Điểm báo ngày 16/10

16/10/2019 15:14

Quảng Ninh hướng tới xóa đói nghèo bền vững cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi (Báo Ảnh Dân Tộc Và Miền Núi 16/10)

Gia đình anh Bàn Văn Quý và chị Đặng Thị Thoa (người Dao) xã Lương Mông, huyện Ba Chẽ tự nguyện viết đơn thoát nghèo nhờ mô hình trồng rừng kết hợp trồng lúa nương. Ảnh: Văn Đức - TTXVN 

Tính đến hết năm 2017, tỉnh Quảng Ninh có 113 xã thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi, trong đó có 17 xã (với 154 thôn, bản) và 54 thôn thuộc vùng đặc biệt khó khăn. Nhờ thực hiện tốt Chương trình 135 với Đề án 196 đưa các xã, thôn ra khỏi diện đặc biệt khó khăn nên công tác xóa đói giảm nghèo được đẩy mạnh, đời sống đồng bào dân tộc thiểu số được nâng cao. Dự kiến, đến hết năm 2019, Quảng Ninh hoàn thành việc đưa tất cả các xã, thôn nói trên ra khỏi diện đặc biệt khó khăn, hoàn thành mục tiêu Chương trình 135, về đích trước 1 năm so với lộ trình đặt ra.

Chủ tịch UBND huyện Ba Chẽ Nguyễn Minh Sơn cho hay: Việc quan trọng nhất trong công tác xóa đói giảm nghèo ở miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số là xóa bỏ tư tưởng trông chờ, ỷ lại của bà con. Lâu nay, bà con “thích nghèo” chỉ vì muốn được nhà nước hỗ trợ phát triển sản xuất, con em đi học không mất tiền, đi khám bệnh không mất phí nên nhiều gia đình kinh tế khá giả, xây nhà mới vẫn không muốn thoát nghèo.

Năm 2018, huyện đã tích cực tuyên truyền, vận động các gia đình khá giả tự nguyện thoát nghèo nên toàn huyện có tới 104 gia đình đồng bào dân tộc thiểu số đã viết đơn xin thoát khỏi diện đặc biệt khó khăn. Nếu trước đây, huyện Ba Chẽ có tới 60% hộ nghèo thì đến hết năm 2018 tỷ lệ này chỉ còn 5,6%. Điển hình là vợ chồng anh Bàn Văn Quý và chị Đặng Thị Thoa (dân tộc Dao, ở xã Lương Mông, huyện Ba Chẽ). Sau 2 vụ thu hoạch gỗ, gia đình có của ăn, của để, xây dựng được nhà mới. Năm 2018 gia đình đã tự nguyện viết đơn xin thoát nghèo bớt làm gánh nặng cho xã, cho huyện.

Quảng Ninh thực hiện Chương trình 135, Đề án 196 theo hướng khuyến khích, phát huy hơn nữa sự chủ động của các địa phương và vai trò chủ thể, ý thức tự lực vươn lên thoát nghèo của cộng đồng, người dân, từng bước thay hình thức hỗ trợ trực tiếp bằng hỗ trợ cho vay, hỗ trợ có điều kiện, gắn với trách nhiệm của cộng đồng, người dân. Ở nhiều địa phương trong tỉnh, chính quyền cơ sở đã lấy đội ngũ thanh niên - lực lượng có sức lao động, có ý chí vươn lên làm giàu, thoát nghèo làm nòng cốt trong triển khai xóa đói giảm nghèo. Với suy nghĩ “nghèo thì nhục lắm”, tầng lớp thanh niên người dân tộc đã đi đầu trong làm kinh tế hộ gia đình sớm thoát nghèo, từ đó phong trào lan rộng, tạo động lực cho các hộ dân đua nhau làm kinh tế để vươn lên thoát nghèo.

Để xóa đói giảm nghèo bền vững, Quảng Ninh lấy quan điểm “Tỉnh ban hành cơ chế chính sách - các sở ngành tham mưu đắc lực - cấp huyện trực tiếp chỉ đạo - cấp xã trực tiếp thực hiện - thôn bản đoàn kết, đồng lòng, người dân tích cực sản xuất và chủ động thoát nghèo - lấy phát triển sản xuất, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân là trung tâm; Tập trung hỗ trợ đầu tư hạ tầng thiết yếu là cần thiết, trong đó ngân sách Nhà nước là chủ yếu”.

Quảng Ninh chủ động phân cấp, trao quyền cho UBND các huyện chủ động triển khai nguồn vốn theo các địa chỉ, mục tiêu đã xác định của Đề án 196. Với quan điểm chỉ đạo xác định nhiệm vụ đầu tư hạ tầng, văn hóa xã hội phải bám sát các điều kiện, tiêu chí hoàn thành Chương trình 135, Đề án 196 đồng thời phải tiệm cận với các tiêu chí, chỉ tiêu đạt chuẩn nông thôn mới nên quá trình thực hiện đã coi trọng lồng ghép các nguồn vốn đảm bảo hiệu quả nhất.

Trong 3 năm 2017-2019, Quảng Ninh đã chi ngân sách thực hiện Chương trình 135, Đề án 196 lên tới 1.903 tỷ đồng, trong đó tập trung vào việc hỗ trợ đầu tư hạ tầng cơ sở, hỗ trợ phát triển sản xuất và đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cộng đồng. Nhờ đó, thu nhập bình quân đầu người tại các xã, thôn đặc biệt khó khăn đến hết năm 2018 đạt 22,16 triệu đồng/người/năm, cao gấp 1,74 lần so với năm 2015. Tính đến tháng 9/2019, tất cả các xã đặc biệt khó khăn có đường ô tô được cứng hoá đến trung tâm xã; các công trình thủy lợi nhỏ được đầu tư đáp ứng trên 80% nhu cầu tưới tiêu cho diện tích canh tác hàng năm; trên 92,8% số hộ dân được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh; tất cả 17 xã có trường học Mầm non, Tiểu học, Trung học cơ sở và Trạm y tế đạt chuẩn theo bộ tiêu chí quốc gia về y tế…

Dự kiến năm 2019 Quảng Ninh sẽ hoàn thành mục tiêu không còn xã đặc biệt khó khăn song thực tế khoảng cách chênh lệch mức sống giữa các xã thoát khỏi diện đặc biệt khó khăn với vùng nông thôn của tỉnh còn khá lớn. Thu nhập bình quân đầu người tại các xã, thôn đặc biệt khó khăn là 22,16 triệu đồng/người/năm bằng 57,56% thu nhập các xã vùng nông thôn; tỷ lệ hộ dân tộc thiểu số nghèo và tỷ lệ hộ nghèo ở các xã, thôn vừa thoát diện "đặc biệt” còn cao.

Khi hoàn thành mục tiêu Chương trình 135, ra khỏi diện đặc biệt khó khăn, các xã, thôn sẽ bước vào xây dựng nông thôn mới đạt chuẩn nhưng xuất phát điểm còn thấp so với mặt bằng chung của toàn tỉnh. Tỉnh vẫn còn 13 xã đạt dưới 15 tiêu chí, trong đó 3 xã mới đạt 10 tiêu chí xây dựng nông thôn mới.

Theo đề xuất của Trưởng Ban Dân tộc Quảng Ninh, ông Vũ Kiên Cường, để đảm bảo tính bền vững của Đề án 196, tỉnh Quảng Ninh đang tập trung rà soát, xây dựng đề án, cơ chế, chính sách tiếp tục hỗ trợ xây dựng nông thôn mới đối với các xã, thôn mới hoàn thành Chương trình 135, ra khỏi diện đặc biệt khó khăn và các xã biên giới gắn với thực hiện Đề án “hỗ trợ thôn, bản, ấp của các xã đặc biệt khó khăn khu vực biên giới, vùng núi, vùng bãi ngang ven biển và hải đảo xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững giai đoạn 2018 - 2020” của Chính phủ. Tỉnh nên xem xét có cơ chế, chính sách cho duy trì một số chính sách an sinh xã hội thiết yếu hỗ trợ đối với các xã, thôn thoát khỏi Chương trình 135, mới ra khỏi diện đặc biệt khó khăn trong khoảng 2 đến 3 năm đầu như: hỗ trợ bảo hiểm y tế cho người dân, hỗ trợ học phí, tiền ăn bán trú cho học sinh...

Cùng với đó tỉnh tiếp tục nhân rộng các mô hình hỗ trợ phát triển sản xuất đã và đang phát huy hiệu quả, tìm kiếm và áp dụng các mô hình mới là một trong các giải pháp trọng tâm để thoát nghèo bền vững cho đồng bào vùng dân tộc thiểu số và miền núi, nhất là các xã vùng khó khăn.

Thời gian tới, Quảng Ninh sẽ xây dựng lộ trình, giải pháp cụ thể hỗ trợ 2.125 hộ đồng bào dân tộc thiểu số thoát nghèo, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo ở địa bàn. Giai đoạn 2021 – 2025, Quảng Ninh dự kiến sẽ cân đối sử dụng số vốn kế hoạch đầu tư công trung hạn ngân sách Nhà nước hơn 1.750 tỷ đồng để thực hiện “Đề án tổng thể đầu tư phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi”.

TKV: Hành trình 25 năm không ngừng kiến tạo để bứt phá (Tạp Chí Công Thương 16/10)

So với năm đầu thành lập - năm 1995, sản lượng than toàn ngành mới chỉ ở mức 7 triệu tấn, thì nay, sản lượng than sản xuất bình quân hàng năm của TKV đạt 40 - 45 triệu tấn, tăng gấp 7 lần.

Ngày 15/10/2019, tại Hà Nội, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) đã tổ chức Lễ gặp mặt và tuyên dương các điển hình tiên tiến nhân kỷ niệm 25 năm thành lập Tổng Công ty Than Việt Nam (nay là Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam) 10/10/1994 - 10/10/2019. Phó Chủ tịch nước Đặng Thị Ngọc Thịnh đã tới dự và trao tặng các danh hiệu cao quý cho tập thể và cá nhân thuộc Tập đoàn.

Báo cáo những kết quả đã đạt được, ông Lê Minh Chuẩn - Chủ tịch Hội đồng thành viên TKV cho biết, sau 25 năm xây dựng và phát triển, TKV đã đẩy nhanh tốc độ phát triển ngành Than một cách bền vững để đáp ứng nhu cầu than trong nước ngày càng tăng cao. TKV đã đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại vào sản xuất để tăng năng suất lao động, tăng sản lượng khai thác và đặc biệt là tiết kiệm nguồn tài nguyên khoáng sản của đất nước.

Hiện nay, sản lượng than sản xuất bình quân hàng năm của TKV đạt từ 40 - 45 triệu tấn, tăng gấp 7 lần so với ngày đầu thành lập (năm 1995); đã khai thác được 700 triệu tấn, tiêu thụ 715 triệu tấn; đã thực hiện đào 5,2 ngàn km đường lò, gấp 3 lần chiều dài đất nước Việt Nam. Năng suất lao động  tính theo than nguyên khai năm 2018 đạt 572 tấn/người/năm, tăng 3,45 lần so với năm 1995. Tổng doanh thu than từ 1,3 nghìn tỷ đồng năm 1994 tăng lên 62,26 nghìn tỷ đồng năm 2018, gấp 47,6 lần so với thời điểm Than Việt Nam ra đời.

Trong công nghiệp khai thác khoáng sản, TKV đã đầu tư đồng bộ các tổ hợp khai thác đến chế biến sâu kim loại bao gồm: alumina, đồng, chì, kẽm, thiếc, gang thép, cromit và các kim loại khác. Mỗi năm, Tập đoàn sản xuất trên 11 nghìn tấn đồng tấm, 11 nghìn tấn kẽm thỏi, 180 nghìn tấn phôi thép. Đặc biệt, với việc thực hiện thành công hai dự án thí điểm khai thác bauxite tại địa bàn chiến lược Tây Nguyên, TKV đã đặt nền móng cho nền công nghiệp mới của Việt Nam, đó là ngành công nghiệp chế biến alumin - nhôm. Năm 2018, TKV sản xuất và tiêu thụ 1,3 triệu tấn alumina, giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt trên 520 triệu USD. Các dự án bauxite đã bước vào giai đoạn có lãi.

TKV cũng đã phát triển thành công các lĩnh vực nhiệt điện, thủy điện; vật liệu nổ công nghiệp, cơ khí, vật liệu xây dựng,… Giai đoạn 2015 - 2019, các lĩnh vực này đã tăng trưởng mạnh mẽ. Cụ thể, doanh thu của Khối Khoáng sản, Hóa chất và Điện lực đã đạt xấp xỉ 30% tổng doanh thu của Tập đoàn với tốc độ tăng trưởng bình quân 9,6%/năm; lợi nhuận chiếm tỷ trọng 34,4% toàn Tập đoàn.

Hành trình 25 năm xây dựng và phát triển, từ một Tổng công ty Nhà nước hoạt động trong lĩnh vực sản xuất than, TKV đã trở thành Tập đoàn kinh tế mạnh với 4 lĩnh vực kinh doanh chính là than, khoáng sản, điện lực và vật liệu nổ công nghiệp. Tính đến thời điểm hiện nay, Tập đoàn có 68 công ty con và đơn vị trực thuộc. Cùng với sự tăng trưởng về hiệu quả sản xuất kinh doanh, đời sống của người lao động không ngừng được cải thiện nâng cao. Tiền lương bình quân của người lao động hiện nay đạt trên 11,6 triệu đồng/người/tháng, tăng 17,6 lần so với khi thành lập.

Có được những thành tích trên, các phong trào thi đua cũng như công tác thi đua - khen thưởng đã đóng góp không nhỏ vào sự thành công cũng như trong từng bước phát triển của Tập đoàn. Từ các phong trào thi đua đã xuất hiện những tập thể và cá nhân điển hình tiên tiến trong các lĩnh vực sản xuất và công tác. Đó là những tấm gương tiêu biểu, những nhân tố điển hình, góp phần quan trọng vào việc hoàn thành kế hoạch sản xuất kinh doanh cũng như nhiệm vụ chính trị của Tập đoàn.

Phát biểu tại buổi lễ, ông Nguyễn Hoàng Anh, Chủ tịch Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp ghi nhận, 25 năm xây dựng và phát triển, từ sản xuất than tại địa bàn Quảng Ninh, Tập đoàn đã đầu tư các lĩnh vực sản xuất kinh doanh khoáng sản, điện lực, hóa chất, cơ khí và các lĩnh vực kinh doanh khác, đặc biệt là đầu tư khai thác Bauxit tại Lâm Đồng và Đăk Nông làm thức dậy vùng tài nguyên đầy tiềm năng, góp phần tích cực đảm bảo an ninh và phát triển kinh tế, xã hội trên địa bàn trọng điểm của đất nước.

“Cùng với việc đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh, TKV đã phối hợp tốt với các địa phương nơi có hoạt động sản xuất, kinh doanh của Tập đoàn trong công tác bảo vệ môi trường, làm tốt công tác an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm và nâng cao đời sống cho người lao động” - ông Nguyễn Hoàng Anh nhấn mạnh.

Theo ông Nguyễn Hoàng Anh, TKV là một trong những Tập đoàn trụ cột góp phần đảm bảo an ninh năng lượng Quốc gia phải xung kích, đi đầu, tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ và mục tiêu phát triển của đất nước.

Để thực hiện tốt tinh thần này, ông Nguyễn Hoàng Anh yêu cầu, trong thời gian tới, TKV tiếp tục triển khai có hiệu quả toàn bộ các hoạt động sản xuất kinh doanh của Tập đoàn, đảm bảo được kế hoạch năm 2019 đề ra. Đặc biệt là tập trung sản xuất sản phẩm đáp ứng theo nhu cầu thị trường, nhất là thị trường than; góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.

Đồng thời, tập trung thực hiện có hiệu quả Đề án tái cơ cấu TKV giai đoạn 2017 - 2020 để nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp; tiếp tục đẩy mạnh áp dụng khoa học công nghệ vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh của Tập đoàn; quan tâm nghiên cứu, đổi mới mô hình tăng trưởng, hướng tới việc nâng cao chất lượng, chú trọng đến năng suất, hiệu quả của tăng trưởng. TKV cũng cần chú trọng đầu tư mở rộng sản xuất trên cơ sở tăng cường huy động các nguồn lực xã hội để thu hút vốn cho các dự án đầu tư; tập trung vốn đầu tư cho các dự án mỏ hầm lò mới; cải tạo, nâng cấp các mỏ hiện có để tăng sản lượng than đảm bảo nhu cầu than cho nền kinh tế theo Quy hoạch phát triển ngành Than Việt Nam đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Cũng tại buổi lễ, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Quảng Ninh Nguyễn Xuân Ký ghi nhận và đánh giá cao những đóng góp của tập thể cán bộ, công nhân viên, người lao động Tập đoàn; đặc biệt gửi lời chúc mừng tới những tập thể, cá nhân lao động điển hình tiên tiến được tuyên dương trong buổi lễ kỷ niệm 25 năm ngày thành lập Tập đoàn. Ông Nguyễn Xuân Ký nhấn mạnh, tỉnh Quảng Ninh và ngành Than luôn có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau trong quá trình xây dựng và phát triển. Mặc dù hiện nay, tỉnh Quảng Ninh đang có sự điều chỉnh chiến lược phát triển, đổi mới mô hình tăng trưởng, chuyển đổi phương thức phát triển từ "nâu" sang "xanh". Tuy nhiên, ngành Than vẫn đang giữ vị trí vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Hằng năm, TKV vẫn đóng khoảng 1/4 GRDP và hơn 40% ngân sách thu nội địa của tỉnh; tạo ra việc làm thường xuyên cho gần 100.000 lao động. TKV cần phối hợp chặt chẽ, toàn diện hơn nữa với chính quyền địa phương nhằm kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong sản xuất kinh doanh...

“Mỗi cán bộ, đảng viên, công nhân lao động Tập đoàn sẽ cùng với tỉnh Quảng Ninh giữ vững nhiệt huyết, phát huy sức mạnh “Kỷ luật và Đồng tâm” của người thợ mỏ gương mẫu đi đầu, quyết tâm thực hiện lời dạy của Bác “Đẩy mạnh ngành Than trở thành một ngành gương mẫu cho các ngành kinh tế khác và tỉnh Quảng Ninh trở thành một tỉnh giàu đẹp” - ông Nguyễn Xuân Ký tin tưởng.

Thay mặt lãnh đạo Tập đoàn, ông Đặng Thanh Hải - Tổng Giám đốc Tập đoàn bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến sự quan tâm, chỉ đạo của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc, các Bộ, Ban, Ngành; sự phối hợp giúp đỡ của chính quyền, nhân dân các địa phương trong cả nước đã hỗ trợ TKV trong suốt quá trình xây dựng và phát triển. Với những ý kiến chỉ đạo và định hướng trong thời gian tới, TKV sẽ nghiêm túc tiếp thu và tổ chức thực hiện trong từng nội dung, chương trình công tác của Tập đoàn. Nhân dịp này, Tổng Giám đốc cũng bày tỏ lòng tri ân đến những người thợ mỏ - người chiến sỹ đã hy sinh vì sự nghiệp xây dựng ngành Than - Khoáng sản trong hơn 80 năm qua và sự biết ơn sâu sắc đến công lao to lớn của các thế hệ công nhân, cán bộ ngành Than qua các thời kỳ. Đồng thời, Tổng Giám đốc kêu gọi những tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến được tôn vinh trong buổi lễ hôm nay tiếp tục phát huy những thành tích đạt được, lôi cuốn những tập thể, cá nhân khác cùng noi theo, từ đó tích cực thi đua lao động sản xuất góp phần quan trọng trong sự nghiệp phát triển của TKV trong thời gian tới.

Tại buổi lễ, nhiều tập thể, cá nhân của Tập đoàn đã được đón nhận những phần thưởng cao quý như Huân chương Lao động hạng Nhất, hạng Ba; Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Cờ Thi đua của Chính phủ. Cùng với đó, Tập đoàn cũng tuyên dương và trao Cờ giải Nhất, Nhì, Ba cho các tập thể giành năng suất dẫn đầu TKV; Cờ thi đua công tác chăm lo đời sống khối hầm lò; Bằng khen của Tổng Giám đốc cho các tập thể xuất sắc trong xây dựng nhà ăn kiểu mẫu và các khu tập thể, trạm y tế tiêu biểu; khen thưởng cho các đơn vị hoàn thành nhiệm vụ sản xuất kinh doanh trong 9 tháng năm 2019.

Giảm tính hình thức trong công nhận giáo viên dạy giỏi (Giáo Dục Và Thời Đại 16/10)

Nhiều giáo viên thể hiện sự đồng tình với dự thảo quy định công nhận giáo viên dạy giỏi, giáo viên chủ nhiệm giỏi các cấp học mầm non phổ thông; đặc biệt, dự thảo này đã giảm đi nhiều quy định mang tính hình thức so với quy định hiện hành.

Cô Trần Thị Nhị - giáo viên Trường THCS thị trấn Trới (Hoành Bồ, Quảng Ninh) - từng tham gia cả 2 hội thi giáo viên dạy giỏi và giáo viên chủ nhiệm giỏi. Từ thực tế, cô Nhị nhận thấy, Dự thảo của Bộ GD&ĐT có nhiều điểm đổi mới.

Đối với nội dung thi giáo viên chủ nhiệm giỏi các cấp, điểm mới đáng chú ý là quy định thực hành dạy 1 tiết tổ chức hoạt động trải nghiệm (tiết sinh hoạt lớp). Trình bày biện pháp thực hiện có hiệu quả nhất trong công tác giáo dục học sinh của cá nhân tại cơ sở giáo dục, nơi giáo viên đang công tác (cần có minh chứng kèm theo). Khác với trước đây là yêu cầu mỗi giáo viên viết một sáng kiến kinh nghiệm đổi mới trong công tác giáo dục học sinh.

“Tôi cho rằng, điểm mới trong nội dung thi giáo viên dạy giỏi, giáo viên chủ nhiệm giỏi các cấp tương đối phù hợp. Tôi đồng tình với việc bỏ sáng kiến kinh nghiệm. So với nội dung thi trước đây đã giảm bớt được thời gian chuẩn bị bài dạy cho giáo viên, giảm bớt tính hình thức và thể hiện rõ được năng lực của từng giáo viên qua nội dung báo cáo.

Đối với các biện pháp đưa ra, mỗi giáo viên sẽ có cơ hội để rèn cho mình nhiều kĩ năng: Kĩ năng nghiên cứu, trình bày thuyết phục… Đồng thời cũng thể hiện được nét riêng trong vận dụng phương pháp dạy học, trong tìm tòi, sáng tạo và lựa chọn hướng đi của mình phù hợp với đối tượng học sinh, điều kiện nhà trường và địa phương” – cô Trần Thị Nhị nêu quan điểm.

Cô giáo Dương Thùy Linh - Trường THCS Cao Thắng, TP Hạ Long (Quảng Ninh) – đặc biệt tâm huyết với quy định về công nhận giáo viên chủ nhiệm giỏi, cụ thể là việc thay sáng kiến kinh nghiệm bằng thực hành dạy 1 tiết tổ chức hoạt động trải nghiệm…

Điểm mới này, theo cô Linh, thực sự sát với tình hình thực tế của học sinh cũng như giáo viên tham gia thi, đặc biệt là giáo viên chủ nhiệm. Bởi, đây chính là tiết học trải nghiệm giữa cô và trò. Qua tiết học này sẽ bộc lộ năng lực của giáo viên chủ nhiệm trong quản lý cũng như giáo dục đạo đức học sinh.

Giáo viên chủ nhiệm sẽ là người hướng dẫn, định hướng học sinh qua các hoạt động giáo dục trong và ngoài nhà trường. Bên cạnh đó, học sinh sẽ có điều kiện chia sẻ suy nghĩ, cảm xúc của mình với giáo viên về các vấn đề mà bản thân gặp phải trong quá trình học tập và rèn luyện.

Từ đó, cùng nhau tìm ra giải pháp tốt nhất cho học sinh, giúp các em tự tin hơn trong giao tiếp, cũng như cố gắng trong các hoạt động khác. “Nói tóm lại, qua tiết trải nghiệm, sẽ không còn khoảng cách giữa cô và trò. Đổi lại sẽ là sự trao đổi, sẻ chia như những người thân trong gia đình” – cô Dương Thùy Linh nhận định.

Hạ Long: Gộp các cuộc kiểm tra, giám sát có cùng nội dung để tránh chồng chéo (Thanh Tra VN 15/10)

Công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng tại Hạ Long (Quảng Ninh) sẽ được thành phố đổi mới bằng cách gộp các cuộc kiểm tra có cùng nội dung của Ban Thường vụ Thành uỷ, các ban Đảng, cơ quan tham mưu giúp việc chung Khối MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội... để tránh sự chồng chéo.

Thành uỷ Hạ Long đã chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát tập trung mạnh vào những nội dung liên quan đến triển khai thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm, các vấn đề nhạy cảm dễ phát sinh sai phạm, như: Quản lý đất đai, vệ sinh môi trường, tài chính, chế độ chính sách, giáo dục đào tạo, phòng chống tham nhũng, lãng phí; quản lý khai thác, vận chuyển, kinh doanh khoáng sản. Trên cơ sở này, công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng được thành phố đổi mới bằng cách gộp các cuộc kiểm tra có cùng nội dung của Ban Thường vụ Thành uỷ, các ban Đảng, cơ quan tham mưu giúp việc chung Khối MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội... để tránh sự chồng chéo.

Tích cực chủ động bám sát nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị, triển khai toàn diện các mặt công tác kiểm tra, giám sát, tập trung giải quyết các đơn thư khiếu nại, tố cáo và kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm kịp thời, đúng quy trình, quy định. Việc xem xét thi hành kỷ luật và tham mưu giúp cấp ủy thi hành kỷ luật đúng quy trình, phương hướng, phương châm, nguyên tắc, thủ tục và thẩm quyền quy định; công tác kiểm tra việc thi hành kỷ luật trong Đảng được tăng cường.

Hằng năm, Cơ quan Kiểm tra - Thanh tra Thành uỷ đã chủ động tham mưu, giúp cấp uỷ xây dựng chương trình, kế hoạch kiểm tra, bảo đảm có trọng tâm, trọng điểm, sát với yêu cầu nhiệm vụ chính trị. Mặt khác, để nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, Thành ủy Hạ Long đã chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ và trình độ lý luận chính trị cho cán bộ Ủy ban Kiểm tra các cấp. Đội ngũ cán bộ, công chức kiểm tra, thanh tra đã được đào tạo, bồi dưỡng cơ bản về chuyên môn, nghiệp vụ các ngành phù hợp với lĩnh vực được phân công và đều có thể vừa làm nhiệm vụ kiểm tra, vừa làm nhiệm vụ thanh tra.

Tập trung kiểm tra, giám sát đối với tổ chức Đảng và đảng viên về thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh, Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí; việc khắc phục các khuyết điểm sau kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) gắn với thực hiện Chỉ thị số 05 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; Quy định số 101 của Ban Bí thư “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”, Quy định số 55 của Bộ Chính trị về một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên; chấn chỉnh việc kê khai tài sản, thu nhập; công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Bám sát phương châm thực hiện đồng bộ việc giám sát phải mở rộng, kiểm tra phải có trọng tâm, trọng điểm, Cơ quan Kiểm tra - Thanh tra Thành uỷ đã xây dựng chương trình công tác hướng về cơ sở; phân công rõ trách nhiệm của từng tổ chức, đơn vị, tránh chồng chéo, bỏ sót nội dung... 

Cùng với công tác kiểm tra, công tác giám sát trong Đảng luôn được Thành ủy Hạ Long tích cực triển khai, giám sát thường xuyên, giám sát theo chuyên đề với tổ chức Đảng cấp dưới và đảng viên thuộc diện cấp uỷ cùng cấp quản lý theo Điều lệ Đảng quy định. Các nội dung giám sát tập trung vào việc thực hiện chức trách nhiệm vụ được giao của người đứng đầu cấp uỷ, cơ quan, đơn vị, duy trì chất vấn và trả lời chất vấn trong Đảng...

Tiếp tục quán triệt, triển khai thực hiện các quy định của Đảng về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng. Tổ chức thực hiện toàn diện các nhiệm vụ theo quy định của Điều lệ Đảng. Trong đó trọng tâm là tập trung giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo; tăng cường giám sát, nắm tình hình hoạt động của các tổ chức Đảng và đảng viên để kịp thời phát hiện, kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm. Thực hiện tốt công tác phối hợp vối các cơ quan có liên quan trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng, nhất là công tác rà soát, bổ sung quy hoạch cán bộ.

Bên cạnh đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, các cấp uỷ cũng đã kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, nâng cao hiệu quả các hoạt động gặp gỡ, đối thoại với nhân dân, đặc biệt là liên quan đến công tác triển khai giải phóng mặt bằng các dự án trọng điểm. Thành uỷ Hạ Long cũng định kỳ tổ chức giao ban giữa Thường trực Thành ủy với các bí thư chi bộ, khu trưởng, trưởng ban công tác mặt trận các khu phố trên địa bàn để tham gia công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền.

Tiếp tục nâng cao nhận thức các cấp ủy Đảng về vai trò của công tác kiểm tra, giám sát; quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát; gắn chặt công tác kiểm tra, giám sát. Thường xuyên đổi mới và tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

Hà Thanh



Tìm kiếm theo chuyên mục - nội dung - ngày tháng

Tin sở ban ngành
Bản đồ

Lịch công tác trống

Tin tiêu điểm
Website liên kết
Câu hỏi khảo sát

Theo bạn nội dung cung cấp trên cổng thông tin điện tử như thế nào?


Thống kê truy cập
Hôm nay: 37461
Đã truy cập: 15956395

© Cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Ninh

Giấy phép xuất bản: số 53/GP-TTĐT ngày 27/05/2015 - Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử - Bộ Thông tin và Truyền thông.

- Cơ quan chủ quản: Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

- Cơ quan quản lý nhà nước và thường trực kỹ thuật: Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh.

- Quản lý nội dung trang chủ: Trung tâm Truyền thông tỉnh.

- Quản lý nội dung các Cổng thành phần: Thủ trưởng các cơ quan, tổ chức. 

Ghi rõ nguồn "Quảng Ninh Portal" khi phát hành lại thông tin từ  Website này.