa dạng sinh học, văn hóa khảo cổ và các giá trị nhân văn khác.

Tổng số loài thực vật sống trên các đảo ở Vịnh Hạ Long khoảng trên một nghìn loài. Một số quần xã các loài thực vật khác nhau đã được tìm thấy, như các loài ngập mặn, các loài thực vật ở bờ cát ven đảo, các loài mọc trên sườn núi và vách đá, trên đỉnh núi hoặc mọc ở cửa hang hay khe đá. Các nhà nghiên cứu của Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên Thế giới (IUCN) đã phát hiện 7 loài thực vật đặc hữu của Vịnh Hạ Long. Những loài này chỉ thích nghi sống ở các đảo đá vôi của Vịnh Hạ Long, mà không nơi nào trên thế giới có được, đó là: thiên tuế Hạ Long, khổ cử đại tím, cọ Hạ Long, khổ cử đại nhung, móng tai Hạ Long, ngũ gia bì Hạ Long, hài vệ nữ hoa vàng. Theo thống kê, hệ sinh thái rừng kín thường xanh, mưa ẩm nhiệt đới ở Hạ Long, Bái Tử Long có: 477 loài mộc lan, 12 loài dương xỉ và 20 loài thực vật ngập mặn; đối với động vật cũng đã thống kê được 4 loài lưỡng cư, 10 loài bò sát, 40 loài chim và 14 loài thú.

Những kết quả nghiên cứu, khảo cổ học và văn hóa học cho thấy, sự hiện diện của những cư dân tiền sử trên vùng Vịnh Hạ Long từ khá sớm, đã tạo lập được những hình thái văn hóa cổ đại tiếp nối nhau, bao gồm văn hóa Soi Nhụ(trong khoảng 18.000 - 7.000 năm trước Công nguyên), văn hóa Cái Bèo (7.000 - 5.000 năm trước Công nguyên) và văn hóa Hạ Long (cách ngày nay khoảng từ 3.500 - 5.000 năm).

Phương thức sống chủ yếu của chủ nhân Soi Nhụ là “bắt sò ốc, có cả hái lượm hoa quả, đào củ, rễ cây”, biết bắt cá mà chưa có nghề đánh cá.

Di chỉ Cái Bèo là một trong những bằng chứng đầu tiên để có thể khẳng định, tổ tiên của người Việt cổ, từ rất sớm đã đương đầu với biển khơi và đã phát triển ở đây một nền văn hóa rực rỡ, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố, sắc thái khác biệt vào một dòng văn hóa truyền thống rất lâu đời trong khu vực Việt Nam và Đông Nam Á: dòng văn hóa Cuội. Về phương thức cư trú và sinh sống của người Cái Bèo, ngoài săn bắt hái lượm, đã có thêm khai thác biển.

Hiện nay, Vịnh Hạ Long còn là một khu vực phát triển năng động, có tiềm năng lớn về du lịch, nhờ những điều kiện và lợi thế sẵn có ở khu vực vùng biển Đông Bắc Việt Nam nói riêng và miền Bắc Việt Nam nói chung.

Từ hơn 500 năm về trước, trong bài thơ “Lộ nhập Vân Đồn”, Nguyễn Trãi đã lần đầu tiên ca ngợi Vịnh Hạ Long là “Kỳ quan đá dựng giữa trời cao”. Cùng với vịnh Nha Trang của Việt Nam, Vịnh Hạ Long là một trong số 29 vịnh được Câu lạc bộ các vịnh đẹp nhất trên thế giới xếp hạng và chính thức công nhận vào tháng 7 năm 2003.

Vịnh Hạ Long là khu vực có giá trị nổi bật toàn cầu, tiêu biểu nhất là các giá trị về thẩm mỹ, khoa học, lịch sử, khảo cổ... Năm 1962, khu vực Vịnh Hạ Long được công nhận là di tích thắng cảnh cấp quốc gia. Năm 1994, Vịnh Hạ Long được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới về giá trị thẩm mỹ và được tái công nhận lần thứ 2, với giá trị ngoại hạng toàn cầu về địa chất - địa mạo vào năm 2000. Ngày 16/9/2023, tại thủ đô Riyadh, Ả-rập Xê-út, Kỳ họp lần thứ 45 của Ủy ban Di sản Thế giới UNESCO đã thông qua hồ sơ đề cử, công nhận quần thể Vịnh Hạ Long - quần đảo Cát Bà là Di sản Thiên nhiên Thế giới.

Với những giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học và thẩm mỹ đặc biệt của Vịnh, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định xếp hạng Danh lam thắng cảnh Vịnh Hạ Long là di tích quốc gia đặc biệt (Quyết định số 1272/QĐ-TTg, ngày 12/8/2009).

Vịnh Bái Tử Long

Vịnh Bái Tử Long là một Vịnh nằm trong Vịnh Bắc Bộ ở vùng Đông Bắc của Việt Nam. Vịnh Bái Tử Long bao gồm một vùng biển của phường Quang Hanh, Cẩm Phả, Cửa Ông và Đặc khu Vân Đồn.

Vùng biển của Vịnh có vị trí địa lý: phía đông giáp vùng biển của đặc khu Cô Tô, phía tây giáp phần đất liền của phường Quang Hanh, Cẩm Phả, Cửa Ông và đảo Cái Bầu, phía nam giáp vùng biển ngoài khơi Vịnh Bắc Bộ, phía bắc giáp vùng biển các xã Cái Chiên, Đầm Hà, Quảng Hà. Trong Vịnh có hàng trăm hòn đảo lớn nhỏ thuộc tuyến đảo Vân Hải của Đặc khu Vân Đồn.

Theo các sự tích kể lại, khi xưa người dân nước Việt mới lập đã bị giặc ngoại xâm lấn. Ngọc Hoàng đã sai Rồng mẹ mang một đàn Rồng con xuống hạ giới giúp người Việt đánh giặc. Khi những chiếc thuyền giặc từ ngoài biển tiến vào bờ, đàn Rồng đã phun vô số châu ngọc và thoắt biến thành muôn ngàn đảo đá trên biển, tạo nên bức tường thành vững chắc để chặn bước tiến của thuyền giặc.

Đoàn thuyền giặc đang lao nhanh, bị chặn đột ngột đã đâm vào các đảo đá hoặc đâm vào nhau vỡ tan tành. Sau khi giặc tan, Rồng mẹ và Rồng con không trở về trời mà ở lại hạ giới, nơi vừa diễn ra trận chiến. Vị trí Rồng mẹ xuống là Hạ Long, Rồng con xuống là Bái Tử Long. Đuôi đàn rồng quẫy nước trắng xóa là Long Vĩ với bãi cát mịn và dài hơn chục cây số.

Vịnh Bái Tử Long là vùng đảo có khí hậu phân hóa 2 mùa rõ rệt: mùa hạ nóng ẩm, và mùa đông khô lạnh. Nhiệt độ trung bình năm từ 15 °C- 25 °C; lượng mưa vào khoảng từ 2000mm - 2500mm / năm. Vịnh Bái Tử Long còn có hệ thống thủy triều với mức triều vào khoảng 3.5- 4m/ngày.

Vịnh Bái Tử Long cùng với Hạ Long trở thành một trong những kỳ quan thiên nhiên của thế giới. Nơi đây còn in dấu nền văn hóa Hạ Long từ hàng nghìn năm trước và cũng còn lưu giữ khá nguyên vẹn nét tinh khôi của một quần đảo thuở hồng hoang. Với những hòn đảo xinh đẹp và những bãi cát dài trắng xóa cho nên Vịnh Bái Tử Long ngày càng thu hút khách nước ngoài tham quan. Đặc biệt khu sinh thái Bái Tử Long thuộc Đặc khu Vân Đồn trải dài trên diện tích 100 ha, có trên 10 km bờ biển, khu du lịch sinh thái được xây dựng trên cơ sở kết hợp hài hoà kiến trúc truyền thống Á Đông với phong cách hiện đại phương tây. Những nhà sàn khép kín, sát biển tạo cảm giác gần gũi với thiên nhiên, xoá nhoà ranh giới giữa thế giới hiện đại ồn ào, náo nhiệt với biển cả mênh mông. Nhịp sống của Vạn Chài với những truyền thuyết về biển cả và thưởng thức những đặc sản biển như cá giò, cá song, tôm, cua, ghẹ, hến, mai, tu, hài, ốc nhảy, ốc hương, mực...

Vườn quốc gia Bái Tử Long được chọn là một trong những khu vực đại diện về bảo tồn biển của Việt Nam. Theo kết quả khảo sát do khách hàng của Công ty du lịch sinh thái Gecko Travel (Anh) bình chọn mới đây thì Vịnh Bái Tử Long của Việt Nam đã lọt vào "top 5" những địa điểm du lịch tuyệt vời nhất Đông Nam Á.

Hiện nay, ngoài sử dụng tàu, thuyền, một cách khác để chiêm ngưỡng cảnh quan Vịnh Bái Tử Long là ngắm nhìn từ trên cao bằng thủy phi cơ. Tạp chí The New York Times (Mỹ) từng bình chọn trải nghiệm ngắm Vịnh Bái Tử Long và Vịnh Hạ Long từ thủy phi cơ là một trong những dịch vụ du lịch hấp dẫn nhất năm 2015.

Các đảo ở Bái Tử Long có dạng là đảo đá vôi và đảo phiến thạch, là hình ảnh cổ xưa của địa hình có tuổi kiến tạo địa chất khoảng 300 triệu năm, do quá trình vận động nâng lên, hạ xuống nhiều lần từ lục địa thành trũng biển. Quá trình Karst bào mòn, phong hoá tạo ra một hình thái đặc biệt như một bức tranh thủy mạc được tạo ra từ biển và đảo. Trên các đảo đá của vịnh cũng có các hang động karst, đặc biệt là hang Quan (hang Hải quân) mà người ta dùng làm nơi trú ẩn của tàu thuyền xưa kia trong những khi biển động. Các đảo và cụm đảo khác nổi tiếng khác như Cặp Kỳ Nhảy, Cặp Kỳ Giã, Thẻ Vàng, cụm đảo Hòn Chồng, Hòn Vân Đồn, Hòn Ỏn, Hòn Ba Sao, núi Chân Nghĩa... cũng là những điểm hấp dẫn cho khám phá. Ngoài ra, trên Vịnh Bái Tử Long có nhiều đảo đất nên có nhiều dân cư sinh sống, chăn nuôi, trồng trọt như Quan Lạn, Minh Châu, Ngọc Vừng, Đông Chén, Thẻ Vàng...

Đặc biệt có đảo Khỉ (đảo Rều) nằm cách phường Cẩm Phả không xa, nơi đây có nuôi rất nhiều giống khỉ vàng Macaca mulatta để lấy dược liệu làm Vắc-xin phòng chống bệnh bại liệt dạng uống (OPV) góp phần vào việc thanh toán hoàn toàn bệnh bại liệt tại Việt Nam vào những năm 2000, Vắc-xin viêm gan A, bệnh tiêu chảy ở trẻ em, viêm đường hô hấp, thuốc phòng chống virus H5N1.

Lịch sử Vịnh Bái Tử Long cũng gắn liền với những trang sử của dân tộc Việt Nam với những địa danh nổi tiếng như Vân Đồn, nơi cửa biển sầm uất thời Lý cách đây gần 900 năm, một vùng trên bến dưới thuyền, bộn bề hàng hoá, tấp nập thương nhân từ Xiêm La, Trung Quốc, lại thêm những chuyến tàu bè cập cảng của Ấn Độ, Nhật Bản, từ vùng Trung Cận Đông.

Vịnh Bái Tử Long cũng là nơi tưởng nhớ chiến công oai hùng của Trần Khánh Dư cùng 3 anh em họ Phạm, người xã Quan Lạn đánh tan đoàn thuyền lương của tướng giặc Nguyên Mông Trương Văn Hổ (1288). Ngoài ra, trên Vịnh Bái Tử Long có các đền thờ nổi tiếng như: Đền Cửa Ông, đền Suốt, thờ Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng là con thứ ba của Đức ông Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn - góp công rất lớn trong nhiều trận đánh quân Nguyên Mông. Đồn Tĩnh Hải, thành nhà Mạc (trên đảo Ngọc Vừng), đỉnh Quan Lạn (trên đảo Quan Lạn); chùa 100 gian ở đảo Thắng Lợi (đặc khu Vân Đồn - Quảng Ninh) là một trong những công trình kiến trúc lớn trên dải đất vùng Đông Bắc.

Vịnh Bái Tử Long là nơi tập trung đa dạng sinh học cao với những hệ sinh thái điển hình như hệ sinh thái rừng ngập mặn, hệ sinh thái rạn san hô, hệ sinh thái tùng áng, hệ sinh thái rừng cây nhiệt đới. Kết quả khảo sát điều tra cho thấy sự đa dạng về các loại động vật biển gồm 391 loài. Hầu hết các loại động vật biển ở đây đều là loài hải sản có giá trị kinh tế cao và mang ý nghĩa khoa học rất lớn. Sự có mặt của ấu trùng sống phù du và sự có mặt của con non phản ánh chu kỳ khép kín của một vòng đời các loài hải sản. Sự tồn tại của hai dạng sống đồng thời này có được nhờ những hệ sinh thái biển thuộc vùng Vịnh Bái Tử Long, nó là nơi phân bố, phát sinh, lưu giữ nguồn sống. Cụ thể là: Động vật phù du 51 loài, động vật đáy 132 loài, cá 19 loài, san hô 79 loài (trong đó có 17 loài ghi trong sách Đỏ Việt Nam). Trong đó có nhiều loài quý hiếm như bào ngư, hải sâm, sái sùng, trai ong còn gọi là bò hải ngưu (Sirenia) thế giới đã đưa vào loài quý hiếm cần được bảo vệ.

Với những giá trị đặc biệt về mặt cảnh quan, địa mạo, sự đa dạng sinh học, cùng với sự tiềm ẩn trầm tích văn hóa của Vân Đồn là một trong những chiếc nôi văn hóa của người Việt cổ nên Vịnh Bái Tử Long cần được sự quan tâm và bảo vệ xứng đáng.

 

*/ Tài nguyên du lịch Văn hoá – Tâm linh

Khu di tích lịch sử nhà Trần tại Đông Triều

Khu di tích lịch sử nhà Trần tại Đông Triều (Di tích lịch sử - văn hóa đền, lăng mộ các vua Trần) thuộc địa phận các phường An Sinh, Đồng Triều và Bình Khê, tỉnh Quảng Ninh.

Triều Trần (1225-1400) với võ công, văn trị hiển hách, đã mở ra một kỷ nguyên hào hùng trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Theo tư liệu lịch sử và phả tộc họ Trần, vùng Đông Triều chính là đất tụ cư đầu tiên của họ Trần ở nước ta, sau đó, vùng đất này được vua Trần Thái Tông ban cho anh trai là Trần Liễu làm ấp thang mộc, chính vì vậy, nơi đây luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của các vua nhà Trần.

Khu di tích lịch sử nhà Trần tại Đông Triều hiện nay được định hình rõ nét về mặt quy mô từ sau năm 1299, khi Thượng hoàng Trần Nhân Tông đến Yên Tử tu hành, lập nên Thiền phái Trúc Lâm. Đến cuối thế kỷ XIV, nhiều lăng mộ của vua Trần được xây dựng hoặc di chuyển về Đông Triều. Cùng với việc xây dựng lăng mộ, triều đình còn xây dựng đền, miếu để thờ cúng các bậc tiên đế, cùng nhiều công trình kiến trúc tôn giáo để phục vụ cho việc tu hành, giảng đạo. Vì thế, nơi đây đã trở thành một vùng “thánh địa” linh thiêng, nơi tập trung nhiều kiến trúc độc đáo mang đậm dấu ấn của triều đại nhà Trần.  Đông Triều còn được xem như là một trong những trung tâm lịch sử, văn hoá đặc biệt tiêu biểu, là “Trung tâm Phật giáo” của nước Đại Việt dưới thời Trần. Khu di tích hiện nay có tổng diện tích khoanh vùng bảo vệ là: 22.063.054,5m2,  gồm hệ thống lăng mộ, đền - miếu, công trình tín ngưỡng, tôn giáo gắn liền với lịch sử nhà Trần và Thiền phái Trúc Lâm, tiêu biểu như:

Lăng Tư Phúc (lăng Vua Trần Thái Tông và Trần Thánh Tông): nằm trên một quả đồi thấp (xưa kia còn gọi là núi An Bài), thuộc thôn Trại Lốc, phường An Sinh. Theo sách Trần Triều Thánh tổ các xứ địa đồ, xưa kia, lăng Tư Phúc nằm trong một khuôn viên rộng, có núi bao bọc, bên trái có bia đá, bên trong có ba nền điện thờ, phía sau là khuôn viên có tường bao, trong tường bao là ba nền lăng. Hiện nay, di tích chỉ còn lại phế tích kiến trúc. Năm 2009, các nhà khảo cổ học tiến hành khai quật thăm dò tại di tích, đã phát lộ dấu vết một số kiến trúc.

Thái Lăng (lăng Vua Trần Anh Tông): là nơi an táng vua Trần Anh Tông và người vợ của ông là Thuận Thánh Bảo Từ Hoàng hậu. Lăng được xây dựng trên một quả đồi thấp, có tên là đồi Trán Quỷ, thuộc địa bàn phường An Sinh. Hiện nay, di tích chỉ còn lại phế tích kiến trúc. Khi tiến hành khai quật tại đây, các nhà khảo cổ học đã xác định được cấu trúc mặt bằng của lăng gồm có ba cấp nền.

Mục lăng (lăng Vua Trần Minh Tông): tọa lạc tại chân đồi Khe Gạch, thuộc địa phận phường An Sinh. Theo Trần Triều lăng tẩm đồ mạn ký,Mục lăng có ba nền. Hiện nay, Mục lăng đã bị phá hủy hoàn toàn, chỉ còn dấu tích ở vị trí phía dưới đập Trại Lốc.

Ngải Sơn lăng (lăng Vua Trần Hiến Tông): tọa lạc tại chân đồi thuộc khu Ao Bèo, thôn Trại Lốc 2, phường An Sinh. Theo thư tịch cổ, lăng Trần Hiến Tông có mặt bằng hình chữ nhật, phần mộ ở giữa hình vuông. Lăng chỉ có một cửa vào duy nhất từ phía Nam; trong cửa là hai dãy tượng thú và quan hầu bằng đá, được đặt đăng đối nhau, chạy dài đến tận phần mộ; phía sau cùng là điện miếu tế lễ.  Hiện nay, ở quanh lăng còn có rất nhiều gạch, đặc biệt có loại gạch hình chữ nhật, bên sườn có chữ "Vĩnh Ninh trường" (gạch Vĩnh Ninh), nhiều mảnh ngói trang trí hình cánh sen, có hoạ tiết cúc dây.

Phụ Sơn lăng (lăng Vua Trần Dụ Tông): được xây dựng trên một khu đất cao, bao quanh bởi các khoảnh ruộng thấp (vốn trước đây là những dòng nước chảy quanh lăng), thuộc địa bàn phường An Sinh. Hiện nay, Phụ Sơn lăng chỉ còn là phế tích. Năm 2012, khi tiến hành khai quật tại khu vực này, đã xác định được dấu tích một số khu vực kiến trúc của Phụ Sơn lăng, như tẩm điện chính, hành lang, tường bao…

Nguyên lăng (lăng Vua Trần Nghệ Tông): quay hướng Nam, nằm trên một sống đất cao, ba phía Đông - Tây - Bắc được bao bọc bởi dãy núi Đốc Trại. Lăng thuộc địa phận Khe Nghệ, thôn Bãi Dài, phường An Sinh. Sách Trần triều thánh tổ các xứ địa đồchép về Nguyên lăng như sau: “Bốn mặt vết tường gạch dài 1 trượng (3,3m), rộng 2 thước (0,66m). Mộ ở trong tường, có đường kính 3 thước 5 tấc (1,15m)”. Hiện nay, di tích đã bị phá hủy, chỉ còn là phế tích. Qua khai quật khảo cổ đã xác định được hai khu vực thuộc di tích: khu vực chính tẩm (trung tâm của lăng), khu vực hành lễ, huyệt mộ...

Hy Lăng (Đồng Hy lăng, lăng mộ giả của Vua Trần Duệ Tông và Trần Thuận Tông): toạ lạc ở núi Ngọc Thanh, thôn Đạm Thủy, phường Đông Triều, được xây dựng năm 1377, với tổng diện tích khoảng 1 ha. Sách Trần Triều Thánh tổ các xứ địa đồchép về lăng như sau: “tường bao ngoài của lăng có chiều Đông Bắc dài 5 trượng 6 thước; chiều Tây Nam dài 2 trượng 2 thước. Bốn mặt xây đá, dài hơn một dặm, còn lại là tường đất. Tường trong dài 2,2 trượng, rộng 8 thước. Miếu có nền dài 2 trượng 5 thước, rộng 1 trượng 2 thước. Có một bệ đá dài 4,1 thước; một bệ đất dài 2,9 thước. Cả hai bệ đều rộng 2,1 thước và cao 1,3 thước”. Hiện nay, lăng đã bị phá hủy, chỉ còn phế tích kiến trúc.

Đền An Sinh (Điện An Sinh): toạ lạc trên một đồi đất thuộc địa bàn thôn Trại Lốc, phường An Sinh. Theo sách Trần Triều Thánh tổ các xứ địa đồ:đền An Sinh được xây dựng vào thời Trần, thờ 5 vị hoàng đế nhà Trần, có mặt bằng kiến trúc hình chữ “Công”, gồm bái đường, ống muống và hậu cung. Đến thời Nguyễn, điện được xây dựng lại theo bố cục hình chữ “Tam”,  thờ 8 vị hoàng đế nhà Trần. Bên cạnh đền có hai miếu nhỏ, để thờ bà Hoàng và Khổng Tử, xung quanh có thành rộng bao bọc, phía trước cửa có bia nhỏ đề "Hạ mã" và "Tiêu diệc". Đền An Sinh ngày nay có diện tích hơn 1000m2, mặt bằng kiến trúc dạng chữ “Công”, gồm 5 gian tiền đường, một toà trung điện và 5 gian 2 chái hậu cung, với kết cấu hai tầng tám mái, các bộ vì kèo dạng chồng rường, giá chiêng. Đền là nơi thờ Trần Hưng Đạo, Công đồng, Sơn thần, Thổ địa và 8 vị vua Trần. Trong khuôn viên đền hiện còn lưu giữ rất nhiều hiện vật có giá trị và vật trang trí kiến trúc bằng đất nung có khung niên đại khoảng thế kỷ XIV- XVIII, như: bia đá, mảnh tháp, gạch, ngói, linh thú…

Đền Thái: nằm trên đồi Đình, thuộc thôn Trại Lốc, phường An Sinh. Khởi nguyên, đây chính là Tiên miếu, do An Sinh Vương Trần Liễu xây dựng vào khoảng nửa đầu thế kỷ XIII, thờ tổ tiên nhà Trần và Trần Thừa, sau đó, bài vị của các vua Trần được đưa về đây thờ cúng và Tiên miếu được đổi thành Thái miếu. Thời Nguyễn, di tích bị tàn phá, nên dân làng đã xây dựng lại một ngôi đình, gọi là đình Đốc Trại, thờ 8 vị vua Trần và được triều đình sắc phong là Thành hoàng của làng Đốc Trại. Hiện nay, các công trình này cũng đã trở thành phế tích. Kết quả khảo sát, thăm dò khai quật khảo cổ tại di tích cho thấy, đền Thái có hai lớp kiến trúc thời Trần và Nguyễn.

Am - chùa Ngọa Vân: nằm trên núi Bảo Đài, ở độ cao 600m so với mực nước biển, thuộc thôn Tây Sơn, phường Bình Khê. Ngọa Vân là địa danh gắn với nơi tu hành và viên tịch của vị Tổ thứ nhất Thiền phái Trúc lâm - Trần Nhân Tông, cùng một số cao tăng thời Trần và Lê Trung hưng. Di tích hiện đã bị phá hủy nặng nề. Kết quả thăm dò, khai quật khảo cổ học tại khu vực này đã xác định được dấu vết của một số công trình cùng hiện vật có niên đại thời Trần và thời Lê Trung hưng, như di tích Thông Đàn, khu vực Đá Chồng, khu Ba Bậc, khu vực Am - chùa Ngọa Vân.

Chùa Hồ Thiên (Trù Phong tự): được khởi dựng vào thời Trần, nằm ở phía Nam dãy Phật Sơn, thuộc thôn Phú Ninh, phường Bình Khê. Tương truyền, địa điểm này là nơi đăng đàn thuyết pháp của Phật hoàng Trần Nhân Tông và Pháp Loa. Di tích nay chỉ còn là phế tích.

Chùa Quỳnh Lâm: toạ lạc trên một ngọn đồi (núi Tiên Du), thuộc phường Bình Khê. Chùa được khởi dựng từ thời Lý, mở mang vào thời Trần. Pháp Loa - vị Tổ thứ hai của Thiền phái Trúc Lâm, đã cho xây dựng và mở mang chùa thành một trong những trung tâm phật giáo lớn đương thời. Chùa còn trải qua nhiều lần trùng tu vào thời Lê và Nguyễn, nhưng đến nay chỉ còn là phế tích. Qua khai quật khảo cổ, đã phát hiện dấu vết nền móng của một số lớp kiến trúc xếp chồng lên nhau, mang dấu ấn thời Lý - Trần -  Lê - Nguyễn. Ngôi chùa hiện nay có mặt bằng kiến trúc dạng chữ “Công”, gồm bái đường, trung đường, hậu đường. Trong khuôn viên chùa hiện còn lưu giữ được tấm bia trang trí hình rồng và hai bệ rồng mang phong cách nghệ thuật thời Lý và hệ thống tháp cổ được ghép bằng đá xanh ở trước sân chùa.

Chùa Trung Tiết (chùa Tuyết): tọa lạc trên một quả đồi thấp, thuộc thôn Nghĩa Hưng, phường An Sinh. Ngoài thờ Phật, chùa còn thờ hai vị cận thần của vua Trần Anh Tông là Thái học sinh Đặng Tảo và Gia nhi Chủ nô Lê Chung. Ngôi chùa hiện nay mới được tu bổ, tôn tạo lại vào đầu thế kỷ XX, gồm các hạng mục: tam quan, chùa chính, nhà Tổ, nhà Mẫu và một số công trình phụ trợ khác...

Chùa - quán Ngọc Thanh: nằm ở sườn phía Đông của dãy núi Đạm Thủy, cùng khu vực lăng Đồng Hy, thuộc thôn Đạm Thủy, phường Đông Triều. Sách Đại Nam nhất thống chí ghi: “Lăng Đồng Hy: lăng Trần Duệ Tông và Thuận Tông, ở núi Ngọc Thanh xã Đạm Thủy, huyện Đông Triều, có bi chí. Đời Xương Phù dựng chùa quán, dấu cũ vẫn còn”. Như vậy, chùa và quán Ngọc Thanh đều được xây dựng vào đời Vua Trần Phế Đế - Vua Trần Giản Hoàng (1377-1388). Di tích nay chỉ còn phế tích. Năm 1990, tại nền cũ, nhân dân địa phương đã xây dựng chùa thờ Phật và đền thờ Đức Thánh Trần. Chùa Ngọc Thanh có mặt bằng kiến trúc dạng chữ “Đinh”, gồm bái đường (ba gian, hai chái) và ba gian hậu cung. Đền thờ Đức Thánh Trần nằm phía sau chùa, có bố cục mặt bằng hình chữ “Nhất”, gồm 3 gian, xây theo lối tường hồi bít đốc.

Am Mộc Cảo: nằm bên tả ngạn suối Phủ Am Trà, thôn Trại Lốc, phường An Sinh, cách Thái lăng 1,5km về phía Tây Bắc. Am  là nơi ở của Thuận Thánh  Bảo Từ Hoàng thái hậu để phụng thờ và chăm sóc lăng mộ vua Trần Anh Tông. Hiện nay, tại đây chỉ còn lại dấu tích nền móng của am xưa.

Bên cạnh giá trị về kiến trúc, Khu di tích lịch sử nhà Trần còn lưu giữ khá nhiều di vật, cổ vật có giá trị về lịch sử, văn hóa và khoa học, gồm: bia đá, chân tảng đá, gạch, ngói trang trí, đồ gốm các loại, tháp đá, tượng voi, ngựa... Ngoài ra, Khu di tích còn là nơi lưu giữ và duy trì nhiều sinh hoạt văn hóa dân gian độc đáo gắn với lịch sử vùng đất, tiêu biểu là lễ hội đền An Sinh, lễ hội chùa Quỳnh Lâm và chùa - quán Ngọc Thanh...

Với những giá trị đặc biệt của Khu di tích, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định xếp hạng Di tích lịch sử Khu di tích nhà Trần tại Đông Triều (huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh) là di tích quốc gia đặc biệt (Quyết định số 2383/QĐ-TTg ngày 09/12/2013).

Di tích lịch sử Bạch Đằng

Khu di tích nằm ở phía Tây tỉnh Quảng Ninh. Đây là địa điểm ghi dấu sự kiện quân và dân nhà Trần đã lập nên chiến thắng lẫy lừng - Chiến thắng Bạch Đằng đánh tan quân Nguyên Mông ngày 09/4 (8/3 - Âm lịch) năm 1288.

Trải qua những thăng trầm của lịch sử, dấu tích của trận chiến Bạch Đằng năm 1288 vẫn còn hiện hữu qua những di tích tiêu biểu:

Bãi cọc Yên Giang: nằm ở cửa sông Chanh, dài khoảng 118m, rộng 20m. Đa phần những cọc được tìm thấy ở khu vực này đều được làm từ thân cây lim hoặc táu, còn để nguyên vỏ. Chiều dài thân cọc từ 2,6m đến 2,8m, phần cọc được đẽo nhọn để cắm xuống lòng sông dài từ 0,5m đến 1m. Hiện nay, bãi cọc Yên Giang đã được khoanh vùng bảo vệ, xây kè xung quanh, dựng bia giới thiệu di tích.

Bãi cọc đồng Vạn Muối: nằm ở cửa sông Rút. Trong quá trình canh tác, đào ao thả cá, nhân dân đã phát hiện được nhiều cọc gỗ cắm đứng và cắm xiên trong khu vực đồng Vạn Muối. Một số cọc đã được đưa về trưng bày tại Bảo tàng Bạch Đằng, Bảo tàng Hải quân, Bảo tàng Hải Phòng. Hiện nay, bãi cọc nằm trong khu vực đầm nuôi thủy sản và ruộng canh tác của phường Phong Cốc.

Bãi cọc đồng Má Ngựa: nằm ở cửa sông Kênh, cách bãi cọc đồng Vạn Muối khoảng 1km về hướng Nam, thuộc khu Hưng Học, phường Phong Cốc. Bãi cọc có quy mô khoảng 2100m2, trải dài 70m theo chiều Đông - Tây và rộng 30m theo chiều Bắc - Nam. Mật độ phân bố và độ sâu của cọc không đồng đều.

Đền Trần Hưng Đạo: đây là địa điểm lưu niệm vị anh hùng dân tộc, thiên tài quân sự Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Đền tọa lạc trên một doi đất cổ, có tổng diện tích trên 5000m2, với các hạng mục, như đền chính, nhà bia, nhà soạn lễ và một số hạng mục phụ trợ (đường vào, nghi môn, trụ biểu, sân vườn, hệ thống điện chiếu sáng, tường bao....).

Hiện nay, trong đền còn lưu giữ được 9 đạo sắc phong của các vua triều Nguyễn phong cho Trần Hưng Đạo và một số hiện vật khác.

Miếu Vua Bà: nằm sát đền Trần Hưng Đạo, thuộc khu vực trung tâm của Khu di tích. Tương truyền, đây là miếu thờ bà bán hàng nước, người đã chỉ dẫn cho Trần Hưng Đạo biết lịch triều con nước, địa thế lòng sông Bạch Đằng và chiến thuật hỏa công để Trần Hưng Đạo xây dựng trận địa cọc đánh giặc Nguyên Mông. Sau chiến thắng Bạch Đằng năm 1288, Trần Hưng Đạo đã tâu với vua Trần, sắc phong cho bà bán hàng nước là “Vua Bà” và lập đền thờ Bà ngay trên nền quán nước.

Bến đò rừng: là nơi Trần Hưng Đạo chọn làm địa điểm phát hỏa làm hiệu lệnh cho quân sĩ mai phục ở hai bên sông Bạch Đằng đồng loạt tấn công giặc Nguyên Mông. Hiện nay, bến đò cổ đang được khôi phục, với chiều rộng là 120m, chiều dài hơn 300m. Đầu bến là một tòa phương đình, gồm 2 tầng, 8 mái, đầu đao uốn cong hình rồng. Sát mặt bến nước có tòa khán đình, với kiến trúc 1 tầng mái, vì kèo gỗ lim, có 4 đầu đao ở 4 góc mái.

Đình Yên Giang: là nơi thờ Thành hoàng làng Yên Giang. Vào các dịp lễ lớn của làng, dân làng thường rước tượng Trần Hưng Đạo từ đền Trần Hưng Đạo về đây để tế lễ. Đình được dựng trên gò đất cao, xung quanh là ruộng đồng. Hiện nay, trong đình vẫn lưu giữ được nhiều hiện vật quý hiếm, có niên đại từ thời Nguyễn, như bia đá, hoành phi, câu đối, sắc phong.

Đền Trung Cốc (Trung Cốc từ): nằm trên một gò đất cao. Tương truyền, khi đi thị sát địa hình để chuẩn bị cho trận đánh, Trần Hưng Đạo và Phạm Ngũ Lão đã bị mắc thuyền ở đây. Sau chiến thắng Bạch Đằng năm 1288, để ghi nhớ sự kiện này, những người dân chài ở đây đã lập đền thờ Trần Hưng Đạo và Phạm Ngũ Lão. Trong đền còn thờ Yết Kiêu, Dã Tượng và hai người con gái của Trần Hưng Đạo là Đệ nhất Quyên Thanh công chúa và Đệ nhị Đại Hoàng công chúa.

Đình Trung Bản: là nơi thờ Trần Hưng Đạo, gồm các hạng mục: tả vu, hữu vu, nghi môn trụ biểu, cuốn thư trấn môn, nhà khách, nhà phụ trợ, sân vườn, tường bao... Trong đình hiện còn lưu giữ được nhiều di vật, cổ vật giá trị, có niên đại vào khoảng cuối thời Hậu Lê, đầu thời Nguyễn, như bộ kiệu bành bát cống, quán tẩy, bia đá, sắc phong...

Đình Đền Công: là nơi thờ những người đã hy sinh trong trận chiến trên sông Bạch Đằng năm 1288. Kiến trúc của đình khá đơn giản, gồm ba gian, hai chái, chiều dài hơn 17m, chiều rộng hơn 5m. Nền đình cao hơn sân 1m, có năm bậc thềm đá và hai lan can đá chạm rồng chầu hai bên.

Ngoài một số di sản văn hóa vật thể tiêu biểu kể trên, trong khu vực di tích hiện nay còn lưu giữ được nhiều di sản văn hóa phi vật thể có giá trị. Lễ hội Bạch Đằng được tổ chức bắt đầu từ ngày mồng Sáu và kết thúc vào ngày mồng Chín tháng Ba (Âm lịch) hằng năm. Ngoài những nghi lễ thông thường, trong hội còn có các trò diễn, trò chơi dân gian, như hát đúm, chơi cờ người, tổ tôm điếm, đánh đu, đấu vật, chọi gà, đua thuyền... thu hút được sự quan tâm đặc biệt của người dân trong vùng và du khách thập phương.

Với những giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học đặc biệt của Khu di tích, ngày 27/9/2012, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định xếp hạng Khu di tích lịch sử Chiến thắng Bạch Đằng năm 1288 là Di tích Quốc gia đặc biệt (Quyết định số 1419/QĐ-TTg).

Di tích thương cảng Vân Đồn

Thương cảng Vân Đồn được thành lập năm 1149 dưới thời vua Lý Anh Tông. Đây là thương cảng đầu tiên của nước Đại Việt, gồm nhiều bến thuyền trên các đảo ở Vịnh Bái Tử Long. Trên phạm vi khoảng 200 km2 có các bến: Cống Đông, Cống Tây; Cái Làng, Cống Cái; Cái Cổng, Con Quy; Cống Yên, Cống Hẹp thuộc Đặc khu Vân Đồn ngày nay.

Di tích lịch sử Quần thể Thương cảng Vân Đồn thuộc Đặc khu Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng là di tích quốc gia đặc biệt tại Quyết định số 1225/QĐ-TTg ngày 24/10/2023.

Suốt gần 7 thế kỷ kể từ khi thành lập, thương cảng Vân Đồn đông đúc tàu buôn đến từ Trung Quốc, Nhật Bản, Mông Cổ, Philippines và châu Âu. Hàng hóa theo tàu nước ngoài xuất đi chủ yếu là trầm hương, ngọc trai, ngà voi, vỏ quế, sừng tê giác, vàng, bạc, đồng, diêm tiêu, hải sản... Hàng hóa nước ngoài nhập vào là gấm vóc.

Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại: “Nhiều đoàn thương thuyền trước đây vào các cửa biển Tha, Viên ở châu Diễn, nay phần nhiều tụ tập ở Vân Đồn”. Không chỉ mở rộng về địa giới hành chính, Vân Đồn từ trang được nâng lên thành một trấn, lập vào thời Trần Dụ Tông (1345), thuộc lộ Hải Đông, sau đổi là lộ An Bang. 

Bước sang đầu thế kỷ 19 dưới thời nhà Nguyễn, thương cảng Vân Đồn không còn hoạt động. Cư dân trên một số bến cổ di chuyển đi nơi khác, kho tàng bến bãi dần bị hỏng. Các bến thuyền thương mại chuyển thành bến phục vụ nhu cầu đánh cá, trao đổi lâm, hải sản đến các nơi khác trong nước của nhân dân địa phương.

Trải qua thời gian và sự bồi lắng của biển cả, diện mạo sầm uất của khu thương cảng Vân Đồn xưa không còn. Hiện nay, trong lòng đất trên bờ vụng tại các bến thuyền cổ vẫn còn hàng triệu mảnh sành sứ vỡ hay nguyên vẹn, nền nhà, nền đình, nền chùa, tiền đồng…

Núi Bài Thơ

Núi Bài Thơ nằm ở phường Hồng Gai, tỉnh Quảng Ninh. Ba mặt núi là những khu dân cư đông đúc, phía tây và phía nam núi kề bên Vịnh Hạ Long xinh đẹp. Núi Bài Thơ là nơi ghi lại dấu ấn lịch sử, nơi quần tụ của nhiều di tích nổi tiếng như: chùa Long Tiên, đền Đức Ông, Trung tâm điện chính Bưu điện Quảng Ninh; Trận địa 12 ly 7; Hang thị đội Hồng Gai; Các hang phòng không sơ tán (từ hang số 1 đến hang số 6).

Núi Bài Thơ mang nhiều giá trị về lịch sử, văn hóa, thẩm mỹ được Bộ Văn hóa Thông tin và Thể thao (nay là Bộ Văn hóa thể thao và Du lịch) cấp bằng công nhận là Di tích lịch sử, thắng cảnh theo Quyết định số 1140/QĐ/BT, ngày 31/8/1992 đã trở thành điểm đến thú vị cho những nhà lịch sử, các thi sỹ, nhiếp ảnh gia, nhân dân và khách du lịch gần xa.

Hàng trăm năm trước, Núi bài thơ mang tên núi Rọi Đèn (tên chữ là Truyền Đăng Sơn). Theo truyền thuyết dân gian ở địa phương: núi Truyền Đăng là ngọn núi cao nhất ở vùng biển Cửa Lục, án ngữ trên con đường hàng hải cổ đại từ phía Bắc vào nội địa nước ta. Các triều đại phong kiến đều lấy núi Truyền Đăng đặt làm vọng gác tiêu biểu ở vùng biển ải Đông Bắc. Hàng đêm, lính đồn trú treo ngọn đèn lồng trên đỉnh núi báo hiệu tình hình phía Đông Bắc vẫn yên tĩnh. Nhưng khi có giặc dã, người lính bèn đốt củi cho ngọn khói bốc cao báo động về đất liền. Từ việc treo đèn đốt lửa của lính đồn trú trên đỉnh núi, nên núi có tên là Rọi Đèn, tên chữ là Truyền Đăng.

Năm 1468, vua Lê Thánh Tông dẫn quân đi tuần vùng biển An Bang và đóng quân dưới núi Truyền Đăng. Xúc động trước vẻ đẹp thần tiên của mây trời non nước Hạ Long, nhà vua đã làm một bài thơ và cho khắc vào phía Nam của vách núi đá và từ đó núi có tên Bài Thơ. Hai trăm sáu mươi mốt năm sau (1729), chúa Trịnh Cương đã làm một bài thơ họa lại bài thơ của vua Lê Thánh Tông và cho khắc vào gần đấy...

Đến thời kỳ kháng chiến chống Mỹ (năm 1968) núi Bài Thơ còn là vọng gác phòng không canh giữ biển trời vùng mỏ, là hang cứu thương, phục vụ chiến đấu và là nơi đặt trung tâm điện tín của Bưu điện tỉnh Quảng Ninh…. Đặc biệt sự kiện cắm cờ Đảng đầu tiên trên núi Bài Thơ mang một ý nghĩa, giá trị lịch sử to lớn. Sáng 01/5/1930, lá cờ Đảng phấp phới bay trên núi Bài Thơ đã đánh một dấu mốc quan trọng trong tiến trình cách mạng ở khu mỏ, nó thúc giục công nhân và lao động khu mỏ lên trường tranh đấu, đạp đổ ách thống trị tàn bạo của chủ nghĩa thực dân và bây giờ ngọn cờ đó vẫn tung bay phất phới trên ngọn núi Bài Thơ, là biểu tượng của vùng đất mỏ anh hùng.

Cũng trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ núi Bài Thơ còn góp phần tạo nên một sự kiện lịch sử quan trọng. Lịch sử còn ghi lại: Dân quân tự vệ phường Bạch Đằng (nay thuộc phường Hồng Gai), dưới chân núi Bài Thơ đã thành lập một khẩu đội 12 ly 7 và đưa lên trực chiến ngay trên núi Bài Thơ. Khẩu đội này là một trận địa phòng không bám trụ và chiến đấu trong điều kiện hết sức gian khổ và góp phần tích cực vào thắng lợi chung của quân dân vùng mỏ Quảng Ninh.

Với một vai trò khác, vào những năm 1964 -1975, tại các hang ở sườn núi phía Đông của núi Bài Thơ, Trung tâm điện chính Bưu Điện Quảng Ninh đã chọn làm nơi sơ tán nhà cơ vụ và đặt một trạm viba để phát sóng truyền đi những thông tin quan trọng, nhờ đó không những đảm bảo được thông tin liên lạc thông suốt mà còn góp phần đánh trả lại máy bay Mỹ, bảo vệ trạm phát sóng an toàn.

Di tích đền thờ Đức ông Trần Quốc Nghiễn

Đền thờ Đức ông Trần Quốc Nghiễn là một ngôi đền thờ đẹp và nổi tiếng linh thiêng nằm tại phường Hồng Gai, tỉnh Quảng Ninh được Bộ Văn hoá  Thông tin  và thể thao (nay là Bộ Văn hóa thể thao và Du lịch) xếp hạng là Di tích lịch sử, danh thắng cấp quốc gia từ năm 1992 theo Quyết định số 1140/QĐ/BT ngày 31/8/1992.

Đền thờ Đức ông Trần Quốc Nghiễn - con trai cả của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, cháu đích tôn của An Sinh Vương Trần Liễu và là cháu ruột của vua Trần Thái Tông. Ông là một vị tướng tài giỏi, văn võ song toàn. Hơn thế, ông còn là người con tận hiếu, bề tôi tận trung. Trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên - Mông, Trần Quốc Nghiễn cùng với cha của mình là Trần Quốc Tuấn và các tướng lĩnh nhà Trần lập nhiều chiến công hiển hách. Đặc biệt, trong cuộc chiến trên sông Bạch Đằng lần thứ 3 vào năm 1288, Trần Quốc Nghiễn đã có công lớn trong việc dẹp giặc ở vùng Đông Bắc.  Để ghi nhớ những đóng góp to lớn của ông, các chủ thuyền thường xuyên qua núi Bài Thơ đã cùng nhau lập đền thờ.

Ngôi đền có Nhà hành lễ gồm 3 gian bái đường và 1 gian hậu cung. Trong đó, gian chính giữa thờ đức ông Trần Quốc Nghiễn; hai gian bên thờ Yết Kiêu và Giã Tượng. Đây là 2 vị tướng tài, có công giúp triều Trần đánh đuổi giặc ngoại xâm.

Bên cạnh đó, trong khuôn viên của đền thờ có một chiếc giếng cổ. Mặc dù nằm sát biển nhưng nước giếng ở đây rất trong và ngọt. Do đó, đền không chỉ là nơi dừng chân của ngư dân mà còn là nơi lấy nước ngọt, phục vụ cho những chuyến đi biển dài ngày của họ. Ngoài ra, hiện nay đền vẫn còn lưu giữ được 2 tấm bia đá và 5 bức tượng cổ (có từ thế kỷ XIII) do một số chủ thuyền tạc dựng.

Năm 2011, UBND thành phố Hạ Long có Quyết định phê duyệt Tổng mặt bằng công trình Khu Di tích Đền Đức ông Trần Quốc Nghiễn với tổng diện tích xây dựng được mở rộng là 2.531.8m2 và năm  2013, UBND thành phố tiếp tục điều chỉnh quy hoạch mở rộng khuôn viên Khu di tích lên 2689,8m2

Chùa Long Tiên

Chùa Long Tiên tọa lạc phía dưới chân núi Bài Thơ, thuộc phường Hồng Gai, tỉnh Quảng Ninh. Nơi đây có khung cảnh yên bình, tĩnh lặng, rất lý tưởng cho các hoạt động tâm linh, thờ cúng. 

Ngôi chùa này được công nhận là Di tích cấp Quốc gia theo Quyết định số 1140/QĐ/BT ngày 31/8/1992 bởi Bộ Văn hóa, Thông tin và Thể thao (nay là Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch). Mỗi khi Tết đến xuân về, lễ hội tại chùa được tổ chức, thu hút du khách, Phật tử gần xa đến chiêm bái, cầu mong may mắn và bình an.

Chùa Long Tiên được xây dựng vào năm 1941, dưới thời vua nhà Nguyễn. Nơi đây thờ thần phật và các vị tướng đã có công với đất nước. Chùa theo hệ phái Bắc Tông, chủ trương hướng con người tới sự tự độ tự tha, không chỉ là giác ngộ, giải thoát cho chính bản thân mình mà còn có thể giác ngộ, giải thoát cho tất cả chúng sinh.

Chùa được xây dựng theo kiểu chữ Nhị với ba gian tiền đường và ba gian hậu cung. Chùa có hai tầng tám mái. Mái ngói lợp âm dương với các đầu đao vút mềm mại. Hệ thống vì kèo cột gỗ của chùa được xây dựng theo kiểu giá chiêng chồng rường tứ hàng chân.

Bước vào chùa Long Tiên, bạn sẽ thấy cổng Tam Quan với 3 cửa đại diện cho Hữu - Vô - Đại. Trong đó, cánh cổng lớn nhất sẽ dành cho những người theo đạo Phật vào cúng bái, còn hai bên cổng nhỏ hơn sẽ dành cho du khách vãng lai vào tham quan. 

Đi tiếp vào sâu bên trong khuôn viên chùa là bức tượng Phật Bà Quan Âm Bồ Tát, trên tay cầm bình nước cam và cành liễu, tượng trong tư thế phổ độ chúng sinh. Tiếp theo là lối từ sân dưới lên sân trên để dành cho phật tử dâng hương bái Phật. Mọi người dâng hương tại đây để cầu may mắn và bình an cho gia đình và bản thân.

Tòa chính điện nằm ở trung tâm và cao nhất, tựa vào lưng núi với nhiều tượng Phật được điêu khắc tỉ mỉ. Cao nhất là pho tượng Phật A Di Đà tam tôn, tiếp theo là Phật A Di Đà tọa thiền thuyết pháp trên đài sen, sau đó là Phật Quan Âm ngàn mắt, ngàn tay. Hai bên còn có tượng Thiện Tài và Long Nữ đứng canh. Thứ tư là tượng Ngọc Hoàng Thượng Đế, thứ năm là tượng Cửu Long (hay còn được biết đến là Thích Ca sơ sinh), tất cả đã được điêu khắc từ thời Lê. …

Sau khi tham quan chính điện, sẽ sang khu vực cung tả là nơi thờ cha – thánh Trần Hưng Đạo. Cung bên hữu là vị trí thờ mẹ – Vân Phương Thánh Mẫu.

Miếu Tiên Công

Miếu Tiên Công hay còn được gọi là Đền Thập Cửu Tiên Công, tọa lạc ở phường Phong Cốc, tỉnh Quảng Ninh, được xếp hạng Di tích lịch sử, văn hóa quốc gia tại Quyết định số 34VH/QĐ-BVHTT ngày 09/02/1990 của Bộ Văn hóa (nay là Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch).

Miếu Tiên Công thuộc địa phận phường Phong Cốc, tỉnh Quảng Ninh. Miếu thờ 19 vị Tiên Công, là những người có công đầu tiên quai đê, lấn biển thành lập nên khu đảo Hà Nam, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh vào năm 1434. Các vị Tiên Công được thờ tại đây gồm: Vũ Song - Hiệu sinh, Vũ Hồng Tiệm - Hiệu sinh, Bùi Huy Ngoạn - Hiệu sinh, Ngô Bách Đoan, Nguyễn Phúc Cốc, Nguyễn Phúc Thắng, Nguyễn Phúc Vinh, Lê Khép, Lê Mở, Vũ Tam Tỉnh - Quốc tử giám, giám sinh, Vũ Giai - Quốc tử giám, giám sinh, Nguyễn Nghệ - Quốc tử giám, giám sinh, Nguyễn Thực, Bùi Bách Niên - Quốc tử giám, giám sinh, Phạm Việt, Dương Quang Tín, Dương Quang Tấn, Hoàng Nông, Hoàng Nênh. Sau này nhân dân thôn Trung Bản đưa bài vị của 2 vị Tiên Công là Hoàng Nông và Hoàng Nênh về thờ tại miếu Tiên Công thuộc phường Liên Hòa ngày nay.

Miếu nằm trong khuôn viên rộng gần 3.000m2, quay hướng Đông, kiến trúc kiểu chữ nhị, mỗi tòa có 3 gian, 2 chái, 4 mái, lợp ngói mũi hài. Gốc tích của ngôi đền là ngôi miếu thờ thần nông và thần đất. Dù chưa biết chính xác miếu được xây dựng vào năm nào, nhưng trên câu đầu có ghi dòng chữ “Gia Long tam niên trọng hạ nguyệt, cốc nhật thượng trụ thượng lương” (Giữa mùa Hạ năm Gia Long thứ 3 thời Nguyễn - 1804 dựng cây thượng lương). Miếu được trùng tu qua các năm: 1920, 1931, 1946 và nhiều lần về sau.

Hiện nay miếu Tiên Công còn lưu giữ được khá nhiều hiện vật và đồ thờ tự có giá trị. Gian giữa có một khám thờ bằng gỗ sơn son thiếp vàng, trạm trổ đẹp, bên trong đặt bài vị “Khai sáng đồng điền thập thất tiên công thần vị” (thần vị của 17 vị Tiên công khai mở đất). Phía trước khám có một sắc phong bằng gỗ sơn son thiếp vàng của Vua Khải Định ngày 25/7/1924, có nội dung: Sắc cho bốn xã Phong Cốc, An Đông, Cẩm La, Trung Bản, tổng Hà Nam, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Yên thờ phụng các người có công khai canh ruộng đồng… Phía trên gian giữa có bức đại tự với 4 chữ “Phong lưu nghĩa dân” nói lên đức tính của người dân vừa phong lưu vừa nghĩa hiệp. Trong miếu còn có bức hoành phi “Hoài đức duy hinh”. Ngoài ra còn có câu đối ca ngợi, tưởng nhớ công lao to lớn của các vị Tiên Công:

“Thác thổ khai cương công tại vạn thế
Báo bản phản thủy nguyện xuất đồng nhân”
(Đắp bờ mở cõi công để muôn đời
Báo gốc hướng nguồn nguyện tạo ra những lớp người nối nghiệp)

Gian trái của miếu đặt một khán thờ bằng gỗ sơn son thiếp vàng, trong có bài vị ghi:“Phụ khẩn hậu đồng liệt vị Tiên Công thần vị”. Gian bên phải cũng có một khán thờ bằng gỗ, bài vị ghi: “Phụ khẩn hậu đồng liệt vị Tiên Công thần vị”. Trong miếu còn có tấm bia đá nói về hồ Mạch, nơi phát nguyên của các vị Tiên Công.

Đền Cửa Ông

Đền Cửa Ông (còn gọi là Đông Hải linh từ hay đền Đức Ông) nằm trên địa bàn phường Cửa Ông, tỉnh Quảng Ninh. Đền thờ thần chủ là Quốc Khảo Hưng Nhượng Đại Vương Trần Quốc Tảng, ngoài ra còn phối thờ Cửu Thiên Vũ Đế Quốc Phụ Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương cùng gia thất và các tướng lĩnh của Ngài.

Qua sử sách ghi chép có thể khẳng định đền Cửa Ông được khởi dựng, tồn tại qua hơn 100 năm. Lúc khởi dựng, đền chỉ là một thảo am nhỏ làm bằng tranh, tre, lứa lá; năm 1907-1916, đền được trùng tu lại; năm 1916, xây thêm đền Thượng, đền Trung, đền Hạ, chùa; năm 1946, đền Hạ, đền Thượng tiếp tục được tu bổ, tôn tạo; năm 2014, quy hoạch tổng thể khu di tích Đền Cửa Ông được phê duyệt với diện tích 18,125 ha; đến năm 2016, đền Trung được xây dựng và hoàn thành vào năm 2017. Ngoài ra, còn có đền Cặp Tiên (nhân dân gọi là đền “Cô bé Cửa Suốt”) được tạo dựng vào thời Nguyễn.

Đền Cửa Ông lúc đầu khởi dựng chỉ thờ Trần Quốc Tảng, sau khi xây thêm các khu đền Hạ, đền Trung và đền Thượng, chùa Cẩm Sơn... cụ thể như sau:

Khu vực đền Hạ: gồm đền Mẫu và đền Trung Thiên Long Mẫu

Khu vực đền Trung: thờ Khâm Sai Đông Đạo Tiết Chế Hoàng Cần, người có công dẹp giặc ngoại xâm phương Bắc, trấn giữ vùng biển Đông. Tại đây, còn thờ Sơn thần, Thủy thần vì đền Trung nằm trên dãy núi Cẩm Sơn, phía trước là biển Đông, người dân ở khu vực cửa biển cũng như thuyền bè qua lại đều cầu mong sự phù trợ, giúp sức của các vị Sơn thần, Thủy thần.

Khu vực đền Thượng: gồm đền Thượng, đền Quan Châu, đền Quan Chánh, chùa và lăng mộ Trần Quốc Tảng.

Đền Cặp Tiên: thờ một vị tiểu thư - con gái của Trần Quốc Tảng (còn gọi là “Cô bé Cửa Suốt”), quan Chánh và các vị nhân thần, sau đó lại thờ thêm Phật, Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu, Tiên Thiên Thánh Mẫu.

Các thần tích, thần sắc, sắc phong cho các vị thần còn được lưu giữ tại đền Cửa Ông trở thành kho tư liệu lịch sử quý giá cho các thế hệ con cháu tìm hiểu về quá trình dựng nước và giữ nước của triều Trần. Khu di tích đền Cửa Ông đã trải qua các cuộc chiến tranh và thăng trầm của lịch sử, nhưng vẫn bảo lưu được nhiều kiến trúc cổ kính (tường hồi hai bên ống muống và Hậu cung) và các pho tượng cổ có niên đại từ thế kỷ XIX.

Với giá trị đặc biệt trên, Di tích lịch sử Đền Cửa Ông đã được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng là Di tích quốc gia đặc biệt tại Quyết định số 2082/QĐ-TTg ngày 25/12/2017.

 

*/ Các Lễ hội tiêu biểu của tỉnh Quảng Ninh

Lễ hội Yên Tử

Địa điểm: Núi Yên Tử, phường Yên Tử, Quảng Ninh

Thời gian: Từ mùng 10 tháng Giêng đến hết tháng 3 âm lịch hàng năm

Vùng núi Yên Tử tọa lạc tại phường Yên Tử. Khu di tích này bao gồm hệ thống chùa, tháp, am, tượng Phật và cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ. Trước khi được gọi là Yên Tử, ngọn núi này còn có tên là núi Voi do hình dáng tựa như một chú voi khổng lồ đứng sừng sững giữa núi trời. Vẻ đẹp nơi đây được bao phủ bởi mây trắng quanh năm, đôi khi che lấp những ngôi chùa và ngọn tháp cao chót vót ẩn mình bên rừng cây, suối nước. Chính vì thế, các triều đại vua chúa nước ta đã xếp Yên Tử vào hàng “danh sơn” của cả nước.

Chùa Yên Tử được coi là đất tổ Phật giáo của Việt Nam thời Đại Việt. Sau khi từ bỏ ngai vàng, vua Trần Nhân Tông đã đến đây tu hành và sáng lập Thiền phái Trúc Lâm – dòng Phật giáo đặc trưng của Việt Nam. Vì vậy, mỗi dịp đầu xuân hàng năm, chùa Yên Tử lại rộn ràng tổ chức lễ hội nhằm tôn vinh công đức của Phật hoàng Trần Nhân Tông.

Lễ hội khai xuân Yên Tử mang ý nghĩa tôn vinh tinh thần nhập thế của Phật giáo Việt Nam, kết hợp hài hòa giữa đạo và đời. Thiền phái Trúc Lâm đề cao việc tu tập ngay trong cuộc sống thường nhật. Khi tham gia lễ hội, du khách không chỉ hành hương mà còn thực hành lối sống tỉnh thức, hướng đến sự cân bằng giữa tâm linh và cuộc sống hàng ngày.

Lễ hội khai xuân Yên Tử là dịp để người dân khắp nơi đổ về cầu mong bình an, may mắn và tài lộc cho năm mới. Ngoài ra, lễ hội còn góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, lịch sử của danh thắng Yên Tử. Với cảnh quan hùng vĩ cùng hệ thống chùa tháp cổ kính, nơi đây đã trở thành điểm đến quan trọng của du lịch tâm linh. Việc tổ chức lễ hội hàng năm không chỉ giúp lan tỏa những giá trị tinh thần sâu sắc mà còn thúc đẩy phát triển kinh tế du lịch địa phương.

Lễ hội khai xuân Yên Tử bao gồm nhiều hoạt động phong phú được diễn ra trong suốt ba tháng mùa xuân. Trước ngày khai mạc lễ hội, tại chùa Trình, Yên Tử, Hội Phật giáo tỉnh sẽ tổ chức nghi lễ mở cửa rừng Yên Tử. Trong nghi lễ này, các vị sư thầy cùng nhân dân địa phương sẽ thực hiện dâng hương, tụng kinh niệm phật, tế cáo đất trời, kinh phật tổ và các vị sơn thần để cầu mong mùa lễ hội diễn ra bình an, tốt đẹp. Đây được xem là nghi lễ mở màn quan trọng, thể hiện sự kính cẩn và xin phép thần linh trước khi bắt đầu lễ hội.

Lễ khai hội sẽ được tổ chức vào sáng mùng 10 tại Trung tâm Văn hóa Trúc Lâm Yên Tử với những nghi lễ trang nghiêm, mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc. Tại đây, các vị chư tăng hòa thượng sẽ tiến hành thực hiện nghi lễ cầu quốc thái dân an. Tiếp theo, các đại biểu sẽ lần lượt thực hiện đóng dấu thiêng trên ấn Yên Tử.

Để tăng thêm phần đặc sắc cho lễ hội, những tiết mục văn nghệ quy mô với sự tham gia của các nghệ sĩ nổi tiếng trong và ngoài tỉnh sẽ được đan xen, góp phần tạo không khí vui tươi đón mùa lễ hội. Ngoài ra, phần lễ còn có các hoạt động thú vị khác như thỉnh chuông, gióng trống, chúc phúc đầu năm vô cùng đặc sắc.

Sau khi kết thúc nghi lễ khai hội, du khách có cơ hội tham quan khu Trung tâm lễ hội, thượng sơn lễ Phật, làng hành hương hoặc tham gia các trò chơi dân gian hấp dẫn như: ném còn, kéo co, chọi gà, giải cờ tướng kỳ vương Yên Tử… Du khách cũng có thể thưởng thức các màn trình diễn độc đáo như: văn nghệ truyền thống tại khu vực đình làng hành hương Yên Tử, võ thuật cổ truyền và nghệ thuật múa rồng.

Trong thời gian này, hàng ngàn người sẽ bắt đầu cuộc hành hương lễ Phật theo từng dòng người, lần lượt di chuyển lên đỉnh núi Yên Tử – nơi có ngôi chùa Đồng linh thiêng, cổ kính. Đoạn đường lên đỉnh núi khá gập ghềnh, uốn lượn, được bao phủ bởi bóng mát của những cây cổ thụ to lớn và làn sương khói mờ ảo, tạo cảm giác như đang đi vào cõi Phật.

Lễ hội đình Trà Cổ

Địa điểm: Đình Trà Cổ, khu Nam Thọ, phường Móng Cái 1, Quảng Ninh

Thời gian: Từ ngày 30/5 đến 3/6 âm lịch hằng năm

Đình Trà Cổ, tọa lạc tại khu Nam Thọ, phường Móng Cái 1, tỉnh Quảng Ninh, được hình thành từ thời Hậu Lê. Trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm của lịch sử, ngôi đình vẫn sừng sững, hiên ngang như một cột mốc chủ quyền, cột mốc văn hóa Việt nơi biên ải.

Theo sử sách, đình Trà Cổ gắn với truyền thuyết “Người Trà Cổ, tổ Đồ Sơn”. Theo truyền thuyết, vào năm 1461, người dân làm nghề đánh cá từ đất Đồ Sơn (thuộc Hải Phòng ngày nay) thường đi cả gia đình kiếm kế sinh nhai ở nhiều vùng biển xa, về cả miền cửa biển (thuộc phường Móng Cái 1 ngày nay). Trong một lần bão tố, mười hai gia đình đã trôi dạt vào một bán đảo hoang vu chỉ có sú vẹt và lau sậy. Không chịu nổi vất vả, sáu gia đình đã quay về quê cũ, sáu gia đình còn lại quyết tâm bám đất, xây dựng vùng quê mới. Ban đầu chỉ là sáu nếp nhà đơn sơ, dần đã trở thành xóm làng trù phú. Như nhiều làng quê khác, đình Trà Cổ ngày ấy được bà con góp công, góp của xây dựng. Sau đó, nhân dân địa phương đã về quê cũ để xin chân hương các vị thành hoàng làng về thờ tại Đình (Không Lộ, Giác Hải, Nhân Minh, Huyền Quốc, Quảng Trạch). Ngoài ra, đây cũng là nơi phối thờ của 6 vị tiên công có công khai khẩn, lập nên vùng đất Trà Cổ xưa.

Từ đó đến nay đình Trà Cổ đã trải qua nhiều lần trùng tu lớn. Trong đó lần trùng tu gần nhất là năm 2012. Ngôi đình hiện nay được xây dựng trên khu đất rộng hơn 1000 m2, quay hướng Nam, kiến trúc kiểu chữ đinh, gồm 05 gian 02 trái bái đường và 03 gian hậu cung, kết cấu kiến trúc gỗ cổ truyền. Toàn bộ công trình được dựng lên bằng sự liên kết khung gỗ và liên kết với nhau bởi các chốt mộng. Ngôi đình là một kiến trúc cổ bề thế, mái lợp ngói vẩy, bốn góc đao cong vút như con thuyền rẽ sóng ra khơi. Đặc biệt, các bức cốn ở vì kèo thể hiện đường nét chạm trổ chắc khỏe, tinh xảo, sống động. Đề tài phong phú gồm các mảng chạm long cuốn thủy phượng bay, hổ rình mồi bên cành hoa lá… Mỗi bức chạm là một tác phẩm nghệ thuật đặc sắc. Đây được đánh giá là một trong những ngôi đình có quy mô đồ sộ và kiến trúc độc đáo của khu vực Đồng bằng Bắc Bộ.

Tại đình còn lưu giữ được nhiều hiện vật có giá trị như: 03 đỉnh hương đồng, 2 hạc cưỡi đầu rùa bằng gỗ sơn son thiếp vàng, 8 long ngai bằng gỗ của thời Nguyễn, 12 sắc phong chất liệu giấy…

Hàng năm, từ ngày 30/5 đến 3/6 âm lịch, tại đình Trà Cổ diễn ra nhiều hoạt động lễ hội truyền thống, quy mô lớn, tiêu biểu cho loại hình lễ hội dân gian. Đặc biệt, nét độc đáo của lễ hội là hội thi “Ông Voi”. Nghi lễ chính này được duy trì thường niên, trở thành nét riêng có của vùng đất biên ải Móng Cái. Theo tục lệ, trước khi vào lễ hội, làng Trà Cổ lại họp làng để chọn ra 12 người, gọi là “cai đám”, để chuẩn bị cho lễ hội năm sau. “Cai đám” phải là người khoẻ mạnh, biết làm ăn, có đạo đức và lối sống lành mạnh, gia đình con cái thuận hoà, không vướng việc tang. Những người được làng chọn cũng rất vinh dự, vì theo quan niệm của người xưa, gia đình nào làm tốt công việc cai đám sẽ được lộc, mạnh khoẻ, ăn nên làm ra… Đáng chú ý, cho dù hoàn thành tốt nhiệm vụ thì mỗi người chỉ được vinh dự làm cai đám một lần trong đời. Từ đầu năm, mỗi cai đám sẽ nuôi một chú lợn. Sau khi mua về nhà, chú lợn này được gọi là “Ông Voi”, được coi là linh vật của thần. “Ông Voi” được chăm sóc chu đáo, ăn ngon, ngủ màn để tránh muỗi, được thăm khám đầy đủ và chăm sóc, nâng niu, trân trọng.

Chiều ngày 30-5 âm lịch, sau lễ tế gia tiên, 12 cai đám sẽ dùng cũi sơn đỏ có mái che mưa nắng rước “Ông Voi” đã được tắm rửa sạch sẽ ra xếp thành hai hàng trước sân đình để chầu thần. Sau lễ tế cáo yết thần, Ban tổ chức lễ hội sẽ dùng thước đo từ đầu đến đuôi, đo vòng cổ, cân nặng từng “ông”. “Ông” nào thân dài, vòng cổ to, đẹp và nặng nhất sẽ giành giải nhất; đồng thời được giữ lại để mổ tế thần. Trong mâm lễ, ngoài thủ lợn, không thể thiếu túm lông đuôi của “Ông Voi” này.

Lễ trao thưởng cho cai đám có “Ông Voi” giải nhất sẽ được tổ chức vào sáng ngày chính hội (1/6). Trong suốt những ngày hội đình, các cai đám sẽ phải túc trực ở đình, cùng Ban tổ chức lo việc cúng lễ, đèn nhang cho đến khi xong hội. Họ được dân làng kính trọng gọi là “ông đám”. Tục thi Ông Voi mang nét độc đáo riêng có, thể hiện sâu sắc ước nguyện về cuộc sống no ấm, đủ đầy của người dân Trà Cổ; đồng thời khẳng định một nét đẹp văn hóa tín ngưỡng và tính truyền đời của một nghi lễ nơi địa đầu Tổ quốc.

Lễ hội Đình Trà Cổ cùng với di tích Đình Trà Cổ và nhiều nét văn hóa đặc sắc của cư dân vùng biển Móng Cái trong hạt nhân của Khu Du lịch Quốc gia Trà Cổ đã trở thành điểm đến hấp dẫn, độc đáo, riêng có, khiến mỗi người con đất Việt đều ao ước một lần được đặt chân tới đây.

Ngày 20/12/2019, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Ngọc Thiện đã ký quyết định chứng nhận Lễ hội truyền thống Đình Trà Cổ là Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia, khẳng định sâu sắc giá trị cột mốc chủ quyền, cột mốc văn hóa nơi biên ải.

Lễ hội đình Quan Lạn

Địa điểm: Đình Quan Lạn, Đặc khu Vân Đồn, Quảng Ninh

Thời gian: Giữa tháng 6 âm lịch hằng năm

Lễ hội Quan Lạn (còn gọi là hội đua bơi Quan Lạn), là hội làng của người dân xã đảo Quan Lạn, một hòn đảo nằm ở khu trung tâm thương cảng cổ Vân Đồn. Lễ hội được tổ chức trên bến Đình, nơi có đình Quan Lạn, một ngôi đình cổ trong số ít những ngôi đình còn giữ được cho đến ngày nay.

Ngày 10 tháng 6: khoá làng (một tục làm trong lễ hội của người Việt), dân trong làng không được đi bất cứ đâu nhưng những người làm ăn ở xa và khách thập phương lại có thể về làng dự hội.

 Lễ hội Quan Lạn có tục đua thuyền khác với bơi chải. Dân làng chia làm hai phe Đông Nam Văn và Đoài Bắc Võ lập doanh trại riêng từ ngày 13 để luyện quân, chuẩn bị thuyền đua. Thuyền đua thường là thuyền đi biển trọng tải 5 đến 6 tấn, rộng và sâu lòng, được hạ buồm, trang trí đầu rồng ở mũi thuyền.

Ngày 16 làm lễ nghinh thần. Dâng lễ rước bài vị của Trần Khánh Dư từ nghè (cách đình 1,5 km) về đình. Dưới bến, đôi thuyền đua tập luyện tạo một không khí tưng bừng náo nhiệt.

Ngày 18 tháng 6 vào 3 giờ chiều (năm nào cũng vậy thường lúc này nước triều lên tới sát bến của đình) hai bên bắt đầu xuất phát. Lính bên văn áo trắng quần xanh, chân quấn xà cạp xanh, lính bên võ quần áo xám hoặc đen. Tiếng chiêng trống, tiếng hô vang, cờ bay phần phật đầy khí thế. Mỗi khi hai đàn giáp nhau ở sân đình, quân lính cùng dân chúng hét lớn vang dậy cả một vùng. Hai tướng múa những đường đao đẹp mắt, hai đoàn quân gặp nhau ba lần, tượng trưng cho ba lần đánh thắng quân Nguyên thời Trần. Tới lần thứ ba hai đoàn quân tập hợp trước miếu, hai vị tướng vào tế, khi quay trở ra thì cuộc đua thuyền mới chính thức bắt đầu.

Lễ hội Quan Lạn mang dấu ấn của một hội làng truyền thống nhưng rất hoành tráng thể hiện tinh thần thượng võ của dân tộc chống giặc ngoại xâm bảo vệ chủ quyền đất nước của những người dân vùng biển.

Ngày 20/12/2019, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành Quyết định số 4587/QĐ-BVHTT&DL về việc công bố Danh mục di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia đối với Lễ hội đình Quan Lạn (loại hình Lễ hội truyền thống).

Lễ hội đền Cửa Ông

Địa điểm: Đền Cửa Ông, phường Cửa Ông, Quảng Ninh

Diễn ra hàng năm vào ngày mùng 3-4/2 âm lịch và mùng 3-4/8 âm lịch.

Hàng năm lễ hội đền Cửa Ông được mở hai lần vào ngày 3/2 và ngày 8/3 âm lịch. Lễ hội là dịp để người dân dâng hương tưởng nhớ công đức, cuộc đời, sự nghiệp của Đức Ông Trần Quốc Tảng và các nhân thần có công với nước, với dân đang được thờ tại di tích.

Cũng giống như nhiều lễ hội truyền thống khác, lễ hội đền Cửa Ông xưa có xuất xứ từ hội làng gắn với tín ngưỡng thờ thành hoàng làng. Lễ hội được tổ chức vào ngày 3/2 và 3/8 âm lịch. Đây chính là thời gian bắt đầu vào một vụ mùa mới nên người dân nô nức tham dự lễ hội để cầu cho một năm mưa thuận gió hòa, biển nhiều tôm cá và một vụ mùa bội thu.

Với truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, ghi nhớ công đức của Hưng Nhượng Đại Vương Trần Quốc Tảng, cứ đến ngày 3/2 và 3/8 âm lịch, người dân khắp nơi trên đất nước cũng như bạn bè quốc tế lại trở về với đền Cửa Ông để dâng lễ, cầu khấn mong muốn những điều tốt lành.

Lễ hội đền Cửa Ông được tổ chức và phục dựng bài bản, quy mô vào năm 2002. Vào lúc 7 giờ ngày 3/2 âm lịch, lễ khai hội được tiến hành trên sân đền Thượng. Sau lễ khai mạc, tiếng trống khai hội được vang lên, dứt tiếng trống, vị chủ tế cùng các hộ giá làm lễ rước hòm sắc phong và linh vị gồm mũ, hia, hai thanh kiếm của Hưng Nhượng Đại Vương Trần Quốc Tảng lên kiệu trong tiếng nhạc lễ rộn ràng. Đoàn rước đứng xếp hàng dưới chân đền Thượng. Các kiệu rước sơn son thiếp vàng. Kiệu được rước từ đền ra miếu ở xã Trác Chân tên tục là Vườn Nhãn (theo truyền thuyết là nơi Đức Ông hóa trôi dạt vào) và quay trở về đền tượng trưng cho cuộc tuần du của Đức Ông. Đi đầu đoàn rước là đội múa rồng với nghi thức mở đường;  phía sau là đoàn rước cờ ngũ hành, đoàn chiêng trống, đoàn chấp kích, đoàn cờ vía, kiếm lệnh, kèn ta rồi đến các đoàn rước kiệu; đầu tiên là kiệu Long Đình đặt hòm sắc thần, bình hương, hoa quả; kiệu thứ hai là Long Kiệu đặt linh vị của Hưng Nhượng Đại Vương Trần Quốc Tảng; kiệu thứ ba là kiệu Long Mẫu đặt hòm sắc thần, bình hương, hoa quả; cuối cùng là kiệu Võng đặt khăn áo của Mẫu cùng cờ, hoa, tàn, lọng. Đoàn rước đi trong tiếng nhạc, tiếng chiêng, trống rộn ràng tạo nên một khí thế lễ hội hết sức ấn tượng. Đoàn rước đi đến đâu người dân hòa theo đến đấy; đoàn rước sẽ diễu hành qua các phố để thể hiện nghi thức Nghinh thần thể hiện lòng tôn kính của nhân dân với Đức Ông Trần Quốc Tảng; cùng với đó là lễ dâng hương hoa và tái hiện thần tích về Hưng Nhượng Đại Vương Trần Quốc Tảng.

Bên cạnh phần lễ, phần hội luôn thu hút sự tham gia của đông đảo người dân địa phương và du khách thập phương với nhiều trò chơi dân gian như thi nấu cơm, thi chọi gà, thi đập niêu, cờ người, kéo co, đẩy gậy…

Năm 2018 Đền Cửa Ông đã được nhà nước xếp hạng Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt.

Lễ hội đền Cửa Ông là một di sản vô giá nói lên quá trình hình thành, vận động và phát triển của cộng đồng; giáo dục đạo lý, tình cảm, mỹ tục, củng cố tinh thần cộng đồng tình yêu quê hương đất nước và lòng tự hào về nguồn gốc của mình đồng thời nó còn là điểm tích tụ những giá trị thẩm mỹ, giá trị tinh thần của người dân vùng biển đông bắc. Với những giá trị văn hóa, lịch sử cùng với cảnh quan tuyệt diệu của thiên nhiên chắc chắn lễ hội Đền Cửa Ông là điểm đến du lịch hấp dẫn cho tất cả mọi du khách khi đến với Quảng Ninh.

Lễ hội Bạch Đằng

Địa điểm: Diễn ra tại phường Quảng Yên.

Thời gian: Được tổ chức vào ngày mùng 8 tháng 3 (âm lịch) hàng năm, có năm kéo dài tới bốn ngày đêm.

Lễ hội kỷ niệm chiến thắng Bạch Đằng của những người anh hùng dân tộc chống giặc ngoại xâm: Ngô Quyền (năm 938), Lê Hoàn (năm 981), Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và các danh tướng nhà Trần (năm 1288).  

Dòng sông Bạch Đằng đời đời còn ghi chiến tích của những người anh hùng dân tộc chống giặc ngoại xâm. Đó là: Ngô Quyền với trận địa cọc gỗ đánh tan quân Nam Hán (năm 938); Lê Hoàn (năm 981) chống quân Tống; Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và các danh tướng nhà Trần (năm 1288) chống quân Nguyên Mông.  

Lễ hội Bạch Đằng diễn ra trên vùng đất cổ với bao chứng tích hào hùng, thu hút hàng vạn người khắp vùng về dự.  Phần lễ, có dâng hương tại đền thờ Trần Hưng Đạo, miếu Vua Bà. Dân làng rước kiệu dọc bờ sông và giống như nghi lễ của cư dân sông nước, tục bơi trải là một nghi lễ quan trọng. Trên dòng sông lớn, cuộc đua tài của nhiều thuyền đua hình lá tre lao vun vút, tiếng hò reo của người dự hội trên bờ sông như làm sống dậy âm hưởng của trận chiến năm xưa.
Phần hội, cùng với bơi trải, các trò chơi cũng được tổ chức ở nhiều nơi như đấu vật, đánh cờ người, chọi gà... Trước kia hội còn tổ chức trò diễn sông Hồng về dự., tái hiện cuộc tập trận của quân dân đời nhà Trần.  

Lễ hội Tiên Công

Địa điểm: Tại phường Phong Cốc, tỉnh Quảng Ninh

Thời gian: Ngày mồng 7 tháng Giêng Âm lịch

Lễ hội Tiên Công được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2017 theo quyết định số 1852/QĐ-BVHTTDL của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch

Lễ hội Tiên Công được tổ chức hằng năm vào ngày mồng 7 tháng Giêng Âm lịch tại phường Phong Cốc, tỉnh Quảng Ninh. Đây là dịp quan trọng để con cháu trong vùng cùng nhau tưởng nhớ, tri ân công đức của các vị Tiên Công - những bậc tiền nhân có công đầu trong việc quai đê, lấn biển, khai khẩn đất hoang và lập nên làng mạc trù phú ngày nay. 

Tín ngưỡng thờ cúng Tiên Công là nét văn hóa đặc sắc được hình thành từ đầu thế kỷ XV, bắt nguồn từ hành trình khai hoang lập địa của 19 vị Tiên Công đến từ vùng châu thổ sông Hồng. Dù tín ngưỡng thờ tiền hiền hiện diện ở nhiều vùng trên cả nước, nhưng việc biến tín ngưỡng ấy thành một lễ hội trang trọng, quy mô lớn và mang đậm tính cộng đồng như lễ hội Tiên Công thì hiếm nơi nào làm được như ở đây.

Một trong những nghi thức độc đáo và đầy ý nghĩa của lễ hội là lễ rước người sống – tức rước các cụ thượng thọ (từ 70 tuổi trở lên) lên miếu Tiên Công. Đây không chỉ là sự bày tỏ lòng thành kính với các bậc cao niên mà còn là niềm vinh dự lớn lao của mỗi gia đình, dòng họ khi có người đạt đến tuổi thượng thọ. Theo quan niệm dân gian, gia tộc nào có cụ cao tuổi là gia tộc sống phúc đức, làm việc thiện, cần cù lao động và con cháu hiếu thuận.

Trong lễ rước, con cháu đội các mâm lễ vật đi trước, gồm trầu cau, rượu, xôi, gà, hoặc thủ lợn. Đặc biệt, mâm hương án có hình long mã kết Công, biểu tượng cho sự trường thọ và phúc lộc. Bốn cụ thượng thọ khỏe mạnh, gia đình hòa thuận, con cháu chăm ngoan sẽ được chọn làm đại diện để thực hiện nghi lễ động thổ bằng hoa quả, tượng trưng cho sự tiếp nối của các giá trị truyền thống. Những cụ già yếu sẽ được con cháu khiêng bằng võng, che lọng chu đáo, tạo nên một đám rước đậm đà bản sắc gia tộc.

Không chỉ là một lễ hội tâm linh, lễ hội Tiên Công còn mang giá trị giáo dục sâu sắc, là dịp để con cháu, đặc biệt là thế hệ trẻ, hiểu hơn về đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, về truyền thống hiếu nghĩa, tôn kính người già của dân tộc Việt Nam.

Bên cạnh các nghi lễ chính, lễ hội còn có nhiều hoạt động văn hóa dân gian phong phú như: chơi cờ người, chọi gà, đánh đu, đấu vật, tổ tôm điếm, kéo co… đặc biệt là hát đúm, loại hình trình diễn dân gian đặc trưng không thể thiếu trong lễ hội Tiên Công.



Lịch công tác trống

Tin tiêu điểm
Website liên kết
Thống kê truy cập
Hôm nay: 17311
Đã truy cập: 82809336

© Cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Ninh

Giấy phép xuất bản: số 53/GP-TTĐT ngày 27/05/2015 - Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử - Bộ Thông tin và Truyền thông.

- Cơ quan chủ quản: Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

- Cơ quan quản lý nhà nước và thường trực kỹ thuật: Sở Khoa học và Công nghệ.

- Quản lý nội dung trang chủ: Báo và Phát thanh, Truyền hình Quảng Ninh.

- Quản lý nội dung các Cổng thành phần: Thủ trưởng các cơ quan, tổ chức. 

Ghi rõ nguồn "Quảng Ninh Portal" khi phát hành lại thông tin từ  Website này.