Giới thiệu nội dung cơ bản Nghị quyết 01-NQ/TU của Tỉnh ủy Quảng Ninh

02/02/2021 21:40

Ngày 16/11/2020, Tỉnh ủy Quảng Ninh đã ban hành Nghị quyết số 01-NQ/TU “Về phát triển nhanh, bền vững ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giai đoạn 2020-2025, định hướng đến năm 2030”, Chi bộ cơ quan Ban Dân tộc xin được trân trọng giới thiệu đến các cán bộ, đảng viên nội dung cơ bản của Nghị quyết như sau:

 - Sự cần thiết ban hành Nghị quyết:

+ Cơ sở thực tiễn: Xuất phát từ yêu cầu hội nhập quốc tế; kinh nghiệm các nước đã thực hiện công nghiệp hóa (CNH) thành công và trở thành nước có thu nhập cao cho thấy, trong thời kỳ CNH, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo (CBCT) phải luôn duy trì mức đóng góp trong GDP từ 20-30% trở lên. Điều đó chứng minh công nghiệp CBCT chính  là con đường phát triển, là chìa khóa để tạo nên sự thịnh vượng của mỗi quốc gia.

 Năm 2020 là năm có nhiều khó khăn, thách thức lớn, bất ngờ xuất hiện, tác động xấu, nhiều mặt và ảnh hưởng rất nặng nề không chỉ đối với nước ta mà còn đối với toàn thế giới, nhất là ảnh hưởng của đại dịch COVID-19. Kinh tế toàn cầu rơi vào tình trạng suy thoái nặng nề, tăng trưởng âm tới gần 4%; thương mại thế giới sụt giảm nghiêm trọng; thị trường tài chính biến động bất thường, tiềm ẩn nhiều rủi ro. Thêm vào đó, dịch tả lợn Châu Phi, thiên tai, hạn hán, bão lũ, sạt lở đất… liên tiếp xảy ra, nhất là trong những tháng cuối năm ở miền Trung làm cho khó khăn chồng chất khó khăn. Mặc dù thế, Việt Nam vẫn hoàn thành “mục tiêu kép”.- Ngày 28/12/2020, tại hội nghị trực tuyến của Chính phủ với địa phương triển khai Nghị quyết của Quốc hội khóa XIV về nhiệm vụ phát triển KTXH năm 2021, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng phát biểu chỉ đạo, ghi nhận:

Kinh tế tăng trưởng dương, đạt 2,91%, góp phần làm cho GDP trong 5 năm vẫn tăng trung bình 5,9%/năm, được Tạp chí The Economist tháng 8/2020 xếp Việt Nam trong top 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất thế giới. Theo số liệu của Ngân hàng thế giới, với tăng trưởng kinh tế bình quân 6,8% một năm giai đoạn 2016 – 2019, Việt Nam nằm trong top 10 quốc gia tăng trưởng GDP cao nhất trong khu vực và trên thế giới; quy mô nền kinh tế tăng 1,4 lần so với đầu nhiệm kỳ, trở thành nền kinh tế có quy mô đứng thứ 4 trong ASEAN. Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu của Việt Nam năm 2020 được xếp thứ 42/131 nước, đứng đầu nhóm 29 quốc gia có cùng mức thu nhập. Xếp hạng về phát triển bền vững của Việt Nam đã tăng từ thứ 88 (năm 2016) lên thứ 49 (năm 2020), cao hơn nhiều so với các nước có cùng trình độ phát triển kinh tế.

 Trong thành tựu chung này, toàn ngành công nghiệp Việt Nam năm 2020 tăng 3,36% so với năm 2019, cao hơn tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế. Trong đó, công nghiệp CBCT đóng vai trò chủ chốt dẫn dắt tăng trưởng của nền kinh tế, với mức tăng 5,82%; chiếm 48% mức tăng trưởng chung của GDP Việt Nam và trở thành động lực tăng trưởng chính của toàn ngành công nghiệp.

+ Cơ sở lý luận: Từ Ðại hội Ðảng lần thứ VI (năm 1986) và Ðại hội Ðảng lần thứ VIII (năm 2001), chủ trương CNH, HĐH đất nước đã được đặt ra; đất nước ta chuyển sang một giai đoạn phát triển mới, giai đoạn đẩy mạnh phát triển CNH, HÐH. Sau 35 năm thực hiện đổi mới, nền kinh tế nước ta, sự nghiệp CNH, HĐH của nước ta có những thành công vượt bậc. Mục tiêu trở thành nước công nghiệp hiện đại của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập toàn cầu và sự phát triển không ngừng của cuộc CMCN 4.0, công cuộc CNH của Việt Nam cần phải nhìn xa hơn một “quá trình chuyển đổi nền sản xuất từ nông nghiệp là chủ yếu sang công nghiệp với trọng tâm là công nghiệp chế tác, chế tạo – với sản xuất lớn, nâng cao tỷ trọng của các ngành công nghiệp trong GDP cũng như tác động lan tỏa với toàn ngành, lĩnh vực khác”. Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định vai trò của công nghiệp CBCT trong nhiệm vụ góp phần quan trọng đưa đất nước ta hội nhập quốc tế.

 Xác định công nghiệp CBCT là một trong những ngành kinh tế quan trọng, động lực dẫn dắt tăng trưởng của toàn ngành công nghiệp. Tỉnh Quảng Ninh chủ trương đẩy mạnh phát triển công nghiệp CBCT trở thành một trong 3 trụ cột chính của ngành công nghiệp, động lực cho phát triển kinh tế của tỉnh.

- Kết quả đạt được, hạn chế, yếu kém và nguyên nhân:

+ Kết quả: Ngành công nghiệp CBCT của Quảng Ninh là một trong những ngành kinh tế quan trọng, đang từng bước khẳng định vai trò động lực trong phát triển kinh tế - xã hội; tốc độ tăng bình quân giai đoạn 2010 – 2020 đạt 12,5%/năm. Cơ cấu các ngành công nghiệp có sự chuyển dịch rõ nét, giá trị tăng thêm ngành công nghiệp CBCT tăng dần; tỷ trọng đóng góp vào GRDP toàn tỉnh tăng từ 6,7% năm 2010 lên 9,6% năm 2020. Đến năm 2020, quy mô ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 20.305 tỷ đồng, tăng gấp 5,5 lần so với năm 2010. Số lượng doanh nghiệp chế biến, chế tạo tăng nhanh, bình quân tăng 11,2%/năm; đến nay, toàn tỉnh có 841 doanh nghiệp (chiếm 81,8% tổng số doanh nghiệp toàn ngành công nghiệp), tăng 550 doanh nghiệp so với năm 2010. Số lao động trong ngành CBCT tăng từ 37.293 lao động năm 2010 lên 54.213 lao động năm 2020, góp phần tích cực thúc đẩy chuyển dịch lao động ở khu vực nông nghiệp, nông thôn. Tổng nguồn vốn đầu tư toàn ngành công nghiệp CBCT giai đoạn 2010 – 2019 đạt 68.997 tỷ đồng, chiếm 28,7% tổng vốn đầu tư ngành công nghiệp, chiếm 13,3% tổng vốn đầu tư xã hội toàn tỉnh.

Những năm gần đây hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của Tỉnh, nhất là hạ tầng giao thông đồng bộ, hiện đại thúc đẩy liên kết vùng và hợp tác quốc tế có bước phát triển đột phá, phát huy hiệu quả sau đầu tư; môi trường đầu tư kinh doanh, năng lực cạnh tranh cấp tỉnh không ngừng được cải thiện; niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp và xã hội tăng lên, cùng với đà tăng trưởng liên tục trong nhiều năm liền đã tạo tiền đề, nền tảng căn bản để tỉnh Quảng Ninh tiếp tục đổi mới, hội nhập, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nhanh, bền vững trong những năm tiếp theo, tạo ra động lực phát triển mới thu hút mạnh mẽ các nguồn lực và nhà đầu tư, dự án phát triển công nghiệp CBCT.

+ Hạn chế, yếu kém: Ngành công nghiệp CBCT phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của địa phương; đa số dự án có quy mô vốn nhỏ, số dự án có công nghệ tiên tiến, hàm lượng chất xám, giá trị gia tăng cao chiếm tỷ lệ còn ít, chưa phát triển đột phá công nghiệp sạch, công nghệ cao; hiệu quả sản xuất kinh doanh của một số dự án đầu tư chưa cao, chưa có những doanh nghiệp công nghiệp lớn, thương hiệu mạnh tham gia sâu vào chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị trong nước cũng như toàn cầu. Công nghiệp CBCT chưa đóng vai trò động lực cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững của Tỉnh trong thời gian qua; tỷ trọng đóng góp trong GRDP và thu ngân sách địa phương còn nhỏ. Hiệu quả của khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong công nghiệp CBCT còn thấp, phần lớn là các dự án còn thâm dụng lao động, tiêu hao nhiều năng lượng, giá trị gia tăng thấp. Các khu công nghiệp chủ yếu phát triển theo mô hình đa ngành, chưa có sự liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp trong khu công nghiệp để tạo nên cụm sản xuất quy mô lớn; chất lượng cung cấp dịch vụ cho các doanh nghiệp trong khu công nghiệp còn nhiều mặt hạn chế. Hạ tầng trong khu công nghiệp và hạ tầng ngoài hàng rào khu công nghiệp chưa được quy hoạch bài bản và xây dựng đồng bộ; nguồn nhân lực chất lượng cao có mặt chưa đáp ứng được yêu cầu; còn thiếu các thiết chế văn hóa- xã hội thiết yếu.

+ Nguyên nhân: Những hạn chế, yếu kém trên do nhiều nguyên nhân, gồm cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, song chủ yếu do nguyên nhân chủ quan là: Nhận thức của các cấp ủy, chính quyền, doanh nghiệp và cộng đồng về phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo còn chưa đầy đủ, nhất quán. Năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác thu hút, quản lý đầu tư nước ngoài, dự án công nghiệp chế biến, chế tạo còn hạn chế, khả năng phân tích, dự báo còn bất cập. Công tác quy hoạch chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển; cơ chế, chính sách còn thiếu tính chiến lược, tổng thể, đồng bộ, thống nhất. Môi trường đầu tư kinh doanh, năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, ba khâu đột phá chiến lược tuy đã được cải thiện đáng kế, nhưng vẫn còn hạn chế; công tác xúc tiến, thu hút đầu tư vào ngành công nghiệp CBCT còn bất cập, phân tán, hiệu quả thấp.

- Quan điểm, định hướng phát triển:

+ Công nghiệp chế biến, chế tạo ngày càng đóng vai trò chủ đạo, động lực của khu vực công nghiệp, tạo ra giá trị gia tăng lớn đóng góp vào tăng trưởng kinh tế và thu ngân sách nhà nước; là nguồn cung việc làm dài hạn và thu nhập ổn định, thúc đẩy chuyển dịch thu hút lao động, tăng quy mô và chất lượng dân số của Tỉnh.

+  Phát triển nhanh, bền vững ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có trọng tâm, trọng điểm dựa trên tiềm năng khác biệt, cơ hội nổi trội, lợi thế cạnh tranh của Tỉnh và từng địa phương gắn với các chiến lược, quy hoạch; đặc biệt là tận dụng tối đa các cơ chế, chính sách ưu đãi đối với các khu công nghiệp, khu kinh tế để thu hút có chọn lọc các nhà đầu tư, các dự án công nghiệp chế biến, chế tạo theo phương châm lấy chất lượng, hiệu quả, công nghệ và bảo vệ môi trường là tiêu chí đánh giá chủ yếu. Ưu tiên các dự án có công nghệ tiên tiến, công nghệ mới, công nghệ cao, công nghệ sạch, quản trị hiện đại, có giá trị gia tăng cao, đóng góp lớn cho tăng trưởng và thu ngân sách nhà nước.

+ Phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo phải gắn với đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hóa – hiện đại hóa – đô thị hóa; kết hợp chặt chẽ giữa công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp; thúc đẩy phát triển doanh nghiệp và phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân, khởi nghiệp sáng tạo, phát triển sản phẩm chủ lực và xây dựng thương hiệu của Tỉnh, tạo sự liên kết giữa các thành phần kinh tế. Tạo việc làm, thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, lao động kỹ năng tay nghề cao; đẩy mạnh chuyển giao, ứng dụng khoa học và công nghệ, tăng tỷ trọng đóng góp của các nhân tố tổng hợp (TFP); huy động, phân bổ, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư phát triển; sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên thiên nhiên.

+ Phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo gắn liền với phát triển bền vững các khu công nghiệp, khu kinh tế thực sự trở thành những động lực tăng trưởng; chú trọng phát triển khu công nghiệp theo mô hình “3 trong 1” khu công nghiệp – khu đô thị - khu dịch vụ, với kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội đồng bộ, hiện đại, dịch vụ tiện ích khác biệt, tạo ra môi trường làm việc và môi trường sống văn minh, an toàn; tạo việc làm, tăng thu nhập cho công nhân, người lao động gắn với nâng cao chất lượng sống của nhân dân.

+ Nâng cao hiệu quả thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong công nghiệp chế biến, chế tạo là động lực dẫn dắt, gắn kết với phát triển mạnh doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo trong nước vững mạnh là nền tảng. Tập trung vào các ngành, các công đoạn tạo ra giá trị gia tăng cao, thu hút các nhà đầu tư, các dự án phát triển bền vững, chú trọng chất lượng và hiệu quả kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường, định hướng thu hút vào ngành công nghiệp ô tô, công nghiệp điện tử, công nghệ thông tin, các sản phẩm công nghiệp công nghệ cao có nhu cầu lớn trên thị trường, công nghiệp y dược, công nghiệp thời trang, công nghiệp chế biến sâu các sản phẩm nông – lâm –thủy sản; công nghiệp hỗ trợ phục vụ các ngành công nghiệp, nông nghiệp, kinh tế biển, dịch vụ… gắn với chuỗi cung, chuỗi giá trị trong nước, khu vực và quốc tế.

- Mục tiêu trong giai đoạn 2020-2025; định hướng đến năm 2030:

+ Mục tiêu tổng quát: Cơ cấu lại khu vực công nghiệp, phát triển nhanh và bền vững công nghiệp chế biến, chế tạo ngày càng đóng vai trò động lực cho phát triển kinh tế - xã hội. Tạo ra bước đột phá trong phát triển công nghiệp chế biến chế tạo về thu hút tổng vốn đầu tư, giá trị gia tăng của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; tăng nhanh tỷ trọng đóng góp của công nghiệp chế biến, chế tạo trong GRDP và thu ngân sách địa phương; thu hút lao động chất lượng cao, lao động kỹ năng tay nghề cao gắn với tăng quy mô, chất lượng dân số thông qua phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo.

+ Mục tiêu cụ thể:  Giai đoạn đến năm 2025: Tỷ trọng của khu vực công nghiệp – xây dựng trong GRDP đạt 49 – 50%, trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng trên 15% trong GRDP;  Giá trị gia tăng ngành công nghiệp tăng bình quân 10%/năm, trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng bình quân 17%/năm.; Thu hút tổng vốn đầu tư ngành công nghiệp CBCT đạt trên 50.000 tỷ đồng (bình quân trên 10.000 tỷ đồng/năm); Tạo ra ít nhất 30.000 chỗ làm việc mới của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; Định hướng đến năm 2030:  Tỷ trọng khu vực công nghiệp – xây dựng trong GRDP đạt 49-50%, trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng 20% trong GRDP; Tốc độ tăng giá trị gia tăng ngành công nghiệp bình quân 15%/năm, trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng bình quân 20%/năm; Thu hút tổng vốn đầu tư ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt trên 100.000 tỷ đồng (bình quân trên 20.000 tỷ đồng/năm);  Tạo ra trên 50.000 chỗ làm việc mới trong ngành công nghiệp CBCT.

- Các nhiệm vụ và giải pháp: (1) Phát triển nhanh và bền vững các khu kinh tế, khu công nghiệp tạo động lực thúc đẩy thu hút đầu tư, phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo:

+ Tiếp tục thực hiện hiệu quả 07 quy hoạch chiến lược quan trọng của Tỉnh; đồng thời, rà soát để điều chỉnh, bổ sung các quy hoạch không còn phù hợp. Rà soát, đánh giá lại việc phát triển các khu công nghiệp, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh hiện nay; xem xét điều chỉnh mở rộng không gian ở những nơi phù hợp để ưu tiên phát triển mô hình khu công nghiệp – dịch vụ - đô thị, khu công nghiệp sinh thái, khu công nghiệp chuyên sâu, có đủ quỹ đất dành cho các dự án dịch vụ và hạ tầng phúc lợi xã hội, nhất là nhà ở chuyên gia, kỹ sư, công nhân lao động sống xa gia đình. Xây dựng phương án phát triển công nghiệp Quảng Ninh đưa vào Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021 – 2030, định hướng đến năm 2050; quy hoạch rõ ngành nghề trong các khu công nghiệp, khu kinh tế; chú trọng quy hoạch các khu công nghiệp để phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo. Đối với các khu công nghiệp, khu kinh tế đã xác định hiện nay, chậm nhất đến hết năm 2021 phải hoàn thành lập, điều chỉnh các quy hoạch liên quan.

+ Tăng cường kiểm tra, giám sát công tác giải phóng mặt bằng, tiến độ đầu tư, thi công xây dựng hạ tầng các khu công nghiệp của các chủ đầu tư; có chế tài phù hợp với các quy định của pháp luật ràng buộc trách nhiệm yêu cầu chủ đầu tư triển khai đầu tư đúng tiến độ cam kết, tuyệt đối không để xảy ra tình trạng đầu cơ, giữ đất trong các khu công nghiệp; xác định rõ trách nhiệm của chính quyền địa phương và chủ đầu tư trong công tác xúc tiến đầu tư nhằm phát huy hiệu quả của các khu công nghiệp, tăng nhanh tỷ lệ lấp đầy, tránh bỏ lỡ cơ hội, lãng phí đất đai, tài nguyên, nguồn lực. Đồng thời, cân đối ngân sách hợp lý theo phân cấp đầu tư ưu tiên nguồn lực đầu tư các hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội ngoài hàng rào theo quy hoạch, đồng bộ có trọng tâm, trọng điểm nhằm tăng cường khả năng kết nối vùng, liên vùng, khu vực và quốc tế của các khu công nghiệp.

+ Khai thác, tận dụng tối đa tiềm năng, lợi thế phát triển của hành lang kinh tế, hành lang đô thị gắn với hành lang giao thông của hai tuyến phía Tây và phía Đông của Tỉnh đang ngày càng hoàn thiện đồng bộ và hiện đại, tận dụng tối đa ưu thế của các loại hình giao thông, thị trường; cơ chế, chính sách ưu đãi của các khu công nghiệp, khu kinh tế để nhanh chóng hình thành các cụm liên kết vùng, liên kết ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tập trung. Trọng tâm là phát triển và phát huy hiệu quả của các khu công nghiệp nằm trong Khu kinh tế cửa khẩu Móng Cái, Khu kinh tế Vân Đồn, Khu kinh tế ven biển Quảng Yên. Phát triển Khu công nghiệp Việt Hưng trở thành khu công nghiệp hỗ trợ, ưu tiên thu hút các dự án sản xuất, lắp ráp ô tô, sản xuất máy móc, thiết bị phụ trợ cho ngành công nghiệp ô tô và các ngành sản xuất công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp công nghệ cao khác, phát triển theo mô hình khu công nghiệp – khu đô thị - khu dịch vụ trở thành một trong những động lực chính thúc đẩy tăng trưởng của tỉnh và thành phố Hạ Long. Quy hoạch, cơ cấu lại và chuyển đổi ngành nghề của Khu công nghiệp Cái Lân cho phù hợp với các quy hoạch, định hướng phát triển mới của thành phố Hạ Long hướng tới trở thành khu công nghiệp sạch, công nghệ cao, tạo ra giá trị gia tăng lớn.

+ Nghiên cứu, đề xuất bổ sung các khu công nghiệp mới để khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế của các hành lang kinh tế, hành lang đô thị gắn với hành lang giao thông trọng điểm thuộc tuyến phía Tây và phía Đông của tỉnh tại các địa bàn Móng Cái, Hải Hà, Đầm Hà, Tiên Yên, Cẩm Phả, Hạ Long (khu vực Hoành Bồ cũ), Quảng Yên, Uông Bí, Đông Triều để thu hút các dự án phát triển công nghiệp CBCT.

(2) Huy động mọi nguồn lực tập trung hoàn thiện hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội đồng bộ, hiện đại bảo đảm liên thông, tổng thể đáp ứng yêu cầu phát triển ngành công nghiệp chế biến, chế tạo nhanh và bền vững:

+ Tập trung quy hoạch, huy động tối đa mọi nguồn lực theo phương châm“lấy đầu tư công dẫn dắt đầu tư tư” đầu tư xây dựng, đẩy nhanh tốc độ phát triển và hoàn thiện hạ tầng đồng bộ, hiện đại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu kinh tế đảm bảo kết nối liên thông, tổng thể gắn với phát triển hạ tầng giao thông chiến lược, công nghệ thông tin, viễn thông, cảng biển và dịch vụ cảng biển của Tỉnh. Trọng tâm là đẩy nhanh tiến độ đầu tư các công trình, dự án giao thông có tính liên kết cao giữa các khu kinh tế, khu công nghiệp, hạ tầng cảng biển, cảng hàng không quốc tế Vân Đồn, Cát Bi… để tạo ra các trung tâm kết nối hạ tầng dịch vụ, giao thông quốc tế, giảm chi phí cho doanh nghiệp. Tập trung nguồn lực hoàn thành đường cao tốc Vân Đồn – Móng Cái vào năm 2021; đường ven biển Hạ Long – Cẩm Phả; đường tốc độ cao ven sông tuyến miền Tây; cầu Cửa Lục 1, 3, cầu Triều và các dự án hạ tầng động lực của TP. Hạ Long. Phối hợp với TP. Hải Phòng sớm đầu tư xây dựng hoàn thành các dự án cầu Rừng, cầu Lại Xuân. Tiếp tục đề xuất Trung ương đầu tư cao tốc Nội Bài – Hạ Long, nâng cấp Quốc lộ 4B, 279 và nâng cấp tuyến đường sắt Yên Viên – Phả Lại – Cái Lân. Nghiên cứu tuyến đường kết nối từ cầu Cửa Lục 2 lên Đồng Sơn, Kỳ Thượng (TP Hạ Long) đến Quốc lộ 4B.

+ Huy động mọi nguồn lực đầu tư phát triển đồng bộ, hiện đại hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội tạo ra các tiện ích tối ưu để thu hút các dự án chế biến, chế tạo công nghệ cao, công nghiệp sạch, công nghiệp thông minh đầu tư vào các khu công nghiệp, nhất là tại địa bàn các khu kinh tế.

(3) Tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và lao động có kỹ năng đáp ứng yêu cầu phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo gắn với tăng quy mô và chất lượng dân số

+ Xây dựng cơ chế, chính sách thu hút, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao tại trường Đại học Hạ Long, Trường Cao đẳng nghề Việt – Hàn và các cơ sở đào tạo nghề chất lượng cao đáp ứng nhu cầu phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo gắn với tăng quy mô và chất lượng dân số giai đoạn 2021 – 2025. Chú trọng đào tạo các ngành nghề: điện, điện tử - tin học, cơ khí, tự động hóa, công nghệ cao, công nghệ ô tô... trong đó, phấn đấu một số ngành nghề đạt trình độ quốc tế, khu vực. Mở rộng các mô hình cơ sở đào tạo, dạy nghề chất lượng cao, tạo dựng chuỗi liên kết lao động sau đào tạo với doanh nghiệp. Quan tâm đào tạo chuyển đổi nghề và nâng cao kỹ năng nghề cho lao động nông thôn, lao động trong doanh nghiệp nhỏ và vừa. Khuyến khích khu vực tư nhân và các doanh nghiệp tham gia đào tạo nhân lực chất lượng cao, gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu, đào tạo với nhu cầu của thị trường lao động và tăng nhanh quy mô, chất lượng dân số.

+ Quan tâm những chính sách chuyển đổi cơ cấu lao động tại địa phương, chính sách về đào tạo và đào tạo lại lao động; thu hút và sử dụng lao động có trình độ kỹ thuật chuyên môn cao, có năng lực đổi mới sáng tạo, tận dụng đội ngũ chuyên gia và đội ngũ kỹ sư tay nghề cao được đào tạo từ các doanh nghiệp cơ khí ngành than.

+ Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng và phát triển đội ngũ doanh nhân có trình độ chuyên môn cao, kỹ năng quản trị hiện đại, có đạo đức kinh doanh; xây dựng đội ngũ công nhân có tác phong công nghiệp, ý thức tổ chức kỷ luật, tay nghề cao, có năng lực tiếp thu và sáng tạo công nghệ mới, lao động đạt năng suất, chất lượng, hiệu quả cao.

+ Chăm lo đời sống cho công nhân, người lao động trong các khu kinh tế, khu công nghiệp. Coi trọng quy hoạch, tạo quỹ đất để phát triển nhà ở phục vụ nhu cầu thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, lao động có tay nghề cao, công nhân lao động trong các khu kinh tế, khu công nghiệp, người lao động có thu nhập thấp.

(4)  Đổi mới, nâng cao hiệu quả xúc tiến, hỗ trợ và thu hút đầu tư:

+ Tăng cường xúc tiến đầu tư thông qua hợp tác với các nhà đầu tư lớn, các cơ quan ngoại giao, các đơn vị tư vấn nước ngoài, các tập đoàn lớn, đa quốc gia nhằm khai thác hiệu quả từ các kênh thu hút đầu tư cả trong và ngoài nước; đảm bảo nguyên tắc các bên cùng có lợi và tuân thủ pháp luật.

+ Xây dựng các tiêu chí về đầu tư để lựa chọn, ưu tiên thu hút đầu tư phù hợp với quy hoạch, định hướng phát triển ngành, lĩnh vực, địa bàn. Rà soát, bổ sung, điều chỉnh cơ chế, chính sách ưu đãi phát triển ngành công nghiệp chế biến, chế tạo phù hợp với yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới. Ban hành danh mục các dự án công nghiệp khuyến khích đầu tư, đầu tư có điều kiện và không chấp nhận đầu tư trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2021 – 2025, định hướng đến năm 2030 để thu hút đầu tư. Xây dựng các cơ chế, chính sách phát triển cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị công nghiệp hỗ trợ, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ theo hướng tiên tiến, hiện đại, công nghệ cao, phát triển xanh.

+ Thành lập Tổ công tác về xúc tiến đầu tư của tỉnh chỉ đạo việc tiếp cận, xúc tiến các dự án lớn, động lực ngành công nghiệp chế biến, chế tạo do các nhà đầu tư chiến lược trong và ngoài nước nghiên cứu; đồng thời phối hợp mật thiết với Tổ công tác thúc đẩy hợp tác đầu tư nước ngoài do Thủ tướng Chính phủ thành lập (tại Quyết định số 850/QĐ-TTg, ngày 17/6/2020).

+ Triển khai có hiệu quả các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước. Tạo điều kiện thu hút thành lập các Trung tâm đổi mới sáng tạo nhằm phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp; tạo lập môi trường khởi nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, nhất là triển khai các đề án, chương trình hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp số. Có cơ chế, chính sách khuyến khích thu hút đầu tư phát triển ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong các lĩnh vực và nông, lâm, thủy sản.

+ Đa phương hóa, đa dạng hóa đối tác, hình thức đầu tư, đan xen lợi ích trong hợp tác đầu tư nước ngoài phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo và kết nối hữu cơ với khu vực kinh tế trong nước, phù hợp với định hướng cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng và mục tiêu phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh, an sinh, trật tự, an toàn xã hội.

(5) Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh thông thoáng, thuận lợi phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo:

 + Sử dụng có hiệu quả nguồn vốn từ Quỹ bảo vệ môi trường và phát triển đất tỉnh để thực hiện bồi thường giải phóng mặt bằng, chủ động tạo mặt bằng sạch đối với các quỹ đất quy hoạch là đất công nghiệp tại khu công nghiệp, khu kinh tế, cụm công nghiệp nhằm thúc đẩy nhanh việc thu hút, lựa chọn chủ đầu tư các dự án công nghiệp chế biến, chế tạo.   

+ Chỉ đạo thực hiện đồng bộ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh và cấp huyện, ưu tiên bố trí quỹ đất đủ diện tích, với mặt bằng sạch trong các khu công nghiệp, khu kinh tế để thu hút, phát triển các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; xây dựng phương án phân bổ và khoanh vùng đất đai theo khu chức năng và theo loại đất đến từng đơn vị hành chính cấp huyện vào quy hoạch tỉnh.

+ Chấn chỉnh công tác quản lý; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra gắn với nâng cao trách nhiệm của chính quyền địa phương và người đứng đầu trong chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về đất đai, đầu tư, bảo vệ môi trường, nhất là việc triển khai thực hiện của kỳ kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh và cấp huyện đối với các khu công nghiệp, khu kinh tế, các dự án có sử dụng đất; làm tốt công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư, đảm bảo bàn giao mặt bằng “sạch” đúng tiến độ cho nhà đầu tư. Kiên quyết xử lý, thu hồi đất theo quy định của pháp luật đối với những dự án đã được giao đất, cho thuê đất nhưng không thực hiện đầu tư đúng thời gian quy định, sử dụng đất không hiệu quả, trái mục đích được giao, thuê; dự án thực hiện không đúng cam kết; ngăn chặn có hiệu quả tình trạng mua bán, chuyển nhượng, chuyển mục đích sử dụng đất trái phép trong các khu kinh tế, khu công nghiệp, cụm công nghiệp.

+ Cải cách quyết liệt, thực chất và hiệu quả thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đơn giản hóa thủ tục cấp phép đầu tư, quản lý; nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh; hằng năm, giữ vững vị trí nhóm đầu cả nước về Chỉ số PCI, PAR Index, SIPAS và PAPI. Công khai, minh bạch hệ thống thông tin kinh tế - xã hội, pháp luật, chính sách, các quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, phát triển ngành, lĩnh vực, danh mục các dự án kêu gọi, thu hút đầu tư; chủ động hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp, nhà đầu tư, nhất là các doanh nghiệp mới tham gia thị trường về thủ tục hành chính, tiếp cận đất đai.

+ Bảo đảm vững chắc quốc phòng – an ninh; giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, chủ quyền biên giới quốc gia; mở rộng, nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an ninh, an toàn, văn minh để thu hút đầu tư, phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo…

+ Tăng cường áp dụng và quản lý hệ thống truy xuất nguồn gốc các sản phẩm công nghiệp. Đẩy mạnh công tác đấu tranh chống buôn lậu, chuyển giá, trốn thuế, gian lận thương mại, hàng giả, vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, bảo đảm môi trường sản xuất, kinh doanh lành mạnh.

(6) Đẩy mạnh ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học – công nghệ; chú trọng liên kết vùng và hợp tác quốc tế phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo:

+ Phát triển mạnh mẽ, tạo sự bứt phá về hạ tầng, ứng dụng công nghệ thông tin – truyền thông, nhất là hạ tầng kết nối số (4G, 5G). Chậm nhất đến hết năm 2023, hoàn thành hạ tầng số và hệ thống cơ sở dữ liệu chuyên ngành, kho tài nguyên số, nền tảng dữ liệu mở, có khả năng chia sẻ, tích hợp đồng bộ, liên thông, hiện đại. Phát triển các mô hình sản xuất thông minh, quản lý thông minh. Đẩy mạnh triển khai thanh toán điện tử, quản lý thuế của các dự án phù hợp với xu thế phát triển của kinh tế số.

+ Tăng cường bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ; hợp tác trong nước và quốc tế trong nghiên cứu phát triển, ứng dụng, mua bán, chuyển giao các sản phẩm khoa học và công nghệ.

+ Chú trọng thu hút có chọn lọc dự án FDI có chất lượng vào các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đến năm 2025 theo Nghị quyết 50-NQ/TW, ngày 20/8/2019 của Bộ Chính trị.

+ Chú trọng phối hợp, liên kết chặt chẽ giữa các địa phương trong Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, Vùng đồng bằng sông Hồng trong quá trình xúc tiến đầu tư, huy động và phân bổ nguồn lực, đẩy nhanh tốc độ xây dựng và hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; tận dụng ưu thế của mỗi địa phương trong đào tạo, phát triển, thu hút, sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao, đảm bảo an ninh trật tự, bảo vệ môi trường; thúc đẩy cụm liên kết ngành công nghiệp CBCT giúp các doanh nghiệp tiếp cận các yếu tố đầu vào, thông tin, công nghệ, nguồn nhân lực, tăng năng lực cạnh tranh, tạo ra giá trị gia tăng và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

(7) Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng; phát huy vai trò của mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị- xã hội đối với phát triển ngành công nghiệp chế biến, chế tạo:

+ Đẩy mạnh tuyên truyền, quán triệt về chủ trương, định hướng, mục tiêu, quan điểm chỉ đạo của Trung ương, của Tỉnh về phát triển ngành công nghiệp CBCT; nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền về vai trò, tác động của ngành công nghiệp CBCT trong phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững. Phát huy vai trò giám sát, phản biện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội – nghề nghiệp trong việc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về đầu tư nước ngoài, phát triển công nghiệp CBCT.

+ Củng cố nâng cao năng lực của các cơ quan, đơn vị và đội ngũ cán bộ quản lý hoạt động đầu tư; tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực công nghiệp CBCT. Thiết lập cơ chế phối hợp chặt chẽ và hiệu quả giữa các ban, sở, ngành, địa phương trong hoạt động xúc tiến, thu hút đầu tư; triển khai các chương trình, đề án trọng điểm./.

Ban Biên tập


Tìm kiếm theo chuyên mục - nội dung - ngày tháng

Tin Nóng
Tin tiêu điểm

Lịch công tác trống

Website liên kết
Thống kê truy cập
Hôm nay: 497
Đã truy cập: 724756