Điểm báo ngày 23/9

23/09/2020 14:10

Kiên định mục tiêu phát triển "xanh" (Công Thương 23/9)

Khai thác than gắn với hành trình chuyển đổi mô hình sản xuất từ "nâu" sang "xanh"

Được ví như "Việt Nam thu nhỏ", tỉnh Quảng Ninh có nhiều ưu thế cả về cảnh quan thiên nhiên, tài nguyên khoáng sản lẫn giá trị về văn hóa, lịch sử. Tuy nhiên, việc khai thác tài nguyên thiên nhiên đã lâu và quá mức sẽ khiến địa phương trở thành vùng đất ô nhiễm. Sớm nhận thức được điều này, tỉnh Quảng Ninh đã có những quyết sách đúng đắn, đặt rõ mục tiêu dần chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ "nâu" sang " xanh".

Quảng Ninh là tỉnh có nhiều loại khoáng sản giá trị công nghiệp, trong đó, quan trọng nhất là than đá (chiếm trên 90% trữ lượng cả nước), là nguồn nguyên liệu quan trọng để sản xuất vật liệu xây dựng, cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu. Đến cuối năm 2019, trên địa bàn tỉnh có 131 dự án khai thác khoáng sản (trong đó, 59 dự án khai thác than, 72 dự án khai thác vật liệu xây dựng và Nhà máy Thủy điện Khe Soong công suất 3,6MW).

Chính vì vậy, tỷ trọng ngành công nghiệp của tỉnh Quảng Ninh đã chiếm tới 53,4% (năm 2010) cơ cấu nền kinh tế. Trong đó, số thu ngân sách từ ngành than chiếm hơn 60% số thu nội địa của tỉnh mỗi năm. Việc phát triển nhanh của công nghiệp đã tạo ra áp lực lớn đối với môi trường sinh thái. Trên thực tế, đã tạo ra xung đột, mâu thuẫn với phát triển dịch vụ thương mại, du lịch trên cùng một địa bàn, đặc biệt đối với Vịnh Hạ Long, Vịnh Bái Tử Long.

Trong khi đó, mặc dù du lịch, dịch vụ của tỉnh Quảng Ninh vẫn có sự tăng trưởng nhất định qua các năm nhưng mới chỉ dừng ở mức khai thác phần ngọn mà thiếu tính bền vững, lâu dài. Cùng với đó, việc nuôi trồng thủy sản thiếu quy hoạch, ngành vận tải biển, cảng biển và lấn biển làm giảm diện tích rừng ngập mặn, tác động tiêu cực đến môi trường, hệ sinh thái biển và gây ô nhiễm môi trường của tỉnh. Chính vì vậy, việc chuyển đổi sang định hướng phát triển "xanh" là lựa chọn cần thiết. Sự lựa chọn này phù hợp với xu thế của thời đại, các định hướng phát triển dài hạn của đất nước, đặc thù của tỉnh. Điều quan trọng nhất, đó là phù hợp với ý chí, nguyện vọng của nhân dân các dân tộc Quảng Ninh.

Theo "Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2050" được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1393/QĐ-TTg ngày 25/9/2012, tỉnh Quảng Ninh đã quán triệt mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp thực hiện; gắn nhiệm vụ, theo lộ trình bài bản, thực hiện Chiến lược với quá trình xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Tỉnh đã ban hành Kế hoạch triển khai Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2014 - 2020 với mục tiêu: Phát triển kinh tế nhanh, bền vững; chuyển dịch và tăng tốc độ phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp "xanh".

Trên cơ sở định hướng đó, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã kịp thời ban hành các kế hoạch triển khai những nhiệm vụ cụ thể theo từng giai đoạn. Đáng chú ý, những nội dung này không chỉ được thực hiện quyết liệt ở một số địa bàn được xác định là trọng điểm du lịch từ trước, mà đã lan tỏa ra 14/14 địa phương tại Quảng Ninh. Qua đó, tạo khí thế thi đua để phát triển du lịch, dịch vụ tại mỗi địa phương. Điều này thể hiện rất rõ ở việc hiện nay, các địa phương đều xác định được những tiềm năng, lợi thế trong phát triển du lịch, dịch vụ.

Đến nay, tỷ trọng dịch vụ tăng từ 39,3% (năm 2010) lên 44,8% (năm 2018), dự kiến đến năm 2020 là 48%. Ngành công nghiệp giảm từ 53,4% (năm 2010) xuống 49,2% (năm 2018), dự kiến đến năm 2020 còn 47%. Ngành nông nghiệp giảm từ 8,7% (năm 2010) xuống còn 6% (năm 2018), dự kiến đến năm 2020 còn 5%.

Dự báo, đến hết năm 2020, tỉnh Quảng Ninh sẽ hoàn thành và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu đề ra của nghị quyết phát triển du lịch, dịch vụ. Hiện, tỉnh cũng là một trong những địa phương được trung ương đánh giá cao về hiệu quả trong chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ "nâu" sang "xanh", đặc biệt là những bứt phá ngoạn mục trong phát triển các ngành dịch vụ, du lịch; trở thành một trong những điểm đến hấp dẫn của Việt Nam đối với cả du khách và các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

Trong buổi làm việc của Đoàn công tác Trung ương với tỉnh Quảng Ninh tháng 8/2020, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình đánh giá rất cao về những kết quả toàn diện của tỉnh Quảng Ninh đã đạt được trong thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội theo hướng bền vững. Đồng thời, Phó Thủ tướng cũng chỉ ra rằng, chính quyền Quảng Ninh cần tiếp tục nêu cao tinh thần trách nhiệm, chung sức, đồng lòng vượt qua thách thức, khắc phục tồn tại, tháo gỡ điểm nghẽn, cản trở trong quá trình phát triển; khai thác tiềm năng, lợi thế, tạo động lực mới thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững; khẳng định vai trò là cực tăng trưởng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, là tiền đề đưa Quảng Ninh thành thành phố trực thuộc trung ương trước năm 2030.

Những năm gần đậy, tỉnh Quảng Ninh đã thực hiện nhiều giải pháp để bảo vệ môi trường (BVMT) tự nhiên, coi nhiệm vụ này là một trong những "xương sống" trong chiến lược phát triển của tỉnh.

Để tạo nền tảng và thực hiện có hiệu quả, bền vững mô hình tăng trưởng "xanh", 3 đột phá chiến lược được triển khai đồng bộ, thống nhất bao gồm: Đẩy mạnh cải cách hành chính, phát triển kết cấu hạ tầng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Điển hình như việc yêu cầu các ngành than, nhiệt điện, xi măng triển khai đánh giá tác động môi trường, lắp hệ thống phun sương dập bụi… Đến nay, tỉnh Quảng Ninh đã hoàn thành xử lý 100% cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; 100% khu công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung; 80% nước thải từ hoạt động khai thác than đã được xử lý, hầu hết các bãi thải mỏ không còn hoạt động đã được hoàn nguyên môi trường; tỷ lệ thu gom, xử lý rác thải ở đô thị đạt 90%...

Về phía các đơn vị khai thác khoáng sản, cơ bản thực hiện nghiêm túc quy định pháp luật về khoáng sản, đất đai, BVMT và thực hiện việc đầu tư xây dựng các công trình BVMT nhằm giảm thiểu ô nhiễm, tác động đến môi trường. Chỉ tính riêng Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV), hàng năm chi gần 1.000 tỷ đồng cho công tác này. Ngoài ra, TKV còn thực hiện bổ sung 12 hạng mục, công trình ngoài Đề án với tổng kinh phí trên 127 tỷ đồng. TKV cùng với Tổng công ty Đông Bắc tập trung triển khai Đề án Đảm bảo môi trường cấp bách ngành than trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2016 - 2020 với hơn 100 công trình, hạng mục…

Đối với ngành nông - lâm - thủy sản, để phát triển theo hướng bền vững, tránh tác động đến môi trường tự nhiên, tỉnh ban hành nhiều cơ chế, chính sách đặc thù, nổi bật là việc ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất, chế biến; nghiêm cấm khai thác thủy - hải sản theo hướng tận diệt; phát triển trồng rừng gỗ lớn; nông nghiệp hữu cơ...

Trong khai thác và phát triển du lịch, tỉnh cũng đẩy mạnh quản lý hoạt động vận chuyển khách tham quan và tàu lưu trú du lịch; tổ chức thu gom rác thải BVMT sinh thái trên Vịnh; hạn chế tối đa phát triển quỹ đất đô thị bằng hình thức lấn biển..

Hành trình 10 năm xây dựng nông thôn mới và "trái ngọt" OCOP (Dân Việt 22/9)

Đã 10 năm kể từ ngày Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh ban hành Nghị quyết số 01-NQ/TU về xây dựng nông thôn mới (NTM) giai đoạn 2010-2020. Đây là Nghị quyết chuyên đề đầu tiên trong một nhiệm kỳ mới thể hiện sự quan tâm đặc biệt của cấp ủy, chính quyền với nông nghiệp - nông dân - nông thôn.

Nghị quyết số 01-NQ/TU là nghị quyết đầu tiên của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh nhiệm kỳ 2011-2015. Nghị quyết đã xác định xây dựng NTM là nhiệm vụ trọng yếu của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Chủ thể chính xây dựng NTM là nông dân; xây dựng NTM được thực hiện theo phương châm dựa vào nội lực của cộng đồng dân cư, vì vậy mọi việc phải được dân biết, dân bàn, dân làm và dân được hưởng thụ.

Để đưa Nghị quyết vào cuộc sống, Quảng Ninh đã có nhiều cách làm sáng tạo. Trong đó, tỉnh đã tạo ra một chương trình mới, bài bản, hiệu quả đó là chương trình "Tỉnh Quảng Ninh – Mỗi xã, phường một sản phẩm" (gọi tắt là OCOP). 

Chương trình đã thực sự góp phần nâng cao thu nhập cho người dân, thay đổi tư duy sản xuất, từng bước hình thành sản xuất hàng hóa. Song hơn hết, từ những thành công của Quảng Ninh, chương trình đã lan tỏa ra cả nước.

Trong những năm 2012, 2013, chương trình OCOP là một mô hình lần đầu tiên được triển khai ở Việt Nam và tỉnh Quảng Ninh, do đó chưa có tiền lệ về phương pháp luận, cơ chế chính sách, mô hình hiệu quả để học tập. Các cán bộ chủ chốt của tỉnh đã dành nhiều thời gian nghiên cứu các chuyên đề quốc tế về phong trào OVOP tại các nước khu vực Đông Bắc Á, Đông Nam Á, châu Phi…

Những chuyến đi công tác, học tập kinh nghiệm của Nhật Bản, Thái Lan là những bước khởi đầu vô cùng quan trọng. Đồng thời, nghiên cứu, xem xét, đánh giá hiệu quả của các chương trình hỗ trợ sản xuất, chính sách hiện hành, hiệu quả của mô hình đã triển khai tại Việt Nam. Từ đó, năm 2013, Quảng Ninh đã phê duyệt Đề án OCOP giai đoạn 2013 – 2016 theo hướng vừa làm, vừa rút kinh nghiệm.

Chương trình OCOP được thực hiện dựa trên 3 nguyên tắc cơ bản đó là: Hành động địa phương, hướng đến toàn cầu; tự lực, tự tin và sáng tạo; đào tạo nguồn nhân lực. 

Do vậy, chương trình OCOP được thiết kế để các chủ thể sản xuất (từ cá thể, hộ sản xuất, Tổ hợp tác, HTX, doanh nghiệp) có sự chủ động về ý tưởng sản phẩm, xác định thị trường, chủ động sản xuất, chế biến, tiêu thụ. Nhà nước đóng vai trò tạo sân chơi, hỗ trợ chính sách, xúc tiến thương mại.

Chỉ năm sau, chương trình đã nhanh chóng lan tỏa rộng khắp tới các địa phương, tổ chức và nhân dân, tạo nên khi thế thi đua sôi nổi ở khắp nơi, trở thành điểm nhấn quan trọng để nâng cao chất và lượng của chương trình MTQG xây dựng NTM.

Bằng các giải pháp khác nhau, người dân hồ hởi, tích cực, chủ động tham gia chương trình. Trong giai đoạn 2013-2016, từ tỉnh đến các địa phương đã chủ động thành lập Ban Điều hành OCOP, triển khai các dự án phát triển sản xuất, tổ chức hội thi đánh giá và phân hạng sản phẩm...

Anh Nịnh Văn Trắng (xã Đạp Thanh, huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh) là điển hình nhất về những tỷ phú "chân đất" đi lên từ chương trình OCOP.

Vùng núi rừng Đạp Thanh, huyện Ba Chẽ quê anh có cây trà hoa vàng. Là người bản địa, sống dựa vào rừng, anh biết đây là loại cây quý. Tuy nhiên, giống như bao người khác, khi đó anh Trắng chỉ biết lên rừng kiếm thật nhiều trà hoa vàng nhằm mục đích bán cho thương lái. 

Chỉ đến khi được tiếp cận chương trình OCOP, anh Trắng mới thật sự có ý thức xây dựng, phát triển và tạo dựng thương hiệu cho loại sản phẩm đặc sản của quê hương này.

Từ những kiến thức thực tế kết hợp với quy trình sản xuất được học qua các khóa tập huấn, cùng với sự hỗ trợ về kinh phí, kỹ thuật, công nghệ có được trong chương trình OCOP, anh Trắng từng bước đưa cây trà hoa vàng trên rừng núi tự nhiên về trồng trong vườn nhà, nhân giống cây, mở rộng diện tích trồng. Đồng thời, chế biến các thành phần của cây thành các sản phẩm khác nhau.

Anh còn được hỗ trợ bao bì, nhãn mác, mã vạch sản phẩm, tạo điều kiện cho sản phẩm trà hoa vàng tham gia các hoạt động đánh giá, phân loại sản phẩm, xúc tiến thương mại. Nhờ đó, sản phẩm trà hoa vàng của anh Nịnh Văn Trắng nhanh chóng tạo được thương hiệu, mở rộng thị trường tiêu thụ, lan tỏa trong toàn tỉnh mà còn nhiều tỉnh thành lân cận, nâng cao giá trị sản phẩm.

Hiện sản lượng tiêu thụ mỗi năm của anh Nịnh Văn Trắng đạt 200kg hoa khô, 500kg lá khô. Doanh thu từ trà hoa vàng của anh Trắng đạt 3 - 4 tỷ đồng/năm. Anh Trắng từ một anh nông dân người dân tộc Sán Chỉ chưa rõ hết mặt chữ cái, kiếm sống bằng nghề khai thác lâm sản, thu nhập bấp bênh đã trở thành Giám đốc một công ty kinh doanh nổi tiếng khu vực miền Đông Quảng Ninh.

Không dừng lại ở những thành công đã có, thực hiện chương trình MTQG xây dựng NTM, giai đoạn II (2016-2020), Tỉnh ủy Quảng Ninh ban hành Chỉ thị 07-CT/TU ngày 27/5/2016 nêu rõ quan điểm: "Xây dựng NTM theo hướng chuyển từ lượng sang chất, bảo đảm thường xuyên, liên tục và lâu dài", "tiến tới xây dựng nông thôn tiên tiến", "tiếp tục xác định người nông dân là chủ thể, trực tiếp thực hiện và được thụ hưởng; đầu tư của doanh nghiệp là động lực; Nhà nước giữ vai trò định hướng, hỗ trợ".

Do đó, Quảng Ninh tiếp tục đưa chương trình OCOP với bước chuyển mới từ "lượng" sang "chất". Các doanh nghiệp, HTX, cơ sở sản xuất chủ động tìm tòi, nghiên cứu, áp dụng giải pháp nâng cao chất lượng, đa dạng hóa chủng loại, chuyên nghiệp hóa sản phẩm.

Chặng đường 10 năm xây dựng NTM của Quảng Ninh đã gặt hái được nhiều thành tựu đáng tự hào. Xác định xây dựng NTM "Chỉ có điểm khởi đầu, không có điểm kết thúc", do vậy, giai đoạn tới, tỉnh Quảng Ninh tiếp tục hướng tới nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế nông thôn, trong đó, lấy sản xuất nông nghiệp sạch và an toàn sinh học, thân thiện với môi trường làm nền tảng gắn với phát triển công nghiệp, dịch vụ nông thôn và phù hợp với quá trình đô thị hóa hướng tới sản xuất nông nghiệp hữu cơ; tiếp tục đầu tư nâng cao hiệu quả thực hiện Chương trình OCOP; đẩy mạnh công tác giữ gìn, bảo vệ môi trường để xây dựng NTM bền vững; tiếp tục đột phá, sáng tạo những cách làm và hướng đi mới

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn: Những mô hình hiệu quả tạo nên thương hiệu riêng  (Nông Nghiệp Việt Nam 22/9)

Phát triển nông nghiệp, nông thôn được xem là vấn đề then chốt, quyết định sự thành công của quá trình phát triển kinh tế - xã hội.

Quảng Ninh là địa phương sớm áp dụng KHCN vào nền sản xuất nông nghiệp đã có những kết quả tích cực, thay đổi bộ mặt nông nghiệp, nông thôn, góp phần vào sự phát triển chung của tỉnh. Nhiều năm qua, Sở NN-PTNT đã tập trung đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn nhằm tạo ra sự chuyển biến trong sản xuất, thực hiện thành công các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của toàn tỉnh.

Thời gian qua, phong trào thi đua ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất nông nghiệp đã được các ngành, địa phương và người dân trong tỉnh Quảng Ninh hết sức chú trọng. Nhờ đó, năng suất cây trồng, vật nuôi ngày một tăng lên.

Việc đẩy mạnh áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và tăng cường sự gắn kết giữa các hộ sản xuất nông nghiệp theo quy trình tiên tiến nhằm nâng cao chất lượng giá trị hàng hoá. Chăn nuôi chuyển từ nhỏ lẻ, phân tán sang mô hình trang trại, gia trại công nghiệp và công nghệ cao, đa dạng hóa các sản phẩm. Nhiều mô hình kinh tế mới ra đời, nhất là các mô hình kinh tế gia trại với việc đưa vào trồng trọt, chăn nuôi các cây, con giống có chất lượng và giá trị kinh tế cao góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân.

Ông Từ Văn Nam ở xã Cộng Hòa, TP Cẩm Phả, một trong những hộ dân áp dụng thành công mô hình mô hình nuôi thâm canh tôm thẻ chân trắng hai giai đoạn theo công nghệ Biofloc gắn với tiêu thụ sản phẩm cho hay: “Từ khi áp dụng KHCN vào nuôi trồng thủy sản, chúng tôi bớt đi lo ngại về dịch bệnh, lo lắng về đầu ra cho sản phẩm. Nhất là thời gian nuôi được rút ngắn so với công nghệ nuôi thông thường. Tôi nhận thấy quy trình nuôi chỉ sử dụng vi sinh, không sử dụng hóa chất nên tôm thương phẩm đảm bảo các điều kiện về an toàn thực phẩm và được các đơn vị thu mua quan tâm, ký hợp đồng bao tiêu”.

Chỉ trong thời gian ngắn, nông dân Quảng Ninh đã phát triển hàng trăm mô hình trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản công nghệ cao có giá trị 150-300 triệu đồng/ha/năm, nhiều mô hình được nâng tầm thành các trang, gia trại, doanh nghiệp… Có thể kể đến hàng loạt các mô hình bao tiêu trồng trọt công nghệ cao như: Hệ thống nông nghiệp cao đầu tiên của tỉnh Quảng Ninh do tập Vingroup thành lập hay các mô hình nuôi tôm 2, 3 giai đoạn; Tối ưu hóa hình thức nuôi thâm canh, nuôi tôm ở bể di động dựa vào địa thế của nông dân Uông Bí, Hạ Long, Tiên Yên, Đầm Hà, Móng Cái...

Tiêu biểu là Tập đoàn Việt Úc trở thành hạt nhân trong Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao về thủy sản tại Đầm Hà, đưa Quảng Ninh trở thành trung tâm giống thủy sản của khu vực. Kể từ mẻ tôm giống đầu tiên vào tháng 3/2019 đến nay, Việt Úc xuất ra thị trường gần 1,5 tỷ con giống tôm, trong đó thị trường Quảng Ninh sử dụng 1 tỷ con giống.

Nhằm phát huy kết quả đạt được, thời gian tới, Quảng Ninh đẩy mạnh triển khai các giải pháp cụ thể, khuyến khích hình thành các khu chăn nuôi, vùng chăn nuôi tập trung xa khu dân cư, xây dựng thương hiệu hàng hóa. Đồng thời, tổ chức các hội chợ, triển lãm, chương trình xúc tiến đầu tư, quảng bá sản phẩm nông nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp, nông dân tiêu thụ nông sản trong nước và nước ngoài.  

Phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng bền vững, chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng, đẩy mạnh công tác quy hoạch xây dựng nông thôn mới là một trong những nhiệm vụ xuyên suốt của Quảng Ninh trên lộ trình mới. Theo đó, toàn tỉnh sẽ tập trung chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng nâng cao chất lượng và giá trị trên một đơn vị diện tích.

Nếu chỉ xét về 2 ngành chủ lực trong nông nghiệp bao gồm trồng trọt và chăn nuôi, Quảng Ninh đã sớm thay đổi nền nông nghiệp lạc hậu, áp dụng cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp giúp tiết kiệm thời gian, tiền bạc. Đồng thời, ứng dụng hợp lý từng mô hình chăn nuôi tại mỗi địa phương, qua đó tạo ra sản phẩm an toàn sinh học, khẳng định thương hiệu hoàn hảo cho mỗi sản phẩm.

Theo số liệu thống kê của Sở NN-PTNT, năm 2019, sản lượng lương thực bình quân đạt 228 nghìn tấn/năm đảm bảo an ninh lương thực. Trong giai đoạn 2016-2020, năng suất lúa đạt 51,8 tạ/ha. Các vùng sản xuất tập trung đều tăng vượt quy hoạch về diện tích, sản lượng và giá trị. Xây dựng được chuỗi sản phẩm chủ lực của tỉnh, gắn với xây dựng thương hiệu sản phẩm nông nghiệp, sản phẩm OCOP. Tỉnh đã tích cực đẩy mạnh công tác dồn diền đổi thửa, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, áp dụng các quy trình sản xuất tiên tiến. Qua đó, chuyển đổi 1.160 ha diện tích trồng lúa kém hiệu quả sang trồng ngô, các cây hoa màu và cây làm thức ăn chăn nuôi. Đặc biệt, hình thành 20 cánh đồng lớn tại Đông Triều và Quảng Yên với diện tích 844 ha.

Đến nay, toàn tỉnh đã hình thành nhiều vùng trồng trọt, sản xuất chuyên biệt, phát huy tối đa tiềm năng từ các yếu tố khí hậu thổ nhưỡng. Cụ thể, vùng sản xuất lúa chất lượng cao đạt diện tích 4.690 ha tăng 115 ha; Vùng trồng rau an toàn đạt 348 ha tăng 14 ha; vùng trồng vải 972 ha tăng 22 ha; vùng trồng cam 545 ha tăng 222 ha; vùng nuôi tôm tập trung 9.662 ha tăng 6.199 ha; vùng nuôi cua kết hợp cá, tôm 1.730,6 ha tăng 456,3 ha; Vùng nuôi trồng thủy sản nước ngọt diện tích 2.451 ha tăng 96 ha. Hiện tại, một số vùng trồng cây ăn quả đã và đang triển khai mô hình sản xuất VIETGAP như: vùng vải chín sớm tại Uông Bí, vùng vải, vùng na theo quy trình VietGap tại Đông Triều.

Ông Nguyễn Hữu Giang, Giám đốc Sở NN-PTNT, cho biết: Sở đã yêu cầu các đơn vị tập trung rà soát, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch chuyển dần sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất hàng hóa, với hướng đi là lựa chọn một số loại cây, con có ưu thế phù hợp với khí hậu, sinh thái đặc thù của tỉnh để phát triển thành các vùng chuyên canh gắn với công nghiệp chế biến và dịch vụ thương mại. Đồng thời tập trung phát triển kinh tế tập thể với nòng cốt là các tổ hợp tác, HTX để liên kết với doanh nghiệp trong chuỗi giá trị; thúc đẩy triển khai các giải pháp KHCN, ứng dụng công nghệ để tận dụng tối đa cơ hội của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0...

Quảng Ninh cũng đang đẩy mạnh thu hút một số nhà đầu tư nghiên cứu quy hoạch và định hướng phát triển sản xuất, chế biến, kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp, đặc biệt là nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại Vân Đồn, Móng Cái, Đông Triều, Đầm Hà. Đến nay, nhiều vùng sản xuất theo hướng hàng hóa quy mô lớn được hình thành, như: Vùng sản xuất lúa chất lượng cao, 1.690ha ở TX Đông Triều; vùng trồng rau an toàn, 348ha ở TX Quảng Yên; vùng trồng cây dong riềng, trên 516ha ở huyện Bình Liêu; sản xuất giống thủy sản chất lượng cao ở Đầm Hà, ông Giang nói thêm

Quảng Ninh ứng dụng phần mềm hỗ trợ tra cứu, xác minh thông tin Lý lịch tư pháp (Pháp Luật Việt Nam 22/9)

 Thời gian qua, Quảng Ninh luôn cố gắng đảm bảo bố trí nhân lực, cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu cấp phiếu Lý lịch tư pháp cho người dân, từng bước cải cách thủ tục theo hướng đơn giản hóa và thuận tiện. Tỉnh cũng là một trong những địa phương đăng ký đi đầu trong việc ứng dụng phần mềm hỗ trợ tra cứu, xác minh thông tin Lý lịch tư pháp.

Việc sử dụng phần mềm dùng chung để tiếp nhận thông tin LLTP, lập LLTP, cập nhật thông tin LLTP bổ sung và cấp phiếu LLTP ổn định, hiệu quả. Từ ngày 1/7/2016, Sở Tư pháp thực hiện giải quyết dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 đối với thủ tục cấp phiếu LLTP, đến ngày 1/10/2019, thủ tục này được nâng lên mức độ 4. Đến nay, số lượng công dân truy cập lựa chọn hình thức đăng ký cấp phiếu LLTP qua dịch vụ trực tuyến ngày càng tăng. Đặc biệt từ 1/1/2020 đến 31/7/2020, trong điều kiện phòng chống dịch Covid-19, đã tiếp nhận 3.486 hồ sơ cấp phiếu LLTP qua đường trực tuyến, chiếm 52% tổng số hồ sơ đề nghị cấp.

Tính từ 1/7/2010 đến hết ngày 30/6/2020, Sở Tư pháp tỉnh đã tiếp nhận hơn 67.076 thông tin; tiến hành lập 15.697 bản LLTP; cung cấp các thông tin không thuộc thẩm quyền xử lý lập LLTP 7.965 thông tin. Để việc trao đổi, cung cấp thông tin được thực hiện đúng quy định và thực sự có hiệu quả, UBND tỉnh cũng chỉ đạo các sở, ngành có liên quan triển khai việc thực hiện các quy định của luật và văn bản hướng dẫn thi hành; chỉ đạo Sở Tư pháp ban hành văn bản gửi các đơn vị liên quan trong việc cung cấp, trao đổi, xác minh thông tin LLTP... Đến nay, các cơ quan đã có sự phối hợp nhịp nhàng, các thông tin gửi đến đầy đủ, thường xuyên.

Trong quá trình giải quyết hồ sơ, công dân luôn được thông tin đầy đủ, kịp thời về tiến độ xử lý và có quyền được xem xét toàn bộ giấy tờ, văn bản có trong hồ sơ của mình; thể hiện tính công khai, minh bạch trong giải quyết thủ tục hành chính. Để tạo điều kiện thuận lợi cho công dân, Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh cũng ký hợp đồng cung ứng dịch vụ chuyển phát và trả kết quả cấp phiếu LLTP qua dịch vụ bưu chính. Qua 10 năm thực hiện, tỉnh đã thụ lý và giải quyết 48.892 yêu cầu cấp phiếu Lý lịch tư pháp.

Đặng Dung


Tìm kiếm theo chuyên mục - nội dung - ngày tháng

Tin sở ban ngành
Bản đồ

Lịch công tác trống

Tin tiêu điểm
Website liên kết
Câu hỏi khảo sát

Theo bạn nội dung cung cấp trên cổng thông tin điện tử như thế nào?


Thống kê truy cập
Hôm nay: 1627
Đã truy cập: 21994795

© Cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Ninh

Giấy phép xuất bản: số 53/GP-TTĐT ngày 27/05/2015 - Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử - Bộ Thông tin và Truyền thông.

- Cơ quan chủ quản: Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

- Cơ quan quản lý nhà nước và thường trực kỹ thuật: Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh.

- Quản lý nội dung trang chủ: Trung tâm Truyền thông tỉnh.

- Quản lý nội dung các Cổng thành phần: Thủ trưởng các cơ quan, tổ chức. 

Ghi rõ nguồn "Quảng Ninh Portal" khi phát hành lại thông tin từ  Website này.