Chương trình hành động số 07-CTr/TU ngày 24/8/2021 của BTVTU thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 16/8/2021 của Bộ Chinh trị

23/09/2021 10:29

Ngày 24/8/2021 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Chương trình hành động số 07-CTr/TU  thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 16/8/2021 của Bộ Chinh trị về “đổi mới tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam trong tình hình mới”. Cổng thông tin điện tử thành phần Ban Dân vận Tỉnh ủy xin đăng toàn văn Chương trình hành động.

Thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 12/6/2021 của Bộ Chính trị về “Đổi mới tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam trong tình hình mới” (Nghị quyết số 02-NQ/TW) và xuất phát từ đặc điểm, tình hình thực tiễn của tỉnh Quảng Ninh, Ban Thường vụ Tỉnh ủy xây dựng Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/TW với những nội dung như sau:

I- QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU

  1. Quan điểm

- Quán triệt sâu sắc quan điểm chỉ đạo của Đảng tại Nghị quyết số 02-NQ/TW về “Đổi mới tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam trong tình hình mới”; xác định xây dựng tổ chức Công đoàn vững mạnh và xây dựng đội ngũ công nhân Quảng Ninh hiện đại, lớn mạnh, phát huy truyền thống “kỷ luật và đồng tâm”, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới là nhiệm vụ chính trị quan trọng của các cấp ủy đảng, chính quyền, hệ thống chính trị và toàn xã hội.

- Đổi mới tổ chức và hoạt động Công đoàn phải bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của các cấp ủy đảng, phù hợp với thể chế chính trị đất nước, yêu cầu hội nhập quốc tế, với Luật Công đoàn Việt Nam và Điều lệ Công đoàn Việt Nam. Xây dựng tổ chức Công đoàn vững mạnh góp phần quan trọng xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa.

- Đổi mới tổ chức và hoạt động Công đoàn phải phù hợp với số lượng, cơ cấu lao động, nhu cầu, nguyện vọng của công nhân, người lao động và yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh; phát huy vai trò đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, người lao động.

- Đổi mới phải bám sát thực tiễn, năng động, sáng tạo, lựa chọn nhiệm vụ có trọng tâm, trọng điểm và tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả; tập trung hoàn thiện cơ chế, chính sách, tạo nguồn lực đủ mạnh để Công đoàn thực hiện tốt nhiệm vụ; bảo đảm tính kế thừa, ổn định, có lộ trình phù hợp, vững chắc.

  1. Mục tiêu

2.1. Mục tiêu tổng quát: Xây dựng tổ chức Công đoàn tỉnh Quảng Ninh vững mạnh toàn diện, có năng lực thích ứng và giải quyết các vấn đề đặt ra, thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ trong tình hình mới; chăm lo phát triển đoàn viên và xây dựng tổ chức công đoàn vững mạnh, tăng nhanh về số lượng, tạo chuyển biến mạnh về chất lượng; giữ vững truyền thống công nhân vùng mỏ; nâng cao vai trò và chất lượng hoạt động của tổ chức công đoàn các cấp, chú trọng trong các khu công nghiệp, khu kinh tế, doanh nghiệp ngoài nhà nước. Xây dựng tổ chức Công đoàn thực sự là cơ sở chính trị - xã hội vững chắc của Đảng bộ tỉnh, là cầu nối, giữ mối liên hệ mật thiết giữa các cấp ủy Đảng, chính quyền với công nhân, người lao động; xứng đáng là tổ chức đại diện lớn nhất, trung tâm tập hợp, đoàn kết công nhân và người lao động; đóng góp tích cực vào phong trào công nhân, viên chức, lao động và hoạt động Công đoàn của cả nước. Đào tạo đội ngũ công nhân có tay nghề cao, người lao động có kỹ năng gắn với tăng quy mô và nâng cao chất lượng dân số, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững của tỉnh, góp phần xây dựng đội ngũ công nhân Vùng mỏ hiện đại, lớn mạnh, là lực lượng tiên phong trong xây dựng Quảng Ninh trở thành tỉnh dịch vụ, công nghiệp hiện đại, là một trong những trung tâm phát triển năng động, toàn diện của phía Bắc.

2.2. Mục tiêu cụ thể

- Đến năm 2025: Phấn đấu có 270.000 đoàn viên công đoàn, hầu hết doanh nghiệp có 25 công nhân, lao động trở lên có tổ chức Công đoàn; có 80% trở lên các doanh nghiệp, đơn vị có tổ chức Công đoàn ký kết được thỏa ước lao động tập thể; có ít nhất 70% số vụ việc của đoàn viên, tổ chức Công đoàn có nhu cầu tư vấn, tranh tụng sẽ có đại diện công đoàn tham gia; 100% các khu công nghiệp, khu kinh tế có thiết chế công đoàn.

- Đến năm 2030: Phấn đấu có 300.000 đoàn viên công đoàn; nơi chưa có tổ chức đại diện người lao động thì phần lớn người lao động được tập hợp, tham gia một số hoạt động của Công đoàn Việt Nam; có 85% trở lên các doanh nghiệp, đơn vị có tổ chức Công đoàn ký kết được thỏa ước lao động tập thể; có ít nhất 90% số vụ việc của đoàn viên, tổ chức Công đoàn có nhu cầu tư vấn, tranh tụng sẽ có đại diện công đoàn tham gia.

- Đến năm 2045: Hầu hết người lao động tại cơ sở là đoàn viên Công đoàn Việt Nam; phấn đấu 99% doanh nghiệp, đơn vị có tổ chức công đoàn ký kết được thỏa ước lao động tập thể; có ít nhất 99% số vụ việc của đoàn viên, tổ chức công đoàn có nhu cầu tư vấn, tranh tụng có đại diện công đoàn tham gia.

II- NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

  1. Đổi mới công tác tập hợp, vận động, phát triển đoàn viên, thành lập công đoàn cơ sở

- Các cấp công đoàn tăng cường đổi mới, triển khai các giải pháp nâng cao hiệu quả phát triển đoàn viên, thành lập công đoàn cơ sở; đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền, vận động; xây dựng, triển khai nhân rộng các mô hình hoạt động thiết thực, hiệu quả, để người lao động thấy rõ lợi ích của mình khi trở thành đoàn viên để thu hút, tập hợp người lao động gia nhập tổ chức Công đoàn. Quan tâm phát triển đoàn viên ở khu vực lao động phi chính thức.

- Đổi mới công tác vận động, thuyết phục để người sử dụng lao động hiểu đúng về tổ chức Công đoàn Việt Nam, đồng thuận thành lập Công đoàn tại cơ sở; bảo đảm quyền của người lao động được tham gia hoạt động trong tổ chức Công đoàn theo quy định của pháp luật, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người lao động và sự phát triển của doanh nghiệp.

- Tổ chức, khảo sát, điều tra, dự báo tình hình công nhân lao động và doanh nghiệp chưa có tổ chức Công đoàn để xây dựng kế hoạch vận động, phát triển đoàn viên, thành lập Công đoàn cơ sở; gắn nâng cao chất lượng hoạt động tạo động lực thúc đẩy công tác phát triển tổ chức và tập hợp đoàn viên. Nghiên cứu, áp dụng, triển khai các phương thức, mô hình tập hợp đoàn viên, thành lập Công đoàn cơ sở thích ứng với tình hình thực tế để nhanh chóng phát triển tổ chức Công đoàn không để khoảng trống, khoảng trắng ở những địa bàn trọng điểm, các khu công nghiệp và khu kinh tế.

- Cụ thể hóa quy trình, thủ tục kết nạp đoàn viên, thành lập Công đoàn cơ sở theo quy định của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam theo hướng linh hoạt, chủ động, kịp thời, thiết thực, phù hợp với thực tế. Phấn đấu thành lập Công đoàn cơ sở ở hầu hết các doanh nghiệp có từ 25 lao động trở lên, nơi có quan hệ lao động phức tạp; có mô hình phù hợp thu hút, tập hợp, bảo vệ người lao động ở khu vực phi chính thức.

  1. Sắp xếp, đổi mới mô hình tổ chức Công đoàn các cấp; xây dựng đội ngũ cán bộ công đoàn chuyên nghiệp, đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới

2.1. Sắp xếp, đổi mới mô hình tổ chức Công đoàn các cấp

- Tiếp tục nâng cao hiệu quả mô hình tổ chức Công đoàn trên cơ sở hoàn thiện và triển khai Đề án “Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy hệ thống chính trị tỉnh Quảng Ninh theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực hiệu quả; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín ngang tầm nhiệm vụ giai đoạn 2020 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030”. Sắp xếp mô hình tổ chức Liên đoàn Lao động cấp tỉnh, cấp huyện, Công đoàn ngành theo Quy định số 212-QĐ/TW ngày 30/12/2019 của Ban Bí thư về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế cơ quan chuyên trách của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội cấp tỉnh, cấp huyện và phù hợp với thực tiễn của tỉnh Quảng Ninh. Xây dựng mô hình tổ chức công đoàn theo hướng mở, linh hoạt, năng động nhằm giải quyết kịp thời nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của đoàn viên, người lao động. 

- Nghiên cứu, đổi mới mô hình tổ chức Liên đoàn Lao động cấp huyện, thí điểm mô hình công đoàn khu vực ở một số địa phương có ít doanh nghiệp, ít công nhân lao động, ít đoàn viên để tập trung nguồn lực, nâng cao hiệu quả hoạt động của công đoàn địa phương. Củng cố, phát triển Công đoàn ngành theo hướng tập trung, tinh gọn và hiệu quả, tập hợp đoàn viên thuộc các đơn vị, doanh nghiệp có yếu tố ngành nghề cao để tăng cường chỉ đạo hoạt động công đoàn mang tính ngành nghề.

- Đổi mới mô hình tổ chức, hoạt động công đoàn trong các khu công nghiệp, khu kinh tế; tiếp tục thí điểm các mô hình mới như: Văn phòng đại diện, trung tâm tư vấn và hỗ trợ người lao động tại các khu công nghiệp, khu kinh tế, nơi có đông công nhân lao động, nơi tiềm ẩn quan hệ lao động phức tạp… Nghiên cứu mô hình, phương thức hoạt động phù hợp với sự phát triển đoàn viên, Công đoàn cơ sở trong các khu công nghiệp, khu kinh tế, nhất là trong các doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài, để trực tiếp hỗ trợ, tư vấn, giải quyết kịp thời các vấn đề phát sinh trong quan hệ lao động, hoạt động công đoàn.

- Điều chỉnh nhiệm vụ của các cấp công đoàn theo hướng tập trung vào các nhiệm vụ cốt lõi, phù hợp với đặc thù từng cấp và sự phát triển của thị trường lao động; có sự khác biệt về nhiệm vụ giữa Công đoàn cơ sở tại doanh nghiệp có đông đoàn viên và Công đoàn cơ sở tại doanh nghiệp có dưới 25 đoàn viên.

- Chỉ đạo rà soát, chuyển về Liên đoàn Lao động tỉnh quản lý những công đoàn cơ sở trong các doanh nghiệp thuộc các tập đoàn, tổng công ty đã cổ phần hóa, vốn nhà nước không chi phối.

2.2. Về xây dựng đội ngũ cán bộ công đoàn chuyên nghiệp, đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới

- Tăng cường công tác lãnh đạo của cấp ủy; sự phối hợp, tạo điều kiện của chính quyền, các cơ quan chuyên môn trong xây dựng đội ngũ cán bộ công đoàn bảo đảm về số lượng, nâng cao về chất lượng, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt các cấp, có trí tuệ, bản lĩnh, tâm huyết, trách nhiệm, uy tín, có năng lực đối thoại, dẫn dắt, truyền cảm hứng, tập hợp, đoàn kết người lao động. Cơ cấu cấp uỷ các cấp có tỷ lệ hợp lý người trưởng thành từ công nhân, công đoàn. Cấp uỷ thống nhất với công đoàn cấp trên trong công tác tổ chức cán bộ, đặc biệt là khi đề bạt, điều động, luân chuyển Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở, đảm bảo tính ổn định và phát triển. Quan tâm công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ Công đoàn các cấp về trình độ lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng hoạt động. Công đoàn chủ động giới thiệu, đề xuất với cấp ủy những cán bộ công đoàn đủ điều kiện, tiêu chuẩn, năng lực để đề bạt, điều động, luân chuyển giữ vị trí chủ chốt các cấp.

- Nghiên cứu, hoàn thiện các quy định, quy chế về công tác cán bộ Công đoàn trong tình hình mới đảm bảo tính đặc thù, cơ chế ưu tiên phù hợp để tuyển dụng cán bộ công đoàn trưởng thành từ cơ sở, từ phong trào công nhân; thu hút, tạo động lực cho cán bộ công đoàn; giao biên chế cho Công đoàn hợp lý, đảm bảo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ và tình hình thực tế.

  1. Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động công đoàn phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng của đoàn viên, người lao động và yêu cầu hội nhập quốc tế

- Công đoàn các cấp tiếp tục đổi mới phương thức chỉ đạo và tổ chức hoạt động công đoàn hướng về cơ sở, phù hợp với từng đối tượng đoàn viên, người lao động; lấy nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của tập thể đoàn viên, người lao động làm cơ sở xác định nội dung; lấy việc đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động làm mục tiêu hoạt động; nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của đoàn viên để có phương thức hoạt động phù hợp, đảm bảo sức hấp dẫn, tính thu hút, tiết kiệm nguồn lực, thiết thực, hiệu quả, nâng cao uy tín và sức mạnh của tổ chức công đoàn.

- Tăng cường bồi dưỡng, rèn luyện, nâng cao nhận thức và bản lĩnh chính trị, giác ngộ giai cấp, tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc, truyền thống “kỷ luật, đồng tâm” của công nhân Vùng mỏ; bồi dưỡng trình độ (chính trị, kiến thức, kỹ năng hoạt động, tay nghề, ngoại ngữ…), tác phong công nghiệp, hiểu biết pháp luật, kỷ luật lao động... cho đoàn viên, người lao động. Có biện pháp phù hợp trong phòng ngừa, ngăn chặn việc lợi dụng, lôi kéo, kích động công nhân, người lao động đình công trái pháp luật, biểu tình, gây rối, làm mất an ninh, trật tự. Đổi mới công tác tuyên truyền, phổ biến, kết hợp đối thoại, tư vấn pháp luật có liên quan trực tiếp đến đoàn viên, người lao động thông qua các điểm tư vấn pháp luật tại các khu công nghiệp, các doanh nghiệp có đông lao động; trực tiếp giải đáp, tháo gỡ những khó khăn, bất cập nảy sinh trong việc thực hiện chính sách pháp luật lao động ngay tại cơ sở. Tăng cường tư vấn, đối thoại trực tiếp theo nhu cầu của người lao động, theo từng nhóm đối tượng; tư vấn trực tuyến thông qua các kênh truyền thông của công đoàn.

- Hoạt động công đoàn các cấp phải gắn với cơ sở; kịp thời nắm chắc tình hình doanh nghiệp, tâm tư, nguyện vọng của người lao động; thường xuyên, chủ động phối hợp với người sử dụng lao động, đảm bảo điều kiện làm việc, học tập, đào tạo bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ, tay nghề, quyền, lợi ích hợp pháp và chính đáng cho đoàn viên, người lao động; kịp thời đề xuất, thương lượng, đối thoại, tham gia giải quyết những vấn đề bức xúc, mâu thuẫn phát sinh trong quan hệ lao động; xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ tại doanh nghiệp. Tập trung phối hợp chỉ đạo, hướng dẫn xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ trong cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp; chú trọng hỗ trợ kỹ năng đối thoại, thương lượng tập thể, nhất là thương lượng về tiền lương, thương lượng thỏa ước lao động tập thể.

- Đổi mới căn bản hoạt động chăm lo cho đoàn viên, người lao động theo hướng đảm bảo quyền lợi an sinh - xã hội cho đoàn viên, người lao động; giảm các nhiệm vụ không liên quan trực tiếp đến chức năng đại diện trong phạm vi quan hệ lao động. Tập trung thực hiện tốt chức năng đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, công nhân lao động. Triển khai thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 14/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ “Về đảm bảo việc làm bền vững, nâng cao mức sống, cải thiện điều kiện làm việc của công nhân lao động”; quan tâm dành nguồn lực chăm lo, hỗ trợ cho đoàn viên, người lao động có hoàn cảnh khó khăn do ảnh hưởng bởi thiên tai, dịch bệnh, bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, bệnh hiểm nghèo; quan tâm đầu tư, xây dựng các thiết chế phục vụ công nhân lao động, đặc biệt là tạo quỹ đất để phát triển nhà ở, nhà trẻ, bệnh viện, khu vui chơi giải trí cho công nhân và con công nhân. Từ đó thu hút nhân lực chất lượng cao, dân cư đô thị, công nhân ngành Than, lao động trong các khu công nghiệp, khu kinh tế, người lao động có thu nhập thấp.

- Đổi mới mạnh mẽ, thực chất hơn tổ chức và hoạt động của các cấp công đoàn, đáp ứng yêu cầu của hội nhập quốc tế sâu rộng và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Đặc biệt là đổi mới phương thức hoạt động theo hướng khoa học, sáng tạo, phù hợp với từng đối tượng đoàn viên, người lao động, tập trung nguồn lực cho các nhiệm vụ trọng tâm, cốt lõi; thực hiện quy chế dân chủ trong cơ quan đơn vị gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương, hướng về cơ sở, coi trọng công tác phối hợp; tăng cường, nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát và phản biện xã hội. Đẩy mạnh cải cách hành chính và ứng dụng công nghệ thông tin. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ của các tổ chức công đoàn, người sử dụng lao động trong chấp hành, thực hiện chính sách pháp luật lao động tại các cơ quan, doanh nghiệp; đề xuất, kiến nghị các cấp, các ngành những giải pháp nhằm khắc phục tồn tại, hạn chế, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện chính sách, pháp luật... góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, người lao động, của doanh nghiệp và nâng cao chất lượng công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực lao động, công đoàn.

- Đổi mới việc phát động và triển khai phong trào thi đua theo hướng thiết thực, hiệu quả, phù hợp từng đối tượng, lĩnh vực. Đẩy mạnh các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước trong công nhân lao động, trọng tâm là phong trào thi đua “Lao động giỏi, lao động sáng tạo” góp phần tăng năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, hiệu quả sản xuất kinh doanh, nâng cao đời sống, thu nhập cho người lao động. Kịp thời biểu dương, khen thưởng các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc, khen thưởng người lao động trực tiếp và các tập thể lao động quy mô nhỏ. Chú trọng phát hiện, nhân rộng điển hình tiên tiến, mô hình hoạt động sáng tạo, hiệu quả trong các cấp công đoàn.

- Tích cực đổi mới phương pháp, tác phong công tác của cán bộ công đoàn, nhất là cấp cơ sở và cấp trên trực tiếp cơ sở; tăng cường kết nối, hỗ trợ giữa Công đoàn cấp trên với Công đoàn cấp dưới; giữa Công đoàn cơ sở với đoàn viên, người lao động; kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, hình thức và bệnh thành tích trong hoạt động Công đoàn... Tăng cường tự kiểm tra, giám sát trong nội bộ. Quan tâm tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về công nhân, công đoàn trong tình hình mới. Làm tốt công tác dự báo, kịp thời xử lý các tình huống, vấn đề mới phát sinh.

- Tăng cường hoạt động nữ công các cấp công đoàn, nhất là ở các doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước, chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nữ công chức, viên chức, lao động; động viên, phát huy vai trò của nữ công chức, viên chức, lao động ở cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp cũng như trong gia đình. Đẩy mạnh việc thành lập, kiện toàn gắn với nâng cao chất lượng hoạt động của Ban Nữ công quần chúng tại các doanh nghiệp.

  1. Tăng cường các giải pháp quản lý tài chính, đảm bảo nguồn tài chính đủ mạnh để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của tổ chức công đoàn

- Kịp thời rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định, quy chế về quản lý sử dụng tài chính Công đoàn phù hợp với các quy định pháp luật Nhà nước và hướng dẫn của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam; đảm bảo công khai, minh bạch, kịp thời, đáp ứng yêu cầu hoạt động Công đoàn trong tình hình mới.

- Duy trì các nguồn lực hiện có; khuyến khích xã hội hóa để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Các cấp ủy đảng quan tâm chỉ đạo, tăng cường sự phối hợp của các cơ quan chức năng (ngành lao động, thuế, bảo hiểm), triển khai quyết liệt các giải pháp để thu đúng, thu đủ và kịp thời, chống thất thu kinh phí và đoàn phí công đoàn. Tăng cường kiểm tra, kiến nghị xử lý vi phạm trong công tác thu kinh phí công đoàn tại các doanh nghiệp.

- Sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn tài chính, tài sản công đoàn; ưu tiên nguồn lực thực hiện nhiệm vụ chăm lo, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của đoàn viên, người lao động, hạn chế tổ chức các hoạt động bề nổi, hình thức, tốn kém. Tăng cường kiểm tra, thanh tra, kiểm toán và giám sát tài chính, tài sản công đoàn. Chủ động, tích cực đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí và tiêu cực trong các cấp công đoàn; chấn chỉnh kịp thời, xử lý nghiêm các vi phạm trong công tác quản lý, sử dụng tài chính, tài sản.

- Tăng cường công tác quản lý, rà soát, sắp xếp, đổi mới các đơn vị kinh tế và đơn vị sự nghiệp theo Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về “Tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập”, tăng cường phương thức đặt hàng các đơn vị sự nghiệp, hoàn thiện các cơ chế, chính sách để huy động mọi nguồn lực xã hội góp phần tạo nguồn lực cho hoạt động công đoàn.

  1. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng đối với tổ chức và hoạt động công đoàn; phát huy vai trò nòng cốt của tổ chức Công đoàn trong tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện

- Bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của các cấp Công đoàn, các cấp ủy Đảng tạo điều kiện để tổ chức Công đoàn thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, tôn chỉ mục đích của mình; khắc phục tình trạng giao nhiệm vụ không phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của tổ chức công đoàn ở các địa phương, đơn vị, đặc biệt là những nhiệm vụ không liên quan trực tiếp đến xây dựng quan hệ lao động trong doanh nghiệp, đơn vị.

- Các cấp ủy, tổ chức Đảng thường xuyên lãnh đạo các cấp chính quyền phối hợp với tổ chức Công đoàn, tăng cường công tác quản lý Nhà nước về thành lập và hoạt động của tổ chức đại diện của người lao động tại doanh nghiệp đảm bảo đúng tôn chỉ, mục đích, tuân thủ các quy định pháp luật; lắng nghe tâm tư, nguyện vọng, chỉ đạo giải quyết kịp thời các kiến nghị chính đáng của đoàn viên, người lao động; phòng ngừa việc lợi dụng xâm phạm lợi ích của người lao động và doanh nghiệp, gây mất an ninh trật tự trên địa bàn tỉnh.

- Tập trung lãnh đạo công tác phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức đảng, tổ chức chính trị - xã hội trong doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước; nâng cao hiệu quả Đảng lãnh đạo tổ chức Công đoàn tại doanh nghiệp; thành lập tổ chức Công đoàn để tạo tiền đề thành lập tổ chức đảng, đoàn thể khác trong doanh nghiệp. Ở các đơn vị, doanh nghiệp chưa có tổ chức đảng, Đảng lãnh đạo tổ chức công đoàn thông qua công đoàn cấp trên trực tiếp; cán bộ công đoàn các cấp, trước hết là cán bộ công đoàn cơ sở có nhiệm vụ tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến đoàn viên, người lao động. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo công tác phát triển đảng viên; quan tâm bồi dưỡng, giới thiệu công nhân, người lao động đủ tiêu chuẩn vào Đảng.

- Các cấp uỷ phối hợp thường xuyên, chặt chẽ với công đoàn cấp trên trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác tổ chức, cán bộ và hoạt động công đoàn cấp mình; tổ chức ký kết quy chế phối hợp công tác để có sự phối hợp chặt chẽ, thường xuyên trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở và công đoàn cơ sở. Định kỳ hằng năm và khi cần thiết, ban thường vụ hoặc ban chấp hành cấp uỷ (nơi không có ban thường vụ) làm việc với ban chấp hành Công đoàn cùng cấp để nắm tình hình hoạt động, chỉ đạo, định hướng nhiệm vụ thời gian tiếp theo; tổ chức gặp gỡ, đối thoại giữa người đứng đầu cấp ủy với tổ chức Công đoàn và công nhân lao động ít nhất 01 lần để lắng nghe tâm tư, nguyện vọng, chỉ đạo giải quyết kịp thời các kiến nghị chính đáng của đoàn viên, người lao động.

- Tăng cường kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết việc thực hiện nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng về công nhân, công đoàn. Phát huy trách nhiệm nêu gương của đảng viên là cán bộ công đoàn, nhất là người đứng đầu. Đảng viên làm việc trong các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp có đủ điều kiện phải tham gia tổ chức Công đoàn và gương mẫu, tích cực tham gia các hoạt động của Công đoàn.

- Phát huy vai trò nòng cốt của tổ chức Công đoàn trong tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, toàn diện. Các cấp công đoàn phối hợp với cơ quan chức năng tham gia vào quá trình thực thi pháp luật, bảo đảm để tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp ra đời và hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích, tuân thủ pháp luật; phòng ngừa, ngăn chặn việc lợi dụng tổ chức đại diện của người lao động tại doanh nghiệp để xâm phạm quyền, lợi ích của người lao động và doanh nghiệp, gây mất an ninh, trật tự. Tích cực tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, thường xuyên và kiên quyết đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch chống phá Đảng và tổ chức Công đoàn, gắn với thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực, quan liêu, tham nhũng, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cấp ủy đảng, chính quyền và công đoàn các cấp; tham gia giám sát, phản biện xã hội đối với hoạt động của cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nhằm phát hiện, kiến nghị xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền theo theo Quyết định số 217-QĐ/TW, Quyết định số 218-QĐ/TW ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị.

  1. Hoàn thiện cơ chế chính sách; tăng cường và nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội với Công đoàn

- Tiếp tục rà soát, hoàn thiện, bổ sung các cơ chế, chính sách, chương trình, đề án có liên quan đến tổ chức và hoạt động của Công đoàn; đảm bảo các điều kiện phát huy hiệu quả và chất lượng hoạt động của các cấp Công đoàn.

- Đổi mới, nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước về lao động và tổ chức đại diện của người lao động. Cơ quan quản lý Nhà nước các cấp tích cực phối hợp với Công đoàn tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách pháp luật về lao động, công đoàn. Xử lý nghiêm theo quy định các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân vi phạm pháp luật về lao động và công đoàn, bảo hiểm xã hội, an toàn vệ sinh lao động.

- Ủy ban Nhân dân tỉnh, các sở, ban, ngành liên quan và chính quyền các cấp tăng cường phối hợp với Công đoàn; xây dựng các chương trình, quy chế phối hợp, kế hoạch hoạt động nhằm chăm lo, đảm bảo quyền lợi cho người lao động; hỗ trợ tạo điều kiện để Công đoàn hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích, thiết thực, hiệu quả. Đẩy mạnh công tác phối hợp đảm bảo an ninh, trật tự tại các khu công nghiệp, các doanh nghiệp có đông công nhân, doanh nghiệp ngoài Nhà nước.

- Các cấp chính quyền có cơ chế huy động, bố trí nguồn lực tài chính thỏa đáng để nâng cao phúc lợi, chăm lo, giải quyết những vấn đề khó khăn, bức xúc của người lao động, đầu tư, xây dựng các thiết chế phục vụ công nhân lao động; xử lý các tình huống đột xuất ảnh hưởng đến việc làm, thu nhập của người lao động.

- Quản lý tốt sự ra đời, bảo đảm hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích của các tổ chức, của người lao động tại doanh nghiệp; có các biện pháp phù hợp, hiệu quả để thu hút, vận động, định hướng tổ chức này gia nhập tổ chức Công đoàn. Tăng cường tuyên truyền để người sử dụng lao động, công nhân, người lao động nhận diện các hành vi lợi dụng việc thành lập và hoạt động của tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp để xâm phạm an ninh quốc gia, gây mất an ninh, trật tự.

- Công đoàn chủ động phối hợp với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội đổi mới, nâng cao chất lượng các chương trình phối hợp, thỏa thuận hợp tác có tính lâu dài, toàn diện, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động công đoàn, huy động các nguồn lực chăm lo lợi ích cho đoàn viên; tiếp tục phát triển các mô hình hoạt động hiệu quả như: Chương trình “Phúc lợi đoàn viên”; Chương trình “Tết Sum vầy”, hoạt động “Tháng Công nhân”, “Tháng hành động An toàn vệ sinh lao động” và các quỹ do tổ chức công đoàn quản lý. Phối hợp tiến hành giám sát và phản biện xã hội và trong vận động, tập hợp đoàn viên công đoàn, người lao động.

III- TỔ CHỨC THỰC HIỆN

  1. Các cấp uỷ Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị xã - hội tổ chức nghiên cứu, quán triệt, tuyên truyền đầy đủ, sâu rộng các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đã nêu trong Nghị quyết số 02-NQ/TW và Chương trình hành động của Tỉnh uỷ tới cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và Nhân dân trong tỉnh. Xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện Nghị quyết, cụ thể hóa, bổ sung các nội dung, chỉ tiêu nêu trong Chương trình hành động vào kế hoạch hằng năm của ngành, cơ quan, đơn vị, địa phương; tăng cường kiểm tra, đánh giá, định kỳ tổ chức sơ kết, tổng kết việc thực hiện.
  2. Đảng đoàn Hội đồng nhân dân tỉnh chỉ đạo rà soát, hoàn thiện, ban hành bổ sung các cơ chế, chính sách thu hút lao động, hỗ trợ đào tạo nghề, xây dựng đội ngũ công nhân lao động.
  3. Ban cán sự đảng UBND tỉnh cụ thể hóa nội dung Chương trình hành động của Tỉnh ủy thành kế hoạch cụ thể và chỉ đạo các sở, ngành, các địa phương triển khai thực hiện. Chỉ đạo thực hiện tốt quy chế phối hợp giữa UBND tỉnh với Liên đoàn lao động tỉnh và UBND cấp huyện với Liên đoàn lao động các địa phương. Thường xuyên chỉ đạo triển khai nghiêm túc Luật Công đoàn và các quy định liên quan đến việc thành lập tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội trong các loại hình doanh nghiệp.
  4. Ban Tổ chức Tỉnh ủy chủ trì, phối hợp với Đảng đoàn Liên đoàn Lao động tỉnh tham mưu cho Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành quy định về mối quan hệ phối hợp giữa Đảng đoàn Liên đoàn lao động tỉnh với cấp ủy địa phương trong việc lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng đội ngũ công nhân, viên chức, lao động; hoạt động của tổ chức công đoàn và xử lý tranh chấp lao động; cơ chế ưu tiên tuyển dụng cán bộ trưởng thành từ công nhân, từ hoạt động ở cơ sở.
  5. Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy chủ trì, phối hợp với Đảng đoàn Liên đoàn Lao động tỉnh hướng dẫn, tổ chức quán triệt, tuyên truyền sâu rộng nội dung Nghị quyết số 02-NQ/TW và Chương trình hành động của Tỉnh ủy đến các cấp ủy, tổ chức Đảng, lãnh đạo các cơ quan, đơn vị.
  6. Ban Dân vận Tỉnh ủy chủ trì, phối hợp với Đảng đoàn Liên đoàn Lao động tỉnh và các cơ quan liên quan thường xuyên theo dõi, đôn đốc, giám sát, kiểm tra việc triển khai thực hiện Nghị quyết ở các địa phương, đơn vị. Định kỳ báo cáo Ban Thường vụ Tỉnh ủy và Ban Dân vận Trung ương.

 

T/M BAN THƯỜNG VỤ

PHÓ BÍ THƯ

 

 

Ngô Hoàng Ngân


Tìm kiếm theo chuyên mục - nội dung - ngày tháng

Tin Nóng
Tin tiêu điểm

Lịch công tác trống

Website liên kết
Thống kê truy cập
Hôm nay: 163
Đã truy cập: 714991