Trong định hướng phát triển nhanh và bền vững, Quảng Ninh kiên định lựa chọn con đường chuyển đổi phương thức tăng trưởng từ “nâu” sang “xanh”, đặt bảo vệ môi trường tự nhiên là yếu tố không thể tách rời của phát triển kinh tế - xã hội. Từ chủ trương đến hành động, từ hoạch định chính sách đến tổ chức thực thi và giám sát, dấu ấn vai trò của HĐND tỉnh thể hiện rõ nét, góp phần tạo nền tảng pháp lý, nguồn lực và kỷ cương để nâng cao chất lượng môi trường, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên cho hiện tại và các thế hệ tương lai.
Đồng chí Trịnh Thị Minh Thanh, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh, khảo sát phương án đầu tư cải tạo, nâng cấp đường bê tông, rãnh thoát nước ngõ 64, phố Bãi Dài, phường Uông Bí.
Nhiều chính sách đồng bộ, quyết liệt về bảo vệ môi trường
Trong quá trình cụ thể hóa chủ trương về phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu, HĐND tỉnh Quảng Ninh đã chủ động ban hành nhiều nghị quyết quan trọng, cơ chế, chính sách cụ thể, sát thực tiễn, tạo nền tảng pháp lý đồng bộ cho công tác quản lý môi trường trên địa bàn. Một trong những dấu mốc có ý nghĩa định hướng lâu dài là Nghị quyết số 144/NQ-HĐND ngày 31/5/2014 của HĐND tỉnh thông qua Quy hoạch môi trường tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.
Nghị quyết 144/NQ-HĐND đánh dấu bước đi quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm phát triển bền vững, gắn tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên. Trong đó xác định rõ các định hướng lớn nhằm phòng ngừa, kiểm soát ô nhiễm, ngăn chặn suy thoái môi trường, từng bước cải thiện chất lượng môi trường không khí, nước, đất; bảo vệ đa dạng sinh học và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu. Trên cơ sở đồng bộ với quy hoạch phát triển KT-XH, quy hoạch xây dựng và các quy hoạch ngành, Nghị quyết đề ra hệ thống chỉ tiêu môi trường cụ thể cho từng giai đoạn, làm căn cứ để các cấp, các ngành tổ chức triển khai, đồng thời là cơ sở quan trọng để HĐND tỉnh thực hiện chức năng giám sát việc tuân thủ pháp luật về bảo vệ môi trường. Việc ban hành Nghị quyết 144/NQ-HĐND đã góp phần tạo hành lang pháp lý vững chắc, định hướng lâu dài cho công tác quản lý môi trường, thể hiện rõ vai trò, trách nhiệm của cơ quan dân cử trong bảo vệ môi trường vì mục tiêu phát triển bền vững của tỉnh Quảng Ninh.
Hay như Nghị quyết số 33/2010/NQ-HĐND ngày 10/12/2010 về tăng cường công tác quản lý, bảo vệ môi trường giai đoạn 2011-2015 và Nghị quyết số 236/2015/NQ-HĐND về tiếp tục tăng cường quản lý, bảo vệ môi trường giai đoạn 2016-2020. Các Nghị quyết đã xác định rõ những chỉ tiêu về tỷ lệ che phủ rừng; tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị; tỷ lệ hộ dân nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh. Trong đó, trọng tâm là các giải pháp nhằm chấm dứt khai thác khoáng sản tại vùng cấm, vùng hạn chế; xóa bỏ các cảng, bến bãi than nhỏ lẻ ven biển, ven sông ngoài quy hoạch; di dời các cơ sở tiểu thủ công nghiệp gây ô nhiễm môi trường; bảo vệ môi trường đô thị, du lịch và các khu bảo tồn thiên nhiên... Đáng chú ý là việc tăng đầu tư và sử dụng đúng mục đích, hiệu quả nguồn chi thường xuyên từ ngân sách cho sự nghiệp môi trường đảm bảo mức chi hàng năm không dưới 3% tổng chi ngân sách và tăng dần tỷ lệ này theo tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Cán bộ kỹ thuật Trung tâm Quan trắc Tài nguyên và Môi trường tỉnh thực hiện quan trắc môi trường tại những địa điểm thường xuyên có hoạt động phát thải.
Cùng với việc ban hành các nền tảng pháp lý cho công tác quản lý môi trường, HĐND tỉnh Quảng Ninh còn phát huy rõ vai trò là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương trong việc quyết định các chính sách về bảo vệ môi trường, bảo đảm tính đồng bộ giữa mục tiêu phát triển KT-XH với yêu cầu bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường sống.
Những năm qua, tại nhiều địa phương trong cả nước, trong đó có Quảng Ninh, không khó để bắt gặp những hộ chăn nuôi gia súc, gia cầm nhỏ lẻ xen kẽ trong các khu dân cư trong nội thị, nội thành. Việc chăn nuôi này không chỉ gây mất mỹ quan đô thị, mà còn gây ô nhiễm môi trường, phát sinh những mầm bệnh, ảnh hưởng đến cuộc sống của các hộ dân sinh sống xung quanh. Trước thực trạng này, nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước đã ban hành chính sách quy định khu vực không được phép chăn nuôi trong nội thành, nội thị. Trước những thực trạng xấu của việc chăn nuôi nhỏ lẻ trong khu dân cư đô thị, nội thành, tại Kỳ họp thứ 22, HĐND tỉnh khoá XIV thông qua Nghị quyết số 45/2024/NQ-HĐND ngày 5/11/2024 quy định khu vực thuộc nội thành của thành phố, thị xã, thị trấn, khu dân cư không được phép chăn nuôi và chính sách hỗ trợ khi di dời cơ sở chăn nuôi ra khỏi khu vực không được phép chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
Theo đó, Nghị quyết đã thông qua 314 khu vực (thôn/khu) không được phép chăn nuôi tại các khu vực nội thành các địa phương trên địa bàn tỉnh và các khu chung cư, nhà ở xã hội, khu tái định cư tập trung, khu đô thị. Đồng thời, hỗ trợ chính sách về bố trí quỹ đất để xây dựng cơ sở mới tại địa điểm phù hợp, chi phí thiết bị, phương tiện di dời hoặc chuyển đổi nghề phù hợp cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân đang hoạt động tại khu vực không được phép chăn nuôi.
Các đại biểu biểu quyết thông qua Nghị quyết về việc Quy định khu vực thuộc nội thành, khu dân cư không được phép chăn nuôi và chính sách hỗ trợ khi di dời cơ sở chăn nuôi ra khỏi khu vực không được phép chăn nuôi trên địa bàn tỉnh tại Kỳ họp thứ 22 (Kỳ họp chuyên đề năm 2024).
Đồng chí Nghiêm Xuân Cường, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh, khẳng định: Nghị quyết được thông qua nhằm khắc phục tình trạng chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán hiệu quả thấp, chuyển dần sang mô hình chăn nuôi theo hình thức gia trại, trang trại, tập trung, nhằm bảo vệ, nâng cao chất lượng môi trường sống của cộng đồng, cảnh quan đô thị góp phần triển khai có hiệu quả quy định của Luật Chăn nuôi năm 2018. Nghị quyết này sẽ giúp quản lý, phát triển chăn nuôi theo quy hoạch, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, đồng thời giảm thiểu ô nhiễm, cải thiện cảnh quan đô thị, đảm bảo môi trường sống, chất lượng sản phẩm chăn nuôi và đóng góp vào sự phát triển bền vững của ngành nông nghiệp Quảng Ninh.
Đặc biệt, để phát triển ngành lâm nghiệp, nâng tỷ lệ che phủ rừng, từ năm 2021, HĐND tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 337/2021/NQ-HĐND về một số chính sách đặc thù để khuyến khích phát triển lâm nghiệp bền vững; thí điểm áp dụng chính sách hỗ trợ trồng rừng gỗ lớn, cây bản địa trên địa bàn TP Hạ Long và huyện Ba Chẽ (đơn vị hành chính trước đây). Với mức hỗ trợ 100% giống và tạo điều kiện người dân tiếp cận vốn tín dụng và hỗ trợ lãi suất vốn vay mức 6%/năm/chu kỳ trồng rừng gỗ lớn đã tạo động lực lớn cho phát triển nghề rừng theo hướng bền vững, đem lại lợi ích “kép” vừa mang lại hiệu quả kinh tế cao, vừa bảo vệ môi trường.
Sau 2 năm thực hiện nghị quyết đã có 1.197 hộ gia đình, cá nhân tham gia chính sách hỗ trợ trồng rừng sản xuất cây gỗ lớn, cây bản địa với tổng diện tích rừng trồng được hỗ trợ 1.433,2ha. Thông qua đó bước đầu góp phần tích cực phát triển diện tích rừng trồng gỗ lớn, cây bản địa, nâng cao chất lượng rừng trồng của tỉnh.
Hoạt động chăm sóc, bảo vệ rừng tại Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đông Triều.
Để dư địa phát triển lâm nghiệp tiếp tục được phát huy, ngày 10/7/2024, tại kỳ họp thứ 19, HĐND tỉnh khóa XIV đã ban hành Nghị quyết số 37/2024/NQ-HĐND quy định một số chính sách đặc thù để khuyến khích phát triển lâm nghiệp bền vững trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh thay thế cho Nghị quyết số 337/2021/NQ-HĐND ngày 24/3/2021. Với việc mở rộng phạm vi, đối tượng áp dụng, điều chỉnh, bổ sung nhiều chính sách, trong đó nâng mức hỗ trợ và nội dung hỗ trợ bằng tiền; bổ sung một số khoản hỗ trợ; nâng mức cho vay ưu đãi; bổ sung danh mục các loài cây lâm sản ngoài gỗ, cây dược liệu được thụ hưởng chính sách hỗ trợ sản xuất dưới tán rừng… đã tạo động lực mạnh mẽ cho người dân, tổ chức, doanh nghiệp. Cùng với đó là Nghị quyết số 59/2025/NQ-HĐND quy định mức đầu tư, hỗ trợ đầu tư trong lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh. Theo đó, nâng mức hỗ trợ đầu tư và khoán bảo vệ rừng đã được điều chỉnh tăng rõ rệt so với Nghị định số 58/2024/NĐ-CP của Chính phủ. Ông Cao Văn Tuấn, đại diện Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đông Triều, cho biết: Hiện nay, đơn vị đang quản lý hơn 11.000ha rừng và đất lâm nghiệp. Với việc nghị quyết mới của tỉnh được ban hành và thực hiện, Công ty đã được nâng mức khoán bảo vệ rừng từ 300.000 đồng lên 500.000 đồng/ha. Điều này giúp cho doanh nghiệp có thêm nguồn lực để làm tốt hơn các nhiệm vụ được giao. Đồng thời, đây cũng là sự hỗ trợ rất kịp thời để chúng tôi yên tâm gắn bó với nghề rừng.
Tính từ năm 2022 đến nay, HĐND tỉnh Quảng Ninh đã ban hành 51 nghị quyết liên quan đến công tác quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu, thể hiện sự quan tâm thường xuyên, liên tục và quyết liệt trong lãnh đạo, điều hành lĩnh vực này. Các nghị quyết tập trung vào nhiều nhóm nội dung trọng tâm như: hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý đất đai, tài nguyên nước, khoáng sản; tăng cường kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các khu công nghiệp, đô thị, khu du lịch; bảo vệ môi trường biển, ven biển và các hệ sinh thái đặc thù; thúc đẩy phân loại, thu gom, xử lý chất thải theo hướng hiện đại, bền vững; chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai và giảm phát thải khí nhà kính. Thông qua các quyết sách này, HĐND tỉnh không chỉ định hướng rõ ràng cho hoạt động quản lý nhà nước về môi trường, mà còn tạo hành lang pháp lý quan trọng để các cấp, các ngành tổ chức triển khai.
Song song với vai trò ban hành nghị quyết, hoạt động giám sát của HĐND tỉnh tiếp tục được đổi mới, đi vào chiều sâu, tập trung vào các lĩnh vực nhạy cảm, dễ phát sinh ô nhiễm như: quản lý chất thải rắn sinh hoạt; xử lý nước thải đô thị, khu công nghiệp; bảo vệ môi trường Vịnh Hạ Long - Bái Tử Long; quản lý khai thác khoáng sản; bảo vệ tài nguyên rừng, biển và đa dạng sinh học. Qua giám sát, nhiều tồn tại, hạn chế được chỉ rõ; trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị liên quan được làm rõ, kịp thời kiến nghị giải pháp khắc phục, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về môi trường.
Nhân dân phường Bãi Cháy tham gia bảo vệ môi trường ven biển Vịnh Hạ Long.
Hiện thực hóa mục tiêu phát triển xanh, bền vững
Thông qua vai trò xây dựng chính sách và giám sát chặt chẽ của HĐND tỉnh, công tác bảo vệ môi trường của Quảng Ninh đã đạt nhiều kết quả rõ nét, toàn diện trên các lĩnh vực. Nguồn lực cho bảo vệ môi trường được quan tâm bố trí ở mức cao. Chỉ tính riêng giai đoạn 2022-2024, tổng kinh phí chi sự nghiệp môi trường của tỉnh đạt hơn 2.231 tỷ đồng, chiếm 2,37% tổng chi ngân sách địa phương, vượt yêu cầu tối thiểu theo quy định của Trung ương. Nguồn lực này tập trung cho xử lý chất thải, đầu tư hệ thống quan trắc, cải thiện chất lượng môi trường không khí, nước mặt, bảo vệ các hệ sinh thái đặc thù. Cùng với đó, tỉnh tiếp nhận và triển khai nhiều dự án hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường, như xử lý nước thải tại Vịnh Hạ Long, tái chế phế thải xây dựng, giảm rác thải nhựa...
Đến nay, tỷ lệ khu công nghiệp và cụm công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung theo quy định của tỉnh đã đạt 100%; công tác quan trắc, giám sát chất lượng không khí, nước mặt được triển khai đồng bộ. 36 vị trí quan trắc nước mặt đều đạt tiêu chuẩn, chất lượng không khí tại các địa phương thường xuyên duy trì ở mức tốt. Cùng với đó 98,3% hộ gia đình ở đô thị và 87,2% hộ gia đình ở nông thôn được sử dụng nước sạch theo quy chuẩn; tỷ lệ thu gom, xử lý nước thải khu đô thị tập trung tại các địa phương cũng đều đạt và vượt mục tiêu đề ra; 100% hộ dân được tiếp cận thông tin cảnh báo sớm thiên tai.
Hệ thống xử lý nước thải tập trung tại KCN Cảng biển Hải Hà. Ảnh: Mạnh Trường
Hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về quy hoạch, đất đai, tài nguyên môi trường, đảm bảo an ninh nguồn nước, ứng phó biến đổi khí hậu cơ bản đã được nâng lên. Trên địa bàn tỉnh, hoạt động khai thác, vận chuyển, kinh doanh tài nguyên, khoáng sản tiếp tục được quản lý tốt, giữ vững ổn định, không để tái diễn vi phạm. Tỉnh đã rà soát, lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phục vụ công tác giải phóng mặt bằng, thu hồi đất giai đoạn 2021-2030; thường xuyên rà soát, xử lý các dự án đầu tư có sử dụng đất, mặt nước chậm tiến độ, vi phạm pháp luật và công tác giao đất, cho thuê đất, quản lý đối với đất rừng, đất nuôi trồng thủy sản của hộ gia đình, cá nhân thuộc thẩm quyền cấp huyện. Toàn tỉnh hiện đã hoàn thành quy hoạch 45.146ha đất mặt nước cho phát triển nuôi trồng thủy hải sản; đến hết tháng 7/2025 đã hoàn thành bàn giao khu vực biển cho 29 doanh nghiệp, tổ chức hợp tác xã và 663 tổ chức, cá nhân, tương đương với 3.287ha/ tổng số 5.013,2ha diện tích mặt biển được quy hoạch cho nuôi trồng thủy.
Trong bảo vệ môi trường biển, Quảng Ninh đã quy hoạch 3 khu bảo tồn biển với diện tích 38.575ha và 13 khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản; triển khai các chương trình phục hồi nguồn lợi, tái thả khoảng 6,6 triệu con giống mỗi năm. Tỉnh cũng tăng cường hoạt động bảo vệ nguồn lợi thủy sản; tăng cường các hoạt động kiểm tra, kiểm soát, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm trong lĩnh vực thủy sản, đặc biệt đối với các tàu cá vi phạm khai thác bất hợp pháp, không báo cáo, không theo quy định (IUU). Các mô hình “Vịnh Hạ Long - Không rác thải nhựa”, “Cô Tô - Không có rác thải nhựa” tạo sức lan tỏa mạnh mẽ trong cộng đồng.
Về phát triển lâm nghiệp bền vững, toàn tỉnh đã hoàn thành việc trồng và bảo vệ 4.375,7ha rừng, tương đương 87,5% mục tiêu; đồng thời chú trọng phát triển trồng rừng gỗ lớn xen kẽ các loại lâm sản ngoài gỗ dưới tán rừng có giá trị kinh tế cao, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái và sinh kế bền vững.
Người dân xã Ba Chẽ trồng rừng phủ xanh đất trồng đồi trọc.
Đối với ngành than, ngành sản xuất quan trọng của tỉnh, công tác bảo vệ môi trường đã được đặt lên ưu tiên hàng đầu cùng với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh. Đảng ủy Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam và Đảng ủy Than Quảng Ninh đã lãnh đạo quyết liệt nhiều nhiệm vụ về môi trường, góp phần giảm ảnh hưởng của quá trình khai thác, sản xuất than. Nhiều mỏ đã được đóng cửa, phục hồi môi trường; các bãi thải được xanh hóa; nước thải mỏ được xử lý nghiêm ngặt. Ngành than đã chuyển giao khoảng 6,75 triệu m³ đất đá thải cho các dự án hạ tầng, vừa tiết kiệm tài nguyên, vừa giảm áp lực môi trường.
Với các đơn vị sản xuất kinh doanh khác, tỉnh tiếp tục tăng cường công tác quản lý, kiểm soát các nguồn thải, nhất là nước thải công nghiệp tại các khu, cụm công nghiệp, các nguồn thải có quy mô lớn, nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao. Đồng thời, tiếp tục triển khai chính sách hỗ trợ di dời cơ sở tiểu thủ công nghiệp gây ô nhiễm môi trường hoặc không phù hợp quy hoạch trên địa bàn tỉnh.
Ngoài ra, công tác kiểm soát phân loại, thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải nguy hại được quan tâm. Trong đó, ước tính tỷ lệ thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải nguy hại trên địa bàn tỉnh năm 2024 trên 99%, lượng chất thải nguy hại còn lại được các đơn vị chủ nguồn thải chất thải nguy hại thu gom, lưu giữ chờ xử lý theo quy định.
Công ty CP Than Cao Sơn - TKV đầu tư xe tưới đường, dập bụi chuyên dụng để bảo vệ môi trường.
Giá trị các thông số về quản trị môi trường đạt kết quả tốt cũng đã góp phần giúp tỉnh đạt được thứ hạng cao trong các bảng xếp hạng toàn quốc, như đứng ở vị trí thứ 1 trong các năm 2019, 2020, 2022, 2024 trong bảng xếp hạng PAPI; trong top 5 các tỉnh, thành đạt kết quả cao nhất trong bảng xếp hạng tỉnh thành thực hiện Bộ chỉ số về môi trường. Quảng Ninh hiện được các bộ, ngành trung ương, tổ chức trong và ngoài nước đánh giá cao về công tác bảo vệ môi trường.
Có thể khẳng định, sự tham gia tích cực, chủ động và trách nhiệm của HĐND tỉnh Quảng Ninh đã góp phần đưa công tác quản lý, bảo vệ môi trường ngày càng đi vào chiều sâu, có hiệu quả, từng bước hiện thực hóa mục tiêu của tỉnh là phát triển xanh, bền vững, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và gìn giữ môi trường cho các thế hệ mai sau.