Vai trò của luật tục các dân tộc thiểu số trong tự quản cộng đồng

08/07/2022 08:22

Đứng ở mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau sẽ có những khái niệm khác nhau về luật tục. Nhiều tài liệu cho rằng luật tục được hiểu có nghĩa tương đương với các thuật ngữ nước ngoài như: Customary laws (luật tục), folk laws (luật dân gian), indigenuos law (luật bản địa), traditional law (luật cổ truyền), primitive law (luật sơ khởi),...

 

Dù ở góc độ nào thì luật tục được dùng để chỉ các quy định thành văn hay bất thành văn của cộng đồng dân cư, tồn tại trên cơ sở truyền thống, tập tục, tục lệ, quy ước, được cộng đồng dân cư thừa nhận và thực hiện; là hiện tượng xã hội phổ biến của nhân loại ở thời kỳ phát triển tiền công nghiệp và tồn tại đến ngày nay ở nhiều tộc người trên thế giới, nhất là ở Châu Á và Châu Phi. Ở nước ta, luật tục của các dân tộc thiểu số và hương ước của người Việt đã được các nhà sử học, dân tộc học, văn hóa học, các luật gia ... quan tâm nghiên cứu từ lâu.

Theo Từ điển bách khoa Việt Nam, luật tục là " Toàn bộ những nguyên tắc ứng xử không thành văn được hình thành trong xã hội, sau một thời gian dài áp dụng đã trở thành truyền thống và được mọi người tuân thủ"[1]. Còn Từ điển Luật học định nghĩa: "Luật tục là tập tục, phong tục, tập quán của một cộng đồng, được hình thành tự phát và được các thành viên trong cộng đồng chấp nhận, tuân theo trong quan hệ với nhau. Luật tục thể hiện bao quát, phong phú các mối quan hệ xã hội truyền thống, ít thay đổi và hiện nay vẫn giữ một vai trò quan trọng trong đời sống xã hội của một số nước phương Tây. Ở Việt Nam, luật tục về căn bản đã nhường bước cho luật thành văn từ triều Lý. Tuy nhiên, những phong tục, tập quán tốt đẹp vẫn được duy trì, vận dụng phù hợp với xã hội mới"[2].

Theo GS.TS. Ngô Đức Thịnh, "luật tục được hiểu là một hình thức của tri thức địa phương, hình thành trong lịch sử qua kinh nghiệm ứng xử của người dân với môi trường và xã hội, truyền từ đời này sang đời khác qua trí nhớ, qua thực hành sản xuất và thực hành xã hội. Nó hướng đến việc hướng dẫn, điều chỉnh và điều hòa các quan hệ xã hội, quan hệ con người với môi trường thiên nhiên. Những chuẩn mực ấy của luật tục được cả cộng đồng thừa nhận và thực hiện, tạo nên sự thống nhất và cân bằng xã hội của mỗi cộng đồng"[3].

Mỗi cộng đồng dân tộc đều có luật tục- đây là điều tất yếu. Cộng đồng quốc gia có luật pháp quốc gia; cộng đồng làng bản có quy ước làng bản, thôn khu. Cộng đồng nhỏ trong cộng đồng lớn thì phải tuân thủ và cụ thể hóa các quy định của cộng đồng lớn mà mình trực thuộc. Luật tục- quy ước của các cộng đồng thôn bản dân tộc thiểu số dù là nét văn hóa riêng nhưng không được trái với luật pháp quốc gia, chúng có vai trò là nguồn để hình thành luật pháp; là cầu nối để truyền tải luật pháp quốc gia vào đời sống cộng đồng, hỗ trợ để pháp luật được thực thi hiệu quả hơn; có thể bổ sung, thay thế pháp luật để điều chỉnh các mối quan hệ cụ thể, cần kíp trong cộng đồng.

Ảnh minh họa

Nói đến vai trò của luật tục trong quản lý và xây dựng cộng đồng là nói đến tác dụng, sự ảnh hưởng của chúng đối với hoạt động quản lý và xây dựng cộng đồng. Vị trí, vai trò của luật tục được thể hiện ở những điểm sau:

Thứ nhất, luật tục có khả năng thay thế pháp luật: Khi chưa có nhà nước, chưa có pháp luật, luật tục chiếm vai trò là công cụ đặc hiệu để quản lý cộng đồng, nó thay thế pháp luật. Từ thuở sơ khai, luật tục đã được đặt ra, trở thành công cụ quản lý ở xã hội thị tộc, bộ lạc; đến khi có nhà nước, có pháp luật, luật tục vẫn giữ vị trí quan trọng, đồng hành cùng pháp luật, hỗ trợ pháp luật tự quản cộng đồng và quản lý nhà nước, đưa cộng đồng vào quỹ đạo phát triển có kiểm soát của chủ thể quản lý là Nhà nước và chính bản thân cộng đồng đó.

Khi xã hội có giai cấp, nhà nước xuất hiện và pháp luật ra đời. Pháp luật có tính thống nhất điều chỉnh trong phạm vi cả một quốc gia và có hiệu lực tuyệt đối. Tuy nhiên, trong mỗi quốc gia, do trình độ phát triển ở mỗi địa phương, vùng, miền là khác nhau, thậm chí có sự chênh lệch lớn về điều kiện sống. Do vậy, không phải lúc nào, ở đâu, pháp luật cũng có thể dễ dàng thâm nhập, đi vào đời sống xã hội. Đặc biệt đối với người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số có điều kiện khó khăn. Tại những nơi đây, pháp luật nhiều khi trở nên xa lạ đối với người dân, trong khi luật tục đã vốn quen thuộc như cơm ăn, áo mặc hằng ngày của họ, gắn bó với họ từ lâu đời, có tác động tích cực đối với cộng đồng những vùng hẻo lánh này, luật tục đã thay thế pháp luật để điều chỉnh các quan hệ của cộng đồng. Thực tế còn nhiều nơi, ở nhiều lĩnh vực, pháp luật chưa được cộng đồng thôn bản biết đến, đón nhận, thực hiện. Bên cạnh đó, pháp luật không thể có những quy phạm riêng lẻ để điều chỉnh những hành vi cụ thể trong đời sống mỗi tộc người, nhưng luật tục của mỗi tộc người hoặc mỗi cộng đồng thôn bản đã thường trực, kịp thời điều chỉnh các hành vi cụ thể, đơn lẻ trong đời sống cộng đồng đó.

Thứ hai, luật tục có khả năng bổ sung cho pháp luật: Các quan hệ xã hội phong phú, đa dạng và thường xuyên biến đổi, còn pháp luật là yếu tố cố định trong thời gian nhất định. Mặt khác, trong quá trình xây dựng một văn bản pháp luật, không thể dự liệu hết những tình huống trong cuộc sống cũng như các quan hệ xã hội có thể xảy ra, đặc biệt đối với vùng dân tộc thiểu số. Do đó, các quy phạm pháp luật có thể còn thiếu hoặc chưa quy định cụ thể, chưa quy định giải thích hết nghĩa hoặc không kịp ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội đó thì luật tục đã thường trực để giải thích, điều chỉnh hành vi cụ thể, bổ sung những “quy phạm” mang tính giáo dục đạo đức, luân thường đạo lý, làm cho pháp luật dễ dàng điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh, các quan hệ xã hội cụ thể trong đời sống cộng đồng.

Thứ ba, luật tục có khả năng là cầu nối, dẫn truyền, hỗ trợ cho pháp luật đi vào đời sống cộng đồng thôn bản: Trong nhiều trường hợp, khi đi vào đời sống cộng đồng các dân tộc thiểu số, pháp luật không thể có hiệu lực ngay nếu không được luật tục hỗ trợ truyền tải thông qua hình thức cụ thể hóa, chi tiết hóa thành quy ước, hương ước thôn bản và truyền cảm, vận động thi hành. Ở vị trí này, luật tục như cầu nối để truyền tải nội dung pháp luật đi vào đời sống cộng đồng một cách dễ dàng hơn.

Thứ tư, luật tục có thể là nguồn cho việc xây dựng pháp luật: Với bản chất vốn có của luật tục, nó là tinh hoa văn hóa của các dân tộc với những giá trị không thể phủ nhận. Do vậy, trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật ở nước ta, luật tục đã được xem là một trong các nguồn của pháp luật; trở thành tập quán pháp. Điều này đã được Nghị quyết 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 đã chỉ đạo thể hiện ở quan điểm: “2.3-…; kết hợp hài hoà bản sắc văn hoá, truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tính hiện đại của hệ thống pháp luật” và Nghị quyết cũng đặt ra nhiệm vụ, giải pháp: “1.7- Nghiên cứu về khả năng khai thác, sử dụng án lệ, tập quán (kể cả tập quán, thông lệ thương mại quốc tế) và quy tắc của các hiệp hội nghề nghiệp, góp phần bổ sung và hoàn thiện pháp luật.”.

Điều 5 Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2015 quy định việc áp dụng tập quán pháp, ghi: “1. Tập quán là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng để xác định quyền, nghĩa vụ của cá nhân, pháp nhân trong quan hệ dân sự cụ thể, được hình thành và lặp đi lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài, được thừa nhận và áp dụng rộng rãi trong một vùng, miền, dân tộc, cộng đồng dân cư hoặc trong một lĩnh vực dân sự. 2. Trường hợp các bên không có thỏa thuận và pháp luật không quy định thì có thể áp dụng tập quán nhưng tập quán áp dụng không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự…”. Điều 121 cũng quy định: “1. Giao dịch dân sự có nội dung không rõ ràng, khó hiểu, được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau …thì việc giải thích giao dịch dân sự đó được thực hiện theo thứ tự sau đây:

  1. a) Theo ý chí đích thực của các bên khi xác lập giao dịch;
  2. b) Theo nghĩa phù hợp với mục đích của giao dịch;
  3. c) Theo tập quán nơi giao dịch được xác lập”.

Phù hợp với quy định đó, Khoản 3 Điều 404 BLDS 2015 quy định: “Khi hợp đồng có điều khoản hoặc ngôn từ khó hiểu thì phải được giải thích theo tập quán tại địa điểm nơi giao kết hợp đồng.”

Trong xác định ranh giới giữa các bất động sản, Điều 175 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “1. Ranh giới giữa các bất động sản liền kề được xác định theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Ranh giới cũng có thể được xác định theo tập quán hoặc theo ranh giới đã tồn tại từ 30 năm trở lên mà không có tranh chấp”.

Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng quy định áp dụng tập quán trong việc bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra: “…4. Trường hợp súc vật thả rông theo tập quán mà gây thiệt hại thì chủ sở hữu súc vật đó phải bồi thường theo tập quán nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội”…

Như vậy, có thể thấy Nhà nước ta luôn ghi nhận vai trò của luật tục trong quản lý và xây dựng cộng đồng cũng như quản lý và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Những tập quán, tục lệ (luật tục) từ trong lịch sử lập pháp đến nay luôn được Nhà nước coi trọng, nghiên cứu để làm cơ sở xây dựng và hoàn thiện luật pháp của Nhà nước./.

 

[1] Từ điển Bách khoa Việt Nam, Tập 2, Nxb. Từ điển bách khoa, HN, 2002, tr.770

[2] Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách khoa, HN, 1999, tr. 296.

[3] Nguyễn Thị Quế Loan, Luật tục của các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc, Việt Nam học- Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế lần thứ tư, tr.262.

BTV.Ân Thị Thìn Phó trưởng Ban Dân tộc tỉnh Quảng Ninh


Tìm kiếm theo chuyên mục - nội dung - ngày tháng

Tin Nóng
Tin tiêu điểm

Lịch công tác trống

Website liên kết
Thống kê truy cập
Hôm nay: 233
Đã truy cập: 1671549