
Có thể nói, trong hệ thống các Luật thì Luật Đất đai là một lĩnh vực sát sườn quyền lợi về tài sản quan trọng của Nhân dân và Nhà nước. Hầu hết các quy phạm được thể hiện trong các điều luật đều điều chỉnh các quan hệ hành chính và quan hệ dân sự, thể hiện chế độ, chính sách quản lý Nhà nước về đất đai. Nhất là trong thời đại hiện nay, khi mà yêu cầu thực tiễn khách quan về quản lý đất đai ngày càng chặt chẽ và đảm bảo tầm nhìn chiến lược, lâu dài, hướng tới phát triển bền vững thì việc ban hành Luật Đất đai càng phải đảm bảo đáp ứng các yêu cầu đó của thời đại. Do vậy, nếu không thật sự cẩn trọng trong việc quy định các nội dung trong Luật, sẽ dẫn đến khó quản lý và khó thực thi Luật. Chính vì sự đặc biệt cần thiết này mà việc tổ chức lấy ý kiến rộng rãi trong toàn Nhân dân để xây dựng dự thảo Luật Đất đai năm 2023 được diễn ra trong thời hạn dài ngày và tổ chức ở từng cấp, từng ngành.
Nghiên cứu kỹ dự thảo Luật Đất đai được gửi để lấy ý kiến, nghiên cứu các Luật liên quan (Luật Đất đai năm 2003, Bộ luật Dân sự, Luật Quy hoạch, Luật Xây dựng, Luật Đầu tư, Luật Nhà ở, Luật Bảo vệ Môi trường, Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo…), với chức năng, nhiệm vụ và thực tiễn công tác của mình, Ban Dân tộc tỉnh nhận thấy: Dự thảo Luật đất đai (sửa đổi) năm 2023 kế thừa các quy định nền móng của Luật Đất đai năm 2013 và các Luật trước đó. Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu thực tiễn khách quan hiện nay, so với Luật Đất đai năm 2013, dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) năm 2023 đã tăng lên 2 chương, 24 điều (Luật Đát đai năm 2013 có 14 chương, 212 điều; dự thảo Luật Đát đai (sửa đổi) năm 2013 có 16 chương, 236 điều). Trong đó, đã sửa đổi, bổ sung các quy định về: nội dung, vai trò của hồ sơ địa chính trong công tác quản lý đất đai (tại Điều 107) dự thảo Luật; trách nhiệm lập, cập nhật, khai thác hồ sơ địa chính (tại khoản 1 Điều 109); quy định người sử dụng đất (tại khoản 1 và khoản 6 Điều 6) của Dự thảo Luật để thống nhất với quy định của Bộ Luật Dân sự, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, Luật Đầu tư; sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 4 Điều 206 cho phép tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có sử dụng đất được hình thành do mua cổ phần, phần vốn góp thì có các quyền và nghĩa vụ tương ứng với hình thức nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; sửa đổi để phân định cụ thể thẩm quyền công nhận quyền sử dụng đối với các đối tượng và trách nhiệm của tổ chức dịch vụ công đối với việc cấp Giấy chứng nhận (tại điểm a, b khoản 2 và khoản 3 Điều 115); sửa đổi, bổ sung các vướng mắc, bất cập trong quá trình thực hiện công tác cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; việc cấp Giấy chứng nhận được thực hiện trên cơ sở văn bản giấy tờ của cơ quan hành chính nhà nước, giấy tờ do cơ quan nhà nước khác đã xác lập và nhu cầu của người sử dụng đất (tại Khoản 5 Điều 120); Quy định thống nhất việc cấp Giấy chứng nhận được cơ quan đăng ký thực hiện (khoản 7 Điều 120);
Dự thảo Luật lần này bổ sung, hoàn thiện các quy định tại khoản 5 khoản 6 Điều 51 về việc thực hiện các quyền của người sử dụng đất đối trong các khu vực quy hoạch; bổ sung quy định về đăng ký khi có sự thay đổi về quyền sử dụng không gian ngầm và khoảng không về giá đất (tại điểm n khoản 1 Điều 112); bổ sung khoản thu tài chính từ đất đai gồm: Thu tiền sử dụng đất hàng năm khi sử dụng đất kết hợp với các mục đích khác; Tiền sử dụng đất, tiền thuê đất tăng thêm đối với các dự án chậm tiến độ, không đưa đất vào sử dụng (tại điểm a, c khoản 1 và khoản 2 Điều 126). Bên cạnh đó, Dự thảo còn bổ sung các khoản thu từ dịch vụ công đất đai tại Điều 125; quy định về thời điểm tính thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất trường hợp có điều chỉnh quy hoạch xây dựng chi tiết mà làm thay đổi sử dụng đất và việc quyết định giá đất để làm căn cứ tính thu nghĩa vụ tài chính (tại khoản 3,4 Điều 126); bổ sung các trường hợp thu hồi đất là: Xây dựng cơ sở khám chữa bệnh của lực lượng vũ trang nhân dân; Xây dựng nhà khách của lực lượng vũ trang nhân dân; Đất được giao, cho thuê không phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được công bố, công khai tại thời điểm giao đất, cho thuê đất; trong trường hợp chấm dứt dự án đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư mà không thuộc trường hợp được chuyển quyền sử dụng đất, bán tài sản gắn liền với đất theo quy định; bổ sung quy định thời hạn sử dụng ổn định lâu dài đối với: đất rừng sản xuất giao cho cộng đồng dân cư, đơn vị vũ trang, ban quản lý rừng (tại khoản 3 Điều 140); bổ sung khoản 10, 11 Điều 141 quy định thời hạn giao đất, cho thuê đất xây dựng công trình ngầm, đất xây dựng công trình trên không và việc gia hạn sử dụng đất; bổ sung quy định tại khoản 1 Điều 143 quy định về thời hạn sử dụng đất đối với trường hợp tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đã nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp trong hạn mức sử dụng của hộ gia đình, cá nhân thông qua việc giải quyết hợp đồng thế chấp để xử lý nợ, quyết định hoặc bản án của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án; bổ sung Điều 144 quy định về thời hạn sử dụng đất thực hiện dự án đầu tư; điều chỉnh, gia hạn thời hạn sử dụng đất của dự án; bổ sung quy định tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định không phụ thuộc vào nơi cư trú, nơi đóng trụ sở (tại khoản 2 Điều 192); bổ sung quyền của người sử dụng đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm mà đã ứng trước tiền bồi thường, giải phóng mặt bằng mà chưa khấu trừ hết vào tiền thuê đất phải nộp thì được thế chấp, bán tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất và quyền thuê đất trong hợp đồng thuê đất (tại khoản 2 Điều 212).
Đồng thời, Dự thảo còn sửa đổi và quy định chi tiết hơn các trường hợp thu hồi đất đã được quy định tại Luật Đất đai 2013; Xác lập giá trị pháp lý đối với trường hợp đăng ký đất đai, thông tin được ghi nhận vào sổ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai phù hợp với hệ thống đăng ký chứng quyền hiện nay các nước tiên tiến đang áp dụng (tại khoản 1 Điều 136); Bổ sung chế tài đủ mạnh để làm rõ trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc tổ chức đăng ký đất đai, đồng thời ngăn chặn các trường hợp giao dịch mà không thực hiện đăng ký theo quy định của pháp luật; Quy định về đăng ký đất đai trên môi trường điện tử, đăng ký trực tuyến, trong đó có lộ trình để các địa phương thực hiện việc cấp Giấy chứng nhận điện tử (tại khoản 2 Điều 110); Luật hóa các trường hợp không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất (tại Điều 121) của dự thảo luật.
Ban Dân tộc tham gia một số ý kiến về dự thảo chính sách đất đai đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) thể hiện ở tập trung ở các Điều: 17, 60, 170 và 224. Cụ thể:
Đối với dự thảo Điều 17- Trách nhiệm của Nhà nước về đất đai đối với đồng bào dân tộc thiểu số, Ban Dân tộc nhận thấy cần phải bổ sung chính sách về đất rừng cộng đồng. Theo đó, Khoản 1 Điều 17 Dự thảo đề nghị quy định đầy đủ là: “1. Có chính sách về đất ở, đất sinh hoạt cộng đồng, đất rừng cộng đồng cho đồng bào dân tộc thiểu số phù hợp với phong tục, tập quán, bản sắc văn hóa và điều kiện thực tế của từng vùng.”
Sở dĩ đề nghị bổ sung nội dung này là bởi: Rừng cộng đồng là khu rừng mà theo phong tục, tập quán (luật tục) của hầu hết các cộng đồng thôn, bản người dân tộc thiểu số quy định đó là rừng thiêng, rừng già, rừng có miếu, rừng đầu nguồn, thường là những khu rừng được cộng đồng bảo vệ, cấm khai thác hoặc được khai thác trong giới hạn theo luật tục của bà con trong cộng đồng đó. Mục đích của việc bảo vệ loại rừng này là đảm bảo tín ngưỡng của cộng đồng (tôn thờ thần rừng, ma rừng), bảo đảm duy trì ổn định nguồn sinh thủy phục vụ đời sống của cộng đồng; giữ đất, giữ nước, tránh bão tố cho dân làng.
Đất rừng cộng đồng không đồng nghĩa với “đất sinh hoạt cộng đồng”. Đất sinh hoạt cộng đồng là loại đất dành cho các sinh hoạt tập trung đông người của cộng đồng dân cư, như khu đất sinh hoạt văn hóa, thể thao (Nhà văn hóa cộng đồng và khuôn viên; sân chơi thể thao truyền thống, khu diễn ra các lễ hội thường niên, giao lưu văn hóa văn nghệ của cộng đồng mỗi dân tộc…). Thực tế hiện nay vẫn còn nhiều địa phương duy trì các luật tục bảo vệ rừng cộng đồng. Do vậy, trước chủ trương giao khoán đất rừng để Nhân dân vùng DTTS phát triển sản xuất lâm nghiệp và trước thực trạng nhiều thập kỷ nay về chuyển đất rừng tự nhiên ồ ạt thành đất rừng sản xuất, nếu không thực hiện chính sách bảo vệ rừng cộng đồng thì e rằng sẽ vừa làm mất văn hóa truyền thống, vừa không đảm bảo yếu tố phát triển bền vững (bảo vệ môi sinh của cộng đồng thôn bản vùng DTTS miền núi).
Từ nội dung đề nghị được bổ sung như trên, các điều luật, chế định trong Dự thảo Luật này liên quan đến đất cộng đồng, rừng cộng đồng thì phải được bổ sung các quy định cụ thể cho loại đất rừng cộng đồng. Ví dụ như Điều 136 về Công nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có giấy tờ về quyền sử dụng đất, đề nghị bổ sung “đất rừng cộng đồng” trong Khoản 5, Điều 136, ghi đầy đủ là: “5. Cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có công trình là chùa, đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ; đất rừng cộng đồng, đất nông nghiệp quy định tại khoản 4 của Luật này và đất đó không có tranh chấp, được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là đất sử dụng chung cho cộng đồng thì được công nhận quyền sử dụng đất.”
Đối với dự thảo Điều 60- Nguyên tắc lập quy hoạch đất, kế hoạch sử dụng đất. Tại điểm b, Khoản 2 Điều 60, đề nghị bổ sung quy hoạch đất rừng cộng đồng và đất chăn thả gia súc của cộng đồng thôn bản. Vì hiện nay, nhiều cộng đồng thôn, bản vùng đồng bào DTTS vẫn duy trì bảo vệ, quản lý rừng cộng đồng và khu vực bãi đất chăn thả tập trung theo địa bàn. Nếu không quy định bổ sung và không thực hiện việc giao quản lý, sử dụng loại đất này, e rằng sẽ không đáp ứng được nhu cầu thực tế của Nhân dân vùng đồng bào DTTS miền núi.
Đối với dự thảo Điều 170- Hạn mức giao đất nông nghiệp, đề nghị cân nhắc quy định hạn mức tối đa như dự thảo. Bởi người sinh sản, phát triển còn đất không sinh sản. Do vậy, nếu quy định hạn mức đất giao tối đa quá cao (kế thừa Luật Đất đai 2013), sẽ không phù hợp quy luật tự nhiên và sẽ khó khả thi trong thực tế; làm cho sự hiểu nhầm, khiếu kiện về chế độ chính sách giao đất, và sẽ có sự “lách luật” cho rằng hộ gia đình vùng DTTS miền núi rơi vào tình trạng thiếu đất sản xuất...
Đối với dự thảo Điều 224- Hòa giải, tranh chấp đất đai, đề nghị xem xét bổ sung nội dung khuyến khích áp dụng tập quán pháp, luật tục trong hòa giải tại khoản 1 Điều 224 để phù hợp với Điều 5 Bộ luật Dân sự và Hiến pháp Việt nam (về tôn trọng văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số không trái quy định của pháp luật). Theo đó, đề xuất quy định cụ thể tại Khoản 1 Điều 224 như sau: Khuyến khích vận dụng các quy định của luật tục mỗi dân tộc thiểu số không trái quy định của pháp luật để hòa giải tại cơ sở.
Bên cạnh đó, một số vấn đề cũng cần được xem xét bổ sung như: Về trách nhiệm bảo vệ đất, đề nghị bổ sung đối tượng được bảo vệ là các tài nguyên có trên đất trong điểm b Khoản 4 Điều 172: “ b) Cộng đồng dân cư được Nhà nước giao đất, công nhận quyền sử dụng đất có trách nhiệm bảo vệ đất được giao và các tài nguyên có trên đất được sử dụng đất kết hợp với mục đích sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản, không được chuyển sang sử dụng vào mục đích khác.”; về Nhận quyền sử dụng đất (Điều 30), đề nghị bổ sung chủ thể nhận quyền sử dụng đất là cá nhân được nhận quyền sử dụng đất thông qua hợp đồng chuyển nhượng (tại Khoản 1, Điều 30 dự thảo). Ban Dân tộc còn tham gia vào kỹ thuật diễn đạt trong một số điều, khoản của dự thảo để đảm bảo dễ hiểu, dễ thực hiện như: Đề nghị quy định Khoản 3 Điều 28 thành một điều luật riêng hoặc bỏ để quy định trong Luật Công chứng. Vì nội dung khoản 3 dự thảo Luật này không phù hợp mũ điều của Điều 28 như dự thảo; Đề nghị quy định (diễn đạt) lại Khoản 4 Điều 26. Theo đó, Dự thảo quy định: “ Tôn trọng quyền sử dụng đất của người sử dụng đất khác”, làm người đọc khó hiểu, hiểu theo đa nghĩa. Do vậy, đề nghị quy định lại thành: Tôn trọng quyền của người khác trong việc thực hiện quyền sử dụng đất hợp pháp…
Những nghiên cứu trên là nhận thức của CBCCNV Ban Dân tộc, có thể chưa đầy đủ. Việc nghiên cứu và tham gia xây dựng dự thảo Luật là việc làm thường xuyên, là quyền và trách nhiệm của công dân, của CBCCNV nhà nước. Do đó, nhiệm vụ này sẽ tiếp tục được nghiên cứu và hoàn thiện các ý kiến tham gia ở các diễn đàn hoặc hình thức khác nhau/.