Trang chủ Tra cứu

Kế hoạch phát triển năm 2009

08/12/2008

I. BỐI CẢNH TÌNH HÌNH

        Năm 2009, nền kinh tế nước ta đứng trước nhiều khó khăn và thách thức. Tình hình kinh tế thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp. Ở trong nước, nền kinh tế do ảnh hưởng của tình trạng lạm phát cao của năm 2008 dẫn đến giảm phát năm vào 2009; sức cạnh tranh của cả nền kinh tế còn ở mức thấp; đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn. Chất lượng nguồn nhân lực thấp, thiếu lao động tay nghề cao; kết cấu hạ tầng kinh tế chưa bảo đảm yêu cầu phát triển. Tình hình thiên tai, dịch bệnh có thể còn diễn biến phức tạp...

          Cùng với những khó khăn chung của cả nước, tỉnh ta còn gặp khó khăn liên quan tới những vấn đề mà tỉnh không hoàn toàn chủ động được như việc triển khai và đưa một số dự án lớn vào sản xuất (điện, xi măng, cơ khí,…); đồng thời sản xuất kinh doanh than theo dự báo gặp nhiều khó khăn.

Tuy nhiên, tỉnh ta cũng có nhiều thuận lợi: s ự ổn định chính trị - xã hội; kinh tế tăng trưởng khá cao qua nhiều năm; Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội mặc dù còn khó khăn nhưng đang có sự cải thiện tích cực, nhất là hệ thống giao thông (đường bộ, đường sắt, cảng biển...); N ăng lực sản xuất của các ngành kinh tế đã được nâng lên, một số dự án trọng điểm về nhiệt điện, xi măng, giao thông, thuỷ lợi...đang được quan tâm hoàn thành và dự kiến đi vào sản xuất; cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động đang chuyển dịch đúng hướng là điều kiện thuận lợi để huy động mọi nguồn lực cho sự phát triển nhanh và bền vững.

Trong bối cảnh đó, toàn tỉnh phải nỗ lực cao nhất để tranh thủ tối đa thời cơ thuận lợi, vượt qua khó khăn thách thức, phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu chủ yếu của Kế hoạch năm 2009, tạo tiền đề để phấn đấu hoàn thành thắng lợi các mục tiêu của Kế hoạch 5 năm (2006 - 2010). Theo đó năm 2009, toàn tỉnh cần thực hiện tốt các mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu dưới đây:

II. MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU NĂM 2009

1. Mục tiêu, nhiệm vụ

Phấn đấu duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế hợp lý, bền vững; chủ động tạo điều kiện và kích thích phát triển sản xuất, ngăn ngừa sự suy giảm kinh tế; bảo đảm an sinh xã hội. Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội. Đẩy mạnh phát triển sản xuất trong các ngành, lĩnh vực; chủ động hội nhập kinh tế quốc tế hiệu quả. Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Giải quyết tốt các vấn đề xã hội, nâng cao mức sống của nhân dân và bảo vệ môi trường sinh thái. Đẩy mạnh cải cách hành chính và nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy chính quyền các cấp. Giữ vững quốc phòng, an ninh, trật tự, kỷ cương và an toàn xã hội; tạo điều kiện thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006-2010.

2. Các chỉ tiêu chủ yếu của Kế hoạch năm 2009

        2.1. Về phương án tăng trưởng kinh tế

Trên cơ sở mục tiêu, nhiệm vụ nêu trên và những tác động của tình hình kinh tế thế giới và trong nước. Dự báo tăng trưởng theo phương án sau:

- Tình hình thời tiết, dịch bệnh không có những biến động đột biến.

- Những kết quả tích cực ở trong nước về việc triển khai các giải pháp, chính sách kiềm chế lạm phát và giảm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững, kiểm soát và kiểm tra giá cả các loại nguyên liệu cơ bản trên thị trường tiếp tục được duy trì và phát huy tác dụng. Chỉ số giá CPI năm 2009 dự kiến tăng khoảng 16%.

- Đầu tư phát triển tiếp tục tăng trong điều kiện kinh tế còn tạm thời gặp khó khăn.

*Tình hình sản xuất kinh doanh, một số ngành nghề và sản phẩm chủ yếu trên địa bàn tỉnh theo các giả định sau:

- Về sản xuất công nghiệp:

+ Ngành than (chiếm tỷ trọng trên 40% GDP của tỉnh) bị sụt giảm về sản lượng theo Kế hoạch năm 2009 chỉ tiêu thụ được 36 triệu tấn (đây là phương án thấp nhất của TKV theo Văn bản số 8011/CV-KH ngày 17/11/2008), trong đó xuất khẩu 15 triệu tấn và giá than xuất khẩu giảm 50%, giá bán than nội địa tăng 17%; bù trừ giá bán than xuất khẩu và giá nội địa ngành Than giảm 21,4%, kéo theo ngành cơ khí của TKV và các ngành kinh tế phụ trợ cho ngành Than cũng bị giảm. Tổng hợp các yếu tố tăng giảm, giá trị tăng thêm (GTTT) của ngành Than chỉ tăng 1,83%.  

+ Do tác động xấu của nền kinh tế thế giới và trong nước làm cho các dự án mới hoặc vừa đưa vào hoạt động cũng phải dãn tiến độ hoặc giảm sản lượng:

X i măng Thăng Long có công suất 2,1 triệu tấn, khả năng đạt 1,3 triệu tấn; xi măng Cẩm Phả có công suất 2,3 triệu tấn, khả năng đạt 2,07 triệu tấn; xi măng Hạ long có công suất 2,2 triệu tấn, khả năng đạt 0,924 triệu tấn (làm tăng khoảng 3.276 tỷ đồng doanh thu, góp phần làm tăng trưởng của ngành công nghiệp chế biến là 28,48% so với năm 2008… Tổng sản lượng xi măng ước đạt 4,2 triệu tấn. Nhà máy nhiệt điện Uông Bí mở rộng đạt 80% công suất = 1,68 tỷ Kw/h (tăng 580,6 tỷ đồng doanh thu); tổ máy 1 nhà máy nhiệt điện Quảng Ninh đạt 80% công suất và hoạt động được 10 tháng/2009 = 1,4 tỷ Kw/h (tăng 806 tỷ đồng)… Sản lượng điện phát ra năm 2009 có khả năng làm tăng 1.958 tỷ đồng về doanh thu đưa mức tăng trưởng của ngành khoảng 49%... Tổng sản lượng điện sản xuất ước đạt 3,3 tỷ Kw/h. Các biện pháp chủ động ngăn chặn sự suy giảm của các ngành kinh tế khác (ngoài ngành than) phát huy hiệu quả, bù trừ các yếu tố tăng giảm, GTTT của các ngành tăng 17,65%.

Dự kiến tốc độ tăng trưởng (GTTT) khu vực II là 10,01%.

- Về sản xuất nông nghiệp:

+ Năm 2009, dự báo khả năng giá bán thóc sẽ ở mức trên dưới 5.000 đồng/kg làm giảm doanh thu khoảng 54 tỷ đồng so với 2008 (1.254 – 1.200 tỷ); chăn nuôi phát triển theo tốc độ tăng trưởng bình quân của giai đoạn 2006-2008.

+ Với việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật đưa các giống (cây, con) có giá trị kinh tế cao vào chăn nuôi và trồng trọt (các loại hoa, rau, động vật, thuỷ sản như: Nhím, Hươu lấy nhung, ba ba, giống lợn rừng...), nên khả năng năm 2009 doanh thu từ các hoạt động này sẽ bù trừ cho sự thiếu hụt do giảm giá bán lương thực của người sản xuất như đã nhận định ở phần trên.

+ Thuỷ sản dự báo tăng trưởng 7,68% so với năm 2008.

Tổng hợp các giả thiết cơ bản trên, tốc độ tăng trưởng khu vực I (nông, lâm, thuỷ sản) là 2,8% so với năm 2008.

- Khu vực dịch vụ:

+ Về thương mại, du lịch, nhà hàng ... Theo dự báo năm 2009 là năm còn khó khăn nhiều do kinh tế thế giới cũng như trong nước suy giảm (thu nhập của người dân bị eo hẹp hơn năm 2008) nên việc chi tiêu của từng thành viên sẽ được cân đo bằng nhu cầu thiết yếu và thiết thực cho cuộc sống phù hợp với mức thu nhập, do vậy mức tăng trưởng cũng không được cao. Dự báo ngành thương mại, sửa chữa xe có động cơ…tăng 11,66%; khách sạn, nhà hàng tăng 13,3%; vận tải, thông tin liên lạc tăng 17,7% so với năm 2008...

+ Về thuế nhập khẩu : Với tình hình kinh thế thế giới như hiện nay và theo sự đánh giá, dự báo của các nhà kinh tế trên thế giới, kết hợp với các đối sách của Chính phủ thực hiện trong năm 2008, có thể năm 2009 Trung ương sẽ điều chỉnh mức thuế (xuất và nhập khẩu) theo chính sách linh hoạt để chống lạm hoặc giảm phát. Dự báo thuế nhập khẩu sẽ tăng 20% làm tăng thêm 33,4 tỷ vào GDP toàn tỉnh theo giá so sánh 1994.

Dự kiến tốc độ tăng trưởng khu vực III (giá so sánh) là 12,45%, tính theo giá hiện hành tăng 18,68%.

Tóm lại, với các giả định, dự báo, phân tích những yếu tố chính tác động tới sự tăng trưởng kinh tế như đã trình bày trên. Trong điều kiện có sự cố gắng và quyết tâm cao của các ngành, các cấp và các doanh nghiệp, dự báo: Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP, giá so sánh 1994) năm 2009 tăng khoảng10,52%, trong đó: GTTT ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản (giá so sánh 1994) tăng 2,8%; GTTT ngành công nghiệp và xây dựng (giá so sánh 1994) tăng 10,01%; GTTT các ngành dịch vụ (giá so sánh 1994) tăng 12,45% và (giá hiện hành) tăng 18,68%.

Phương án này phù hợp với nhận định của Trung ương về tình hình khó khăn do tác động nặng nề của suy thoái kinh tế thế giới đối với nước ta. Đặc biệt đối với tỉnh ta khả năng bị tác động mạnh tới các ngành và lĩnh vực quan trong như: than, xuất khẩu, du lịch, đầu tư... Phương án này thể hiện được tính linh hoạt trong chỉ đạo, điều hành, phù hợp với tình hình thực tiễn và có tính khả thi cao. Trong chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch, nếu điều kiện thuận lợi, sẽ phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng GDP cao hơn.

2.2. Dự kiến các chỉ tiêu phát triển kinh tế-xã hội năm 2009

a) Các chỉ tiêu kinh tế:

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP, giá so sánh 1994) tăng khoảng 10-11% so với năm 2008. 

- Giá trị tăng thêm ngành nông, lâm, ngư nghiệp (giá so sánh 1994) tăng 2,8%.

- Giá trị tăng thêm ngành công nghiệp và xây dựng (giá so sánh 1994) tăng 10,01%.

- Giá trị tăng thêm các ngành dịch vụ (giá so sánh 1994) tăng 12,45% và (giá hiện hành) tăng 18,68%.

- Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá trên địa bàn tăng 15%.

- Tổng vốn đầu tư xã hội trên địa bàn tăng khoảng 15%.

- Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn: 13.859 tỷ đồng, trong đó thu thuế XNK 9.200 tỷ đồng; thu nội địa (phần cân đối ngân sách) 4.159 tỷ đồng; các khoản thu để lại quản lý qua ngân sách 500 tỷ đồng.

- Tổng chi ngân sách địa phương 4.284,9 tỷ đồng, trong đó chi đầu tư phát triển 1.633,4 tỷ đồng, chi thường xuyên 2.338 tỷ đồng.

- Chỉ số tăng giá tiêu dùng khoảng 16%.

 b) Các chỉ tiêu xã hội:

- Giữ vững kết quả đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS; thực hiện phổ cập giáo dục THPT ở các thành phố, thị xã và huyện đồng bằng.

- Tuyển mới cao đẳng nghề và trung cấp nghề tăng 16%.

- Mức giảm tỷ lệ sinh là 0,02%.

- Tạo việc làm cho 26.000 lao động, trong đó xuất khẩu 1.500 lao động.

- Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 45%, trong đó đào tạo nghề 34 - 35%;

- Giảm tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn hiện hành) xuống dưới 4,5- 4,7%.

- Giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng xuống dưới 19%.

- Số giường bệnh trên 1 vạn dân: 28 giường.

- Diện tích nhà ở đô thị bình quân đầu người: 20 m2.

 c) Các chỉ tiêu về môi trường:

- Nâng tỷ lệ che phủ của rừng đến cuối năm 2009 đạt 49%.

- Cung cấp nước sạch cho 80% dân số nông thôn và 89% dân số đô thị.

- Tỷ lệ cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng được xử lý: 71%.

- Tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt được thu gom: 88%.

- Tỷ lệ xử lý chất thải rắn y tế được xử lý: 80%.

- Thu gom và xử lý 82% lượng rác thải hàng ngày tại các trung tâm đô thị, đạt tiêu chuẩn môi trường.

- Tỷ lệ khu công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường: 100%.

III. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH, LĨNH VỰC CHỦ YẾU

A. VỀ KINH TẾ

1. Phát triển công nghiệp

Thúc đẩy phát triển công nghiệp với tốc độ cao đi đôi với nâng cao chất lượng sản phẩm, hiệu quả sản xuất công nghiệp, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp. Phát triển nhanh các ngành công nghiệp có lợi thế như: nhiệt điện, xi măng, cơ khí, đóng tàu… k huyến khích phát triển công nghiệp chế biến khoáng sản, sản xuất hàng xuất khẩu, công nghiệp phụ trợ, công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản tại các vùng nông thôn, miền núi...  

Rà soát các quy hoạch ngành công nghiệp theo hướng mở để thu hút các nhà đầu tư tham gia và các dự án công nghiệp lớn. Tạo điều kiện thuận lợi về hạ tầng, GPMB để các dự án trọng điểm công nghiệp hoàn thành theo đúng tiến độ đề ra [1] . Khuyến khích phát triển công nghiệp chế biến khoáng sản, sản xuất hàng xuất khẩu, công nghiệp phụ trợ, công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản tại các vùng nông thôn, miền núi,...  

Tập trung phát triển các khu, cụm công nghiệp theo quy hoạch, ưu tiên các doanh nghiệp đầu tư sản xuất kinh doanh vào các khu, cụm công nghiệp, chú trọng phát triển tiểu thủ công nghiệp và làng nghề. Ưu tiên các doanh nghiệp đầu tư sản xuất kinh doanh vào các khu, cụm công nghiệp.

          2. Phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn

          Tập trung triển khai thực hiện Nghị quyết TW 7 về nông nghiệp , nông dân, nông thôn, với các mục tiêu chủ yếu là : (1) Bảo đảm sản xuất, cung cấp đủ lương thực, thực phẩm cho nhu cầu tiêu dùng trong tỉnh và xuất khẩu, không để giá cả tăng đột biến, đảm bảo an ninh lương thực; (2) Tập trung nỗ lực tạo bước chuyển biến mới trong sản xuất nông nghiệp, hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp hàng hoá lớn, đa dạng, phát triển nhanh và bền vững, có năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh cao; (3) Phát triển kinh tế nông thôn và nâng cao đời sống nhân dân, gắn phát triển kinh tế với xây dựng nông thôn mới, giải quyết tốt các vấn đề xã hội ở nông thôn, tăng vốn đầu tư nhà nước cho các khu vực nông nghiệp và nông thôn.

Về định hướng phát triển các ngành cụ thể :

- Đối với nông nghiệp: Tiếp tục phát huy lợi thế về trồng lúa tại các địa phương: Đông Triều, Yên Hưng, Hải Hà… Nâng cao năng suất chủ yếu bằng việc sử dụng các giống mới năng suất cao, chất lượng, giống có khả năng kháng bệnh; khuyến khích áp dụng các biện pháp để hạ giá thành sản xuất lúa.

          Phát triển chăn nuôi theo hướng hiệu quả, bền vững và an toàn vệ sinh thực phẩm. Khuyến khích chăn nuôi theo hình thức trang trại , nuôi công nghiệp gắn với chế biến và xử lý chất thải. Tiếp tục triển khai chương trình cải tạo đàn bò, đàn lợn, chương trình giống vật nuôi. Tập trung chuyển đổi cơ cấu sản xuất, kiểm soát an toàn vệ sinh thực phẩm, dịch bệnh.

          - Lâm nghiệp: Tăng cường công tác bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng kinh tế, chế biến lâm sản, nhất là hàng lâm sản xuất khẩu. Phát triển mạnh trồng rừng kinh tế chất lượng và hiệu quả cao. Theo kết quả rà soát, quy hoạch lại 3 loại rừng, đẩy mạnh công tác giao đất, giao rừng cho dân, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để dân yên tâm đầu tư sản xuất và có các quyền quy định trong Luật Đất đai. Khuyến khích đầu tư trồng rừng sản xuất và đẩy mạnh chế biến lâm sản.

          - Thuỷ sản: Trong khai thác, hướng chỉ đạo trong những năm tới hạn chế khai thác ven bờ, chuyển sang khai thác xa bờ, giữ nguyên hoặc giảm sản lượng khai thác hải sản biển, chỉ tăng về giá trị sản lượng khai thác; thực hiện tốt Quyết định số 289/QĐ-TTg ngày 18/3/2008 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành một số chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số, hộ thuộc diện chính sách, hộ nghèo, hộ cận nghèo và ngư dân. Trong nuôi trồng, phát triển theo hướng bền vững, đa loài, đa đối tượng với nhiều hình thức nuôi (nuôi quảng canh, nuôi công nghiệp, nuôi sinh thái). 

          Quy hoạch sắp xếp lại hệ thống các nhà máy chế biến, đầu tư chiều sâu tăng nhanh giá trị mặt hàng xuất khẩu, mở rộng các vùng nuôi hàng hoá tạo nguyên liệu ổn định cho các nhà máy chế biến xuất khẩu.

          - Thuỷ lợi: Nâng cao năng lực các hệ thống đã có là chủ yếu, tập trung đầu tư đồng bộ, hiện đại hoá các tuyến đê biển, đê sông xung yếu; tiếp tục thực hiện chương trình kiên cố hoá kênh mương; nâng cao công tác quản lý, áp dụng các biện pháp tưới tiết kiệm.

          Chủ động xây dựng các phương án phòng, chống thiên tai; tăng cường công tác thường trực phòng chống lũ lụt, hạn hán; kiểm tra phát hiện sớm các sự cố đối với hệ thống đê điều, hồ, đập, các công trình thủy lợi; ứng phó kịp thời với mọi tình huống, hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do thiên tai gây ra.

          - Về phát triển nông thôn : Thực hiện xã hội hóa dịch vụ ở nông thôn, phát triển hệ thống khuyến nông, dịch vụ thủy nông, thú y, bảo vệ thực vật, thông tin liên lạc, văn hóa, xã hội, cung ứng vật tư, tiêu thụ sản phẩm.

          Phát triển các mô hình liên kết kinh tế ở nông thôn tạo điều kiện để tích tụ ruộng đất, sắp xếp bố trí đất sản xuất hợp lý hơn, tăng khả năng cạnh tranh nông nghiệp. Chú trọng phát triển nông thôn ở những vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Thực hiện các biện pháp đặc biệt hỗ trợ các vùng nông thôn còn nhiều khó khăn để xoá đói giảm nghèo; tạo điều kiện để nông dân tiếp cận được các dịch vụ về y tế, giáo dục, văn hóa, cải thiện đời sống.

Tiếp tục thực hiện chương trình xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, trước hết là phát triển củng cố thủy lợi, đê điều, kiên cố hóa kênh mương, nước sạch cho sinh hoạt; phát triển đường giao thông nông thôn; phát triển hệ thống điện và bưu chính viễn thông, hệ thống y tế, giáo dục, văn hóa nông thôn; quy hoạch, chỉnh trang các khu dân cư theo hướng văn minh, hiện đại.

          3. Phát triển các ngành dịch vụ

Tập trung phát triển mạnh các ngành dịch vụ có thế mạnh, lợi thế đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu xã hội. Tiếp tục tổ chức thực hiện tốt Nghị quyết 21-NQ/TU của Tỉnh uỷ và Chương trình hành động của UBND tỉnh về phát triển dịch vụ của tỉnh đến 2010 và định hướng đến năm 2015. Đẩy mạnh các hoạt động dịch vụ cảng biển, thương mại, du lịch, vận tải, bưu chính viễn thông và các loại hình dịch vụ khác. 

a) Thương mại nội địa

Rà soát và hoàn thiện Quy hoạch phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng thương mại phù hợp với tình hình mới, trong đó chú trọng chính sách phát triển các loại hình thương mại hiện đại, tập trung, qui mô lớn, dành quĩ đất thích hợp cho đầu tư hạ tầng thương mại tại các khu đô thị...

Tiếp tục hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách đối với hoạt động thương mại, khuyến khích sự tham gia của tất cả các thành phần kinh tế.  

Kiểm soát hệ thống lưu thông, phân phối đối với những mặt hàng trọng yếu (xăng dầu, sắt thép, xi măng, phân bón, thuốc chữa bệnh, lương thực…), nâng cao vai trò và hiệu quả quản lý nhà nước, từ đó hạn chế đến mức tối đa các hiện tượng tiêu cực như đầu cơ, nâng giá và gian lận thương mại.

          b) Phát triển mạnh ngành Du lịch

Tiếp tục huy động các nguồn lực đầu tư phát triển hạ tầng du lịch, đặc biệt ở các khu, điểm du lịch có trong quy hoạch (4 trung tâm du lịch của tỉnh). Khai thác tốt Di sản Thế giới Vịnh Hạ Long kết hợp với phát triển du lịch sinh thái và du lịch văn hoá tại các vùng, miền trong tỉnh; phối hợp với các ngành và địa phương lồng ghép các chương trình, các dự án đầu tư bảo vệ tôn tạo di tích, môi trường; đồng thời nâng cao chất lượng và đa dạng hoá sản phẩm du lịch, tạo tính độc đáo, riêng biệt cho sản phẩm để tăng tính cạnh tranh trong thu hút du khách.

Đẩy mạnh hợp tác quốc tế, mở rộng thị trường khách du lịch. Củng cố mối quan hệ hợp tác phát triển với tỉnh Quảng Tây, Hải Nam, Vân Nam (Trung Quốc), mở rộng quan hệ song phương với các nước. Tăng cường liên kết vùng.

          c) Vận tải, Bưu chính viễn thông

Nâng cao năng lực và chất lượng dịch vụ vận tải, đảm bảo đáp ứng nhu cầu vận tải ngày càng cao của xã hội, hội nhập khu vực và quốc tế. Đặc biệt chú trọng mục tiêu an toàn và thuận tiện trong vận tải hành khách, kiềm chế hiệu quả tai nạn giao thông. Củng cố, nâng cao chất lượng tuyến xe buýt nội tỉnh, thực hiện hợp tác vận tải với Hà Nội, Hải Phòng và một số tỉnh lân cận để phục vụ khách du lịch và nhu cầu đi lại của nhân dân. 

Huy động tối đa các nguồn lực, kể cả vốn nước ngoài cho đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông, bến cảng nhằm hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế ngày càng cao. Đẩy nhanh việc triển khai thực hiện các dự án trọng điểm như: Cầu vượt ngã tư Loong – Toòng, đường cao tốc Mông Dương – Móng Cái, quốc lộ 18C, đường tránh huyện Đông Triều, đường Trới – Vũ Oai, đường sắt Yên Viên - Hạ Long, sân bay Vân Đồn…; các cảng: Cái Lân (các bến còn lại: 2, 3, 4, 8 và 9), cảng khách quốc tế Hòn Gai, đường và cảng Dân Tiến… ; sắp xếp lại hệ thống các cảng, bến thuỷ nội địa tiêu thụ than theo quy hoạch đã được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 825/QĐ-UBND ngày 14/3/2007.

Phát triển và thúc đẩy dịch vụ bưu chính, viễn thông nâng cao chất lượng dịch vụ và tiếp tục giảm chi phí, hạ giá thành. Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tận dụng hội nhập kinh tế quốc tế để đổi mới công nghệ, quan tâm phát trển nguồn nhân lực ngành bưu chính, viễn thông đáp ứng được yêu cầu hội nhập.

d) Các dịch vụ khác

          Tập trung phổ biến và cung cấp rộng rãi loại hình dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm trong dân cư để đông đảo các tầng lớp nhân dân sử dụng rộng rãi loại dịch vụ này trong cuộc sống. Phát triển dịch vụ bảo hiểm hướng tới mục tiêu phổ cập trong mọi hoạt động kinh tế, xã hội.

          4. Về xuất khẩu

Dự báo xuất khẩu mặt hàng than (chiếm tỷ trọng trên 75% kim ngạch xuất khẩu) giảm mạnh so với năm 2008, đòi hỏi phải đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng mới, quy mô lớn và có tốc độ tăng trưởng nhanh như nhóm hàng cơ khí, nhóm hàng nông sản, sành sứ, thuỷ tinh... Phấn đấu tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá trên địa bàn tăng 15%.

          Dự kiến một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu như sau: Than các loại 16,5 triệu tấn, bằng 87% so với ước năm 2008; đóng tầu xuất khẩu 5,3 vạn tấn (116,8 triệu USD); gạch ngói 15 triệu viên, tăng 25%; xăng dầu 3,369 triệu tấn; cao su 55.000 tấn, tăng 2,73%; dầu thực vật 39.500 tấn, tăng 8,7%; Tùng hương, dầu thông 6.000 tấn, tăng 10%; hàng may mặc 1,0 triệu sản phẩm; ngọc trai 900 kg, tăng 35%...

 

          5. Phát triển doanh nghiệp

Về sắp xếp, đổi mới DNNN : Tiếp tục đẩy mạnh công tác sắp xếp, cổ phần hóa và đổi mới công tác quản lý Nhà nước và quản lý của chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp; thực hiện kế hoạch sắp xếp, chuyển đổi số DNNN còn lại của tỉnh theo Quyết định số 1126/QĐ-TTg ngày 28/8/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt kế hoạch sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước thuộc UBND tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2007-2010.

Kiện toàn, nâng cao năng lực hoạt động của các cơ quan đăng ký kinh doanh. Xây dựng cơ quan đăng ký kinh doanh là cơ quan đầu mối duy nhất thực hiện thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp (đăng ký kinh doanh-đăng ký thuế). Triển khai chương trình kết nối mạng thông tin giữa các cơ quan đăng ký kinh doanh, thuế và công an; xây dựng cơ sở dữ liệu tích hợp thông tin về doanh nghiệp; ứng dụng triệt để công nghệ thông tin trong quá trình đăng ký thành lập doanh nghiệp.

Đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) :Tiếp tục thực hiện Quyết định số 236/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ nhằm đẩy nhanh phát triển DNNVV, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các DNNVV đóng góp ngày càng cao vào tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm cho xã hội. Dự báo có 800 doanh nghiệp mới được thành lập với số vốn đăng ký 4.500 tỷ đồng.

Đối với các hợp tác xã : Tiếp tục củng cố, phát triển các loại hình HTX, nâng tỷ lệ số HTX khá, giỏi lên 45-50%, đồng thời xử lý dứt điểm những HTX không có khả năng chuyển đổi hay tổ chức lại, không còn những HTX chỉ tồn tại trên danh nghĩa. Thực hiện tốt Nghị định số 88/2005/NĐ-CP về một số chính sách hỗ trợ phát triển HTX và Quyết định số 272/2005/QĐ-TTg về mục tiêu, định hướng phát triển kinh tế tập thể 5 năm 2006-2010. Năm 2009, phát triển mới 30 HTX, trong đó có một số mô hình HTX mới như: HTX nông nghiệp đa chức năng, HTX nhà ở, HTX chợ.

6. Định hướng đầu tư phát triển

          Thực hiện các biện pháp nhằm huy động tối đa nguồn lực của các thành phần kinh tế cho đầu tư phát triển trực tiếp thực hiện các mục tiêu của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2009, cũng như kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2006-2010.

(1) Ưu tiên đầu tư xây dựng các công trình trọng điểm trên địa bàn, các công trình có sức lan tỏa cao và các công trình giải quyết các vấn đề an sinh xã hội. Tiếp tục đầu tư mới, cải tạo, nâng cấp các tuyến giao thông quan trọng đến các khu kinh tế, tuyến biên giới gắn với công tác an ninh, trật tự an toàn xã hội.

(2) Thực hiện điều chỉnh cơ cấu đầu tư trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 7. Ưu tiên bố trí vốn cho các dự án cấp bách về thủy lợi, thông tin, quản lý nghề cá, nghiên cứu ứng dụng khoa học, giống mới, canh tác và chế biến, trồng, bảo vệ rừng...

(3) Chú trọng đầu tư cho lĩnh vực giáo dục và đào tạo; đầu tư phát triển các trường dạy nghề gắn với việc giải quyết chỗ ở cho sinh viên. Tăng đầu tư lĩnh vực giáo dục đối với các vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc; đẩy nhanh tiến độ thực hiện nguồn vốn trái phiếu Chính phủ cho kiên cố hóa trường lớp học phổ thông và nhà công vụ giáo viên.

Tiếp tục thực hiện xã hội hoá theo Nghị quyết 05 của Chính phủ, khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư cho lĩnh vực giáo dục. Nhà nước khuyến khích và tạo mọi điều kiện để các nhà đầu tư xây dựng các trường tư thục.

(4) Đầu tư tập trung cho các bệnh viện đa khoa khu vực, các trung tâm y tế huyện. Mở rộng và nâng cấp cơ sở vật chất, tăng cường và bổ sung thiết bị hiện đại cho các bệnh viện tuyến tỉnh, bệnh viện y học cổ truyền, các khoa đông y, nâng cấp và hoàn thiện các trạm y tế tuyến xã, các trung tâm y tế dự phòng. Tăng cường đầu tư trang thiết bị kiểm định vệ sinh an toàn thực phẩm.

Đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân đối với các dự án bệnh viện tuyến huyện sử dụng nguồn vốn trái phiếu Chính phủ. 

(5) Khuyến khích tư nhân trong nước đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh đồng thời tham gia đầu tư vào các lĩnh vực xã hội, phát triển kinh tế nông thôn.

(6) Tiếp tục thu hút đầu tư nước ngoài và đẩy nhanh tiến độ giải ngân các nguồn vốn đã cam kết, có định hướng thu hút đầu tư vào các vùng một cách hợp lý, vào các lĩnh vực ưu tiên.

B. VỀ LĨNH VỰC KHOA HỌC CÔNG NGHỆ, GIÁO DỤC ĐÀO TẠO VÀ CÁC LĨNH VỰC XÃ HỘI KHÁC

          1. Khoa học và công nghệ

          Đẩy mạnh đổi mới hoạt động và phương thức tổ chức hoạt động khoa học và công nghệ, đặc biệt là cơ chế tài chính và chính sách sử dụng nhân lực khoa học và công nghệ. Tăng cường tiềm lực khoa học và công nghệ; hình thành lực lượng doanh nghiệp khoa học và công nghệ; đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao và thương mại hóa kết quả nghiên cứu; phát triển mở rộng thị trường công nghệ; hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng hệ thống quản lý chất lượng và phát triển tài sản trí tuệ.

Tiếp tục nâng cao năng lực khoa học và công nghệ cấp tỉnh, cấp huyện và hiệu quả của các hoạt động nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ. Giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm tối đa cho các tổ chức khoa học và công nghệ theo Nghị định số 115/2005/NĐ-CP của Chính phủ. Tạo lập môi trường thuận lợi cho phát triển khoa học, công nghệ theo hướng đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ vào trong sản xuất và đời sống.

          2. Giáo dục và đào tạo

Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động của nhà trường, nhất là ứng dụng trong giảng dạy, học tập và quản lý giáo dục.

Củng cố vững chắc kết quả thực hiện xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập giáo dục THCS ở các địa phương. Củng cố kết quả phổ cập tiểu học đúng độ tuổi. Chăm lo việc học tập cho con em dân tộc thiểu số và các đối tượng chính sách. Triển khai phổ cập bậc trung học ở các thành phố, thị xã và huyện đồng bằng.

Triển khai công tác xây dựng trường chuẩn quốc gia các cấp học. Đẩy mạnh đầu tư cơ cở vật chất, nhất là cấp học mầm non, p hấn đấu có thêm 3-5 trường mầm non đạt chuẩn quốc gia, mỗi huyện (thị xã, thành phố) có ít nhất một trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia ở mức độ 2, từ 6-8 trường THCS và từ 1-2 trường THPT đạt chuẩn quốc gia.

Tăng cường công tác xã hội hoá giáo dục. T iếp tục phát triển mạnh các trường ngoài công lập ở các cấp học, kể cả trường dạy nghề theo quy hoạch được duyệt, t hực hiện chủ trương chuyển các cơ sở đào tạo công lập sang dân lập, tư thục. 

3. Công tác dân số, bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân, người có công và bảo trợ xã hội.

Duy trì mức giảm tỷ lệ sinh 0,02%, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,1%, quy mô dân số đạt khoảng 1,149 triệu người vào cuối năm. Nâng cao chất lượng dân số cả về thể chất, trí tuệ, tinh thần. Cơ cấu lại dân số và phân bổ dân cư phù hợp với phát triển kinh tế - xã hội. Phấn đấu để mọi người dân được cung cấp các dịch vụ y tế cơ bản, có điều kiện tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế có chất lượng. Giảm tỷ lệ mắc bệnh, nâng cao thể lực, tăng tuổi thọ và phát triển nòi giống.

Nâng cao nhận thức vị trí, vai trò và trách nhiệm của các thành viên trong gia đình về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi xuống dưới 19%. Đảm bảo duy trì trên 95% trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ 6 loại vắc xin.

Thực hiện xã hội hoá trong lĩnh vực y tế theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho mọi công dân và tổ chức tham gia các hoạt động y tế. Cung cấp đủ thiết bị khám chữa bệnh cần thiết cho trạm y tế; từng bước hoàn thiện cơ sở vật chất cho ngành y tế, tăng số giường bệnh. Tăng cường công tác phòng ngừa dịch bệnh, có các giải pháp hữu hiệu để giải quyết vấn đề chất lượng về sinh an toàn thực phẩm; tiếp tục thực hiện các Chương trình mục tiêu về y tế và phòng chống HIV/AIDS. Hỗ trợ y tế vùng sâu, vùng xa, hải đảo, đảm bảo công bằng trong khám chữa bệnh cho nhân dân.  

Thực hiện mua bảo hiểm y tế, chữa bệnh miễn phí cho những bệnh nhân có hoàn cảnh đặc biệt (người có công, nạn nhân chiến tranh, người nghèo...).

          4. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu lao động, giải quyết việc làm và giảm nghèo

Đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động; thực hiện các giải pháp tạo ra nhiều việc làm mới; giảm tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị; ổn định và cải thiện đời sống nhân dân. Đẩy mạnh công tác giảm nghèo và chống tái nghèo, khuyến khích làm giàu hợp pháp; làm tốt công tác tín dụng, trợ giúp người nghèo phát triển sản xuất, kinh doanh; trợ giá nông sản thông qua các quỹ; phát triển việc làm và nghề phụ. Tập trung đầu tư kết cấu hạ tầng cho một số vùng có tỷ lệ hộ nghèo cao. Nâng cao mức sống của dân cư trong các vùng nghèo, xã nghèo, thực hiện tốt các chính sách xã hội. 

Phấn đấu giải quyết việc làm cho 2,6 vạn lao động, trong đó xuất khẩu lao động 1.500 người; giảm tỷ lệ lao động thất nghiệp ở thành thị xuống còn 4,58% (giảm 0,2%), đưa thời gian lao động ở nông thôn lên 84% (tăng 2%). Nâng tổng số lao động có việc lên 639.500 người, trong đó chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng: Giảm tỷ lệ lao động khu vực nông, lâm, ngư nghiệp xuống còn 33% (giảm 5%); tăng lao động công nghiệp - xây dựng lên 32% (tăng 4%) và tăng lao động ngành dịch vụ lên 35% (tăng 5%).

5. Phát triển văn hoá thông tin

Tiếp tục thực hiện mục tiêu xây dựng nền Văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Nâng cao tính văn hóa trong mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội và sinh hoạt của nhân dân.  

Tăng mức hưởng thụ văn hóa thông tin cho đồng bào các dân tộc ít người; thực hiện phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa". Phấn đấu đạt tỷ lệ 90% số hộ gia đình văn hóa; 50% số làng, bản, khu dân cư đạt tiêu chuẩn nếp sống văn hóa. Bảo tồn, phát triển nghệ thuật truyền thống và các giá trị văn hoá, thuần phong mỹ tục tốt đẹp của các vùng miền trong tỉnh.

Nâng cao chất lượng hệ thống thông tin báo, đài của tỉnh nhằm thực hiện tốt công tác tuyên truyền, giáo dục về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, là công cụ hữu hiệu trong công tác chỉ đạo, điều hành các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh chính trị trên địa bàn. Tăng chất lượng, thời lượng phát thanh và truyền hình, đảm bảo 95% số hộ dân xem được truyền hình và 90% số hộ dân nghe được Đài; tỷ lệ người dân tộc thiểu số được nghe các chương trình phát thanh bằng tiếng dân tộc đạt 85%.

Hoàn thiện cơ chế khoán thu - chi cho Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh và các Đài của các huyện (thị xã, thành phố). Xây dựng cơ chế, chính sách cho phép các thành phần kinh tế tham gia sự nghiệp phát thanh. Mở rộng phát thanh thông tin kinh tế, giao thông, du lịch…để tăng nguồn thu.

6. Phát triển thể dục thể thao

Đẩy mạnh các hoạt động thể dục thể thao theo hướng xã hội hoá cả về quy mô và chất lượng, góp phần nâng cao thể lực, trí lực và tinh thần của nhân dân. Thu hút đạt 22,5% dân số luyện tập thể dục thể thao thường xuyên; 12,5% số hộ là gia đình thể thao. Đảm bảo chương trình giáo dục thể chất trong các nhà trường. 

Tiếp tục củng cố và nâng cao chất lượng trung tâm huấn luyện thể thao của tỉnh, đào tạo các vận động viên trẻ có chất lượng, có đủ lực lượng duy trì và phát triển các môn thể thao thành tích cao của tỉnh. Mở rộng quá trình chuyên nghiệp hoá thể thao thành tích cao trong các môn có điều kiện như: bóng đá, bóng chuyền, quần vợt…, Chống tiêu cực trong các hoạt động thể thao.

C. TÀI NGUYÊN, MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

          Quản lý và sử dụng hợp lý, có hiệu quả và bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là các nguồn tài nguyên đất, nước và khoáng sản.

          Khắc phục tình trạng suy thoái môi trường ở khu vực có hoạt động sản xuất than, các nhà máy, các khu công nghiệp, các khu đông dân cư; cải tạo và xử lý môi trường trên Vịnh Hạ Long, các sông, hồ, ao, kênh mương bị ô nhiễm. Xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng theo Quyết định 64/2003/QĐ-TTg.

          Nâng cao khả năng phòng tránh và hạn chế tác động xấu của thiên tai, sự biến động khí hậu bất lợi đối với môi trường; ứng cứu kịp thời và khắc phục hậu quả xấu do thiên tai gây ra.

Tiếp tục triển khai thực hiện Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020; Kế hoạch hành động của tỉnh thực hiện Nghị quyết 41/NQ-TW của Bộ Chính trị. Cụ thể là: tập trung đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải, chất thải rắn tại các khu công nghiệp, khu đô thị; nâng cao tỷ lệ che phủ rừng; tập trung giải quyết nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn.

IV. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU THỰC HIỆN KẾ HOẠCH 2009.

Trong năm 2009, cần tiếp tục triển khai thực hiện các giải pháp chính sách đã phát huy tác dụng trong năm 2008 và trong Chương trình hành động của Uỷ ban nhân dân tỉnh thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII về mục tiêu, nhiệm vụ của Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006–2010; đồng thời tập trung tổ chức thực hiện tốt các giải pháp chủ yếu sau: 

1. Tập trung làm tốt công tác dự báo; chỉ đạo , điều hành linh hoạt, tạo sự chuyển biến tích cực và toàn diện trên các lĩnh vực, chủ động ngăn chặn suy giảm kinh tế.

Các cấp, các ngành tiếp tục phát huy những ưu điểm, tập trung khắc phục có hiệu quả những hạn chế trong chỉ đạo, điều hành. Trước tình hình thị trường có khả năng biến động khó lường trước, đòi hỏi cần n ắm chắc tình hình, nâng cao công tác dự báo , điều hành linh hoạt để kịp thời có những giải pháp ứng phó với những diễn biến bất lợi xảy ra, song cũng phải kịp thời tranh thủ thời cơ để phấn đấu đạt mức tăng trưởng kinh tế cao nhất khi điều kiện cho phép; phát huy sức mạnh tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, giải quyết công việc đúng thẩm quyền, chủ động, sáng tạo trong khuôn khổ quy định của pháp luật, đồng thời đề cao tinh thần phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị, địa phương trong thực thi nhiệm vụ, đảm bảo nhanh chóng, hiệu quả.

Tiếp tục phương thức chỉ đạo, tập trung có trọng điểm, kịp thời tháo gỡ những khó khăn vướng mắc phát sinh, giải quyết công việc nhanh chóng, không để tồn đọng kéo dài. Nâng cao kỷ cương, kỷ luật hành chính, chấp hành nghiêm Quy chế làm việc, chế độ thông tin, báo cáo, xin ý kiến cấp trên đối với những vấn đề vượt thẩm quyền.

T ập trung chỉ đạo tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát triển, tạo nguồn thu ổn định cho ngân sách nhà nước; thực hiện tốt việc chống gian lận thương mại và thất thu ngân sách nhà nước. Phấn đấu số thu ngân sách đạt và vượt dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao.

Thực hiện đồng bộ các biện pháp về ổn định giá cả thị trường theo chỉ đạo của Chính phủ; tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, chống buôn lậu và gian lận thương mại, chống đầu cơ nâng giá hưởng lợi bất chính, bảo đảm quyền lợi người sản xuất và người tiêu dùng.

2. Tháo gỡ các khó khăn vướng mắc, thúc đẩy đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế.

Đặc biệt quan tâm giải quyết ách tắc trong thủ tục hành chính, đất đai, giải phóng mặt bằng, đề cao trách nhiệm người đứng đầu, huy động sức mạnh cả hệ thống chính trị, tập trung làm chuyển đổi căn bản trong giải phóng mặt bằng các công trình trọng điểm như: Đường Mông Dương - Móng Cái, đường sắt Hạ Long - Cái Lân…; đẩy nhanh tiến độ các dự án nhiệt điện, xi măng đang thực hiện sớm đưa vào hoạt động và tạo điều kiện cho triển khai các dự án mới. Tiếp tục làm tốt công tác lập lại trật tự trong khai thác, vận chuyển, tiêu thụ than; tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất kinh doanh than ổn định, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn. Hỗ trợ về cơ chế các doanh nghiệp nhỏ và vừa để phát triển mạnh các sản phẩm kinh tế khác như: đóng tầu, cơ khí, vật liệu xây dựng (xi măng, gạch ngói, gốm sứ)…  

          Tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển các ngành dịch vụ có tiềm năng, bảo đảm tốc độ gia tăng dịch vụ cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP), chú trọng phát triển mạnh các ngành thương mại, dịch vụ du lịch, vận tải, bưu chính viễn thông, tài chính tín dụng, bảo hiểm… nâng cao chất lượng dịch vụ. Quan tâm cải thiện kết cấu hạ tầng và quy hoạch, tập trung triển khai các dự án trọng điểm, các dự án hạ tầng giao thông, nông nghiệp, nông dân, công trình phục vụ dân sinh cấp thiết.

          Chủ động thực hiện các chính sách hỗ trợ cho nông nghiệp (phòng chống thiên tai, cây giống, con giống, thuỷ lợi, tưới tiêu,…). Chú trọng công tác thú y, bảo vệ thực vật, chủ động phòng chống hiệu quả dịch bệnh cho gia súc, gia cầm; khôi phục, phát triển đàn gia súc, gia cầm theo hướng bền vững. Đẩy mạnh khoanh nuôi, bảo vệ rừng và phòng, chống cháy rừng. Chủ động đối phó với thiên tai, bão lụt…

3. Thực hiện các giải pháp để tạo việc làm, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội.

Các cơ quan liên quan, Uỷ ban nhân dân các cấp phối hợp tốt với Mặt trận và các đoàn thể phát động phong trào thi đua sôi nổi ở tất cả các ngành, các cấp, các địa phương và cơ sở tích cực thực hiện công tác giảm nghèo. Thực hiện các chính sách đảm bảo an sinh xã hội của Trung ương và tỉnh đảm bảo kịp thời, đúng đối tượng.

Đẩy mạnh công tác hướng nghiệp, dạy nghề; t iếp tục thực hiện các chính sách khuyến khích phát triển sản xuất, phát triển ngành nghề phi nông nghiệp ở khu vực nông thôn, tạo việc làm cho người lao động.

Thực hiện tốt chính sách bồi thường, hỗ trợ tái định cư gắn với hỗ trợ đào tạo nghề, tạo điều kiện cho các hộ dân bị thu hồi hết đất hoặc còn diện tích đất nhỏ không đủ canh tác được chuyển đổi nghề nghiệp sang các ngành nghề phi nông nghiệp.

4. Quan tâm đầu tư ngân sách vào các công trình thiết yếu; đẩy mạnh thực hiện chủ trương xã hội hoá trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, thể dục thể thao.

Huy động tối đa các nguồn lực cho đầu tư phát triển, nhất là đầu tư từ ngân sách; khắc phục cơ chế "xin – cho", đầu tư dàn trải, hiệu quả thấp; ưu tiên đầu tư các công trình trọng điểm đã xác định như: Nâng cấp đường 18A đoạn Mông Dương - Móng Cái; đường và cảng Dân Tiến, đường Trới - Vũ Oai, đường 337 Loong Toòng - Bang; hồ Đầm Hà Động; Trường THPT chuyên Hạ Long…Làm tốt công tác chuẩn bị để đảm bảo tiến độ triển khai thực hiện công tác đầu tư xây dựng cơ bản năm 2009.

Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chủ trương xã hội hoá các lĩnh vực xã hội nhằm huy động các nguồn lực cho phát triển các lĩnh vực: giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao và các lĩnh vực xã hội khác.

Quan tâm đầu tư cho cấp học mầm non. Khuyến khích huy động mọi nguồn vốn của các thành phần kinh tế cả trong và ngoài nước đầu tư xây dựng các trường học, bệnh viện và các công trình dự án quan trọng trong các lĩnh vực này. Rà soát, bổ sung, hoàn chỉnh các chính sách có liên quan tới đất đai, giải phóng mặt bằng, thuế, phí,... đối với hoạt động đầu tư vào các lĩnh vực nói trên.

5. Nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế để tận dụng cơ hội phát triển.

Các cấp, các ngành cần triển khai thực hiện nghiêm túc các cam kết gia nhập và các nghĩa vụ khác của nước ta trong Tổ chức thương mại Thế giới (WTO), nhất là các cam kết về lĩnh vực đầu tư, thương mại và dịch vụ. Chủ động trong quá trình triển khai thực hiện các cam kết quốc tế đối với từng ngành, lĩnh vực và sản phẩm cụ thể.

Tiếp tục nâng cao chất lượng hàng xuất khẩu, bên cạnh các mặt hàng xuất khẩu truyền thống cần quan tâm phát triển thêm các mặt hàng xuất khẩu mới có giá trị xuất khẩu cao…góp phần tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn.

Đẩy mạnh công tác vận động, thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các dự án, công trình trọng điểm về kinh tế - xã hội. Tăng cường các hoạt động hợp tác, liên doanh liên kết trong đầu tư; tạo môi trường thuận lợi để các nhà đầu tư nước ngoài đến đầu tư, tìm hiểu cơ hội đầu tư tại Quảng Ninh.

6. Đẩy mạnh cải cách hành chính, phát huy hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước, tăng cường công tác phòng chống tham nhũng.

Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính, bảo đảm cho nhiệm vụ quan trọng này tiếp tục chuyển biến, thực sự phục vụ người dân và doanh nghiệp. Nâng cao vai trò và hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế. Đẩy mạnh áp dụng các biện pháp hiện đại hóa nền hành chính.

Triển khai thực hiện đồng bộ các văn bản của Trung ương và tỉnh về phòng chống tham nhũng, chống lãng phí. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng các cấp. Kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, nhất là trong các lĩnh vực quản lý đất đai, đầu tư xây dựng cơ bản, quản lý vốn, tài sản của Nhà nước. Xử lý nghiêm minh các vụ, việc vi phạm. Đề cao trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu cơ quan, đơn vị   trong đấu tranh chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

7. Bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội

Tăng cường củng cố quốc phòng an ninh, giữ vững chủ quyền và trật tự an toàn xã hội. Tiếp tục thực hiện kết hợp giữa quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế - xã hội , tạo môi trường chính trị xã hội ổn định cho phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế. Giảm thiểu tai nạn giao thông, tai nạn lao động và các tệ nạn xã hội.  

Thực hiện tốt công tác tiếp dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân; tăng cường trách nhiệm trong giải quyết khiếu nại, tố cáo, giải toả đền bù đất đai nhằm đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân.

8. Nâng cao chất lượng công tác tư tưởng, thông tin và tuyên truyền.

 Trong bối cảnh tình hình có những diễn biến bất thường, khó lường trước, tiếp tục làm tốt công tác tư tưởng, thông tin và tuyên truyền; đoàn kết, thống nhất trong các cấp uỷ Đảng, chính quyền, tạo sự đồng thuận trong nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp, tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức, phấn đấu thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2009./.



[1] Nhiệt điện Quảng Ninh vận hành sản xuất Tổ máy 1-300 MW vào tháng 2/2009, Tổ máy 2 -300 MW vào tháng 9/2009; điện Cẩm Phả giai đoạn I-300 MW sản xuất vào tháng 4/2009; các nhà máy xi măng: Thăng Long, Hạ Long đi vào sản xuất ổn định từ đầu năm 2009,…


Bản đồ
Tin tiêu điểm
Website liên kết
Câu hỏi khảo sát

Theo bạn nội dung cung cấp trên cổng thông tin điện tử như thế nào?


Thống kê truy cập
Hôm nay: 27406
Đã truy cập: 14200481

© Cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Ninh

Giấy phép xuất bản: số 53/GP-TTĐT ngày 27/05/2015 - Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử - Bộ Thông tin và Truyền thông.

- Cơ quan chủ quản: Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

- Cơ quan quản lý nhà nước và thường trực kỹ thuật: Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh.

- Quản lý nội dung trang chủ: Trung tâm Truyền thông tỉnh.

- Quản lý nội dung các Cổng thành phần: Thủ trưởng các cơ quan, tổ chức. 

Ghi rõ nguồn "Quảng Ninh Portal" khi phát hành lại thông tin từ  Website này.