
Đồng chí Ân Thị Thìn, Phó Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo trò chuyện, vận động bà con vùng cao tiếp tục gìn giữ và truyền dạy các giá trị văn hóa truyền thống cho thế hệ trẻ
Khi "Dân vận" là giải pháp trọng tâm trong mỗi chính sách
Trong 10 năm qua (2015-2025), Sở Dân tộc và Tôn giáo đã quán triệt một tư duy xuyên suốt: Công tác dân vận không phải là nhiệm vụ tách rời, mà phải được lồng ghép ngay từ khâu xây dựng và thực thi chính sách.
Với đội ngũ cán bộ là công tác dân tộc giàu kinh nghiệm, Sở đã chủ động chuyển trọng tâm từ "vận động chung chung" sang dân vận thông qua xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc. Mỗi chương trình, dự án đưa về các thôn, bản vùng đồng bào DTTS&MN đều được tính toán dựa trên nhu cầu thực tế của bà con, đảm bảo chính sách thực sự phục vụ lợi ích của nhân dân.
Giai đoạn 2016-2025 ghi dấu ấn đậm nét của Sở trong việc tham mưu các cơ chế đặc thù như Đề án 196 "Nhiệm vụ và giải pháp đưa các xã, thôn ra khỏi diện đặc biệt khó khăn, hoàn thành Chương trình 135 giai đoạn 2017 - 2020 trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh" và Nghị quyết 06-NQ/TU ngày 17/5/2021 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về “phát triển bền vững kinh tế - xã hội gắn với bảo đảm vững chắc quốc phòng - an ninh ở các xã, thôn, bản vùng đồng bào DTTS, miền núi, biên giới, hải đảo giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030". Đây được coi là những giải pháp then chốt, tạo ra nguồn lực mạnh mẽ cho vùng đồng bào DTTS&MN.
Trong 10 năm qua, tổng nguồn lực huy động để thực hiện các chương trình, đề án phát triển vùng đồng bào DTTS&MN đã tạo nên một kỷ lục mới:
(1) Trong giai đoạn 2016-2020, tỉnh đã dành nguồn lực khoảng 1.700 tỷ đồng để thực hiện Đề án 196, tập trung dứt điểm cho các hạ tầng thiết yếu và hỗ trợ sản xuất. (2) Giai đoạn 2021-2025: tỉnh Quảng Ninh đã huy động trên 120 nghìn tỷ đồng thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TU, các chương trình mục tiêu quốc gia. Điểm nổi bật của Quảng Ninh là ngân sách nhà nước đầu tư trực tiếp và vốn ngân sách nhà nước lồng ghép chỉ chiếm khoảng 17,8%, vốn huy động tín dụng và xã hội hóa chiếm đến khoảng 82,2% (chủ yếu từ vốn tín dụng chiếm đến 81,1%). (3) Thông qua công tác "dân vận khéo", nhân dân đã đối ứng và đóng góp bằng tiền mặt, ngày công, hiện vật với giá trị ước tính hàng trăm tỷ đồng. Hàng nghìn hộ dân đã tự nguyện hiến trên 200.000 m² đất để làm đường giao thông và các công trình phúc lợi.
Nhờ nguồn lực tập trung và cách làm dân vận đúng đắn đã thúc đẩy vùng đồng bào DTTSMN của tỉnh thay đổi toàn diện từ kết cấu hạ tầng được xây dựng đồng bộ, hiện đại; diện mạo nông thôn mới sáng- xanh- sạch đẹp, hiện đại; đến hết năm 2021, toàn tỉnh không còn thôn đặc biệt khó khăn; đến hết năm 2024, thu nhập bình quân của người dân vùng đồng bào DTTSMN, biên giới, hải đảo của tỉnh đạt 83,790 triệu đồng/người, tăng gần gấp 2 lần so với 2020 và gấp gần 4,5 lần so với 2015; đến hết năm 2025, toàn tỉnh không còn hộ nghèo và cận nghèo đa chiều. Nhiều hộ DTTS mạnh dạn thành lập doanh nghiệp vừa và nhỏ, thành lập HTX, đã trở thành những hạt nhân đi đầu trong phong trào phát huy nội lực vươn lên làm giàu chính đáng; đồng bào các DTTS được chăm lo phúc lợi, an sinh, đảm bảo về chính sách giáo dục- đào tạo, chăm sóc sức khỏe, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống,… nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần; an ninh trật tự vùng đồng bào DTTSMNBG được giữ vững.

Anh Dường Cắm Hếnh hướng dẫn người dân thôn Khe Tiền, xã Hoành Mô sử dụng máy đóng trà túi lọc từ những năm 2020. Ảnh. Yến Vy Báo Quảng Ninh
Điểm đổi mới căn bản chính là sự dịch chuyển từ hỗ trợ "cho không" sang hỗ trợ "có điều kiện". Cách làm này không chỉ sử dụng ngân sách hiệu quả mà còn đánh thức lòng tự trọng, ý chí vươn lên của người dân, giúp bà con thoát khỏi tư tưởng trông chờ, ỷ lại.
Đồng chí Ân Thị Thìn – Phó Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh chia sẻ: "Dân vận chính quyền không phải là những con số báo cáo vô hồn, mà phải được cân đo bằng sự ấm no của đồng bào. Tại Quảng Ninh, chúng tôi không chọn cách làm thay, mà chọn cách đồng hành. Việc chuyển dịch từ hỗ trợ trực tiếp sang đầu tư sinh kế có điều kiện chính là một cuộc cách mạng trong tư duy quản lý. Khi chúng ta khơi dậy được lòng tự trọng và khát vọng vươn lên của mỗi người dân, sức mạnh nội sinh đó sẽ biến những thôn bản khó khăn nhất thành những điểm sáng về phát triển bền vững."
Thực hiện dân chủ: "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và dân thụ hưởng"
Để dân tin và đồng thuận, Sở đã quyết liệt triển khai thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. Mọi dự án đầu tư hạ tầng hay mô hình sản xuất đều được công khai minh bạch. Người dân từ chỗ là "đối tượng thụ hưởng" đã trở thành "chủ thể thực hiện", "chủ thể giám sát".
Kết quả lớn nhất trong 10 năm qua không chỉ là những con số về hạ tầng, mà chính là sự thay đổi căn bản trong nhận thức và ý thức hệ của đồng bào các dân tộc. Thông qua việc thực hiện dân chủ, công khai các cơ chế hỗ trợ "có điều kiện" của Đề án 196 và Nghị quyết 06-NQ/TU, Sở đã khơi dậy lòng tự trọng và khát vọng vươn lên của người dân. Minh chứng sống động nhất là phong trào hàng trăm hộ dân tại các địa bàn vùng đồng bào DTTS&MN đã tự nguyện viết đơn xin ra khỏi diện hộ nghèo. Đây là một bước ngoặt lịch sử trong công tác dân vận tại vùng đồng bào DTTS&MN, xóa bỏ hoàn toàn tư tưởng "trông chờ, ỷ lại" vào sự hỗ trợ của Nhà nước, chuyển từ trạng thái thụ động nhận cứu trợ sang chủ động vươn lên làm giàu. Nhân dân không còn đứng ngoài cuộc mà đã thực sự trở thành chủ thể. Trong 10 năm, đồng bào đã tự nguyện hiến hàng vạn mét vuông đất, đóng góp hàng chục nghìn ngày công lao động để mở rộng đường giao thông và xây dựng các công trình phúc lợi mà không đòi hỏi đền bù. Sự tham gia này xuất phát từ việc người dân được "biết" và "bàn" thực chất về lợi ích của chính họ. 100% các công trình hạ tầng và dự án sinh kế đều được triển khai dưới sự giám sát chặt chẽ của Ban Giám sát đầu tư cộng đồng và Người có uy tín. Việc phát huy quyền giám sát đã giúp nâng cao chất lượng công trình, giảm chi phí đầu tư và đặc biệt là củng cố niềm tin tuyệt đối của nhân dân vào sự minh bạch của chính quyền. Vai trò của hơn 400 Người có uy tín cũng được phát huy tối đa, trở thành cánh tay nối dài của chính quyền.

Chị Triệu Thị Dung (ngoài cùng, bên phải), Bí thư Chi bộ, Trưởng thôn Thành Công, xã Ba Chẽ vận động người dân hiến đất, dịch tường rào để nâng cấp tuyến đường trục chính của thôn
Chị Triệu Thị Dung, Bí thư Chi bộ, Trưởng thôn Thành Công, xã Ba Chẽ bày tỏ: "Ngày trước, bà con mình còn tư tưởng trông chờ vào Nhà nước lắm, có khi còn không muốn thoát nghèo vì sợ mất hỗ trợ. Nhưng từ khi cán bộ Sở, các bộ xã về tận bản, tận nhà giải thích về chính sách mới, cho dân được tự bàn, tự quyết định cái đường đi, cái kênh mương, bà con thấy được cái lợi lâu dài nên phấn khởi lắm. Bây giờ dân mình không chỉ hiến đất làm đường mà còn bảo nhau cách làm ăn. Khi dân đã tin, đã hiểu thì việc gì cũng thành công."
"Dân vận số" và cải cách hành chính
Hành trình 10 năm đổi mới công tác dân vận tại Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Quảng Ninh ghi dấu ấn đậm nét bằng sự bứt phá về công nghệ và cải cách hành chính (CCHC). Với tư duy "Dân vận chính quyền là phục vụ", Sở đã chuyển đổi mạnh mẽ từ phương thức làm việc truyền thống sang môi trường số, giúp rút ngắn khoảng cách giữa cơ quan nhà nước với đồng bào vùng DTTS&MN. Công tác tham mưu, thể chế hóa các quy định của Đảng và Nhà nước về dân tộc, tôn giáo được thực hiện quyết liệt. Sở đã chủ động rà soát, đánh giá hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và các Nghị quyết của HĐND tỉnh nhiệm kỳ 2021-2026 để kịp thời đề xuất các điều chỉnh phù hợp với thực tiễn.
Kết quả CCHC của Sở đã đạt được những kết quả ấn tượng như: (1) Sở đã tham mưu công bố danh mục TTHC mới, sửa đổi và bãi bỏ các quy định lỗi thời. Đến nay, 100% TTHC thuộc thẩm quyền của Sở đã được cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình và cung cấp phi địa giới, giúp bà con có thể thực hiện thủ tục ở bất cứ đâu. (2) Thực hiện cắt giảm thời gian giải quyết đối với 100% TTHC, với mức giảm bình quân đạt 48,31% (vượt xa chỉ tiêu chung của tỉnh là 30%). (3) Tham mưu UBND tỉnh ủy quyền cho Giám đốc Sở thực hiện 06 nhiệm vụ quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo. Đặc biệt, dấu ấn mới nhất là việc tham mưu ban hành Quyết định số 25/2026/QĐ-UBND ngày 20/3/2026 về Quy chế phối hợp quản lý nhà nước lĩnh vực dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo. Đây chính là "hành lang pháp lý" quan trọng đảm bảo sự thống nhất, thông suốt trong công tác dân vận chính quyền từ tỉnh đến cơ sở.
"Dân vận số" tại Sở không chỉ là những quy trình khô khan mà còn hiện hữu sinh động qua việc ứng dụng mạng xã hội (Zalo, Facebook) để lắng nghe tâm tư bà con nhanh chóng và trực tiếp nhất. 100% văn bản của Sở đã thực hiện ký số, đảm bảo quy trình xử lý thông tin hiện đại, minh bạch.
Đ/c Nguyễn Trung Tiến, PGĐ Sở Khoa học và Công nghệ phổ biến kiến thức về chuyển đổi số đối với đồng bào DTTS cho các đại biểu là người có uy tín
Để công nghệ thực sự "chạm" đến người dân, Sở thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng chuyển đổi số cho đội ngũ Người có uy tín, các chức sắc, chức việc tôn giáo. Thông qua lực lượng nòng cốt này, kỹ năng sử dụng dịch vụ công trực tuyến và các phương thức tuyên truyền hiện đại được lan tỏa sâu rộng trong cộng đồng.
Tuy nhiên, công nghệ chỉ là công cụ, con người mới là yếu tố quyết định. Đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc của Sở không chỉ giỏi chuyên môn mà còn không ngừng rèn luyện kỹ năng "3 cùng" (cùng ăn, cùng ở, cùng làm), tích cực học tiếng dân tộc thiểu số. Sự kết hợp giữa quy trình số hóa hiện đại và thái độ đối thoại trực tiếp, chân thành đã giúp công tác dân vận trở nên tinh tế, sâu sắc, chạm đến niềm tin của đồng bào vùng cao biên giới.
Công tác dân vận trong thời kỳ mới
Bước sang giai đoạn mới, khi các địa phương đã thoát diện đặc biệt khó khăn, thách thức đặt ra là làm sao để thành quả phát triển không bị đẩy lùi. Sở Dân tộc và Tôn giáo xác định công tác dân vận thời kỳ này cần sự "tinh tế" hơn. Trọng tâm không còn là hỗ trợ an sinh cơ bản mà là dân vận để thay đổi tư duy làm kinh tế. Đó là vận động đồng bào tiếp cận kinh tế số, tham gia vào chuỗi liên kết sản xuất OCOP, phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa. Dân vận phải giúp đồng bào hiểu rằng: Thoát nghèo chỉ là bước đầu, vươn lên làm giàu bền vững mới là đích đến. Đồng thời, Sở tiếp tục kiến nghị hoàn thiện các cơ chế phụ cấp đặc thù, tạo động lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc, tôn giáo - đây không chỉ là sự đãi ngộ, mà là sự ghi nhận đối với những nỗ lực thầm lặng của đội ngũ cán bộ thường xuyên phải tác nghiệp tại địa bàn gian khó nhất của tỉnh.
Đồng chí Lục Thành Chung, Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo phát biểu tại , Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Ninh lần thứ IV, năm 2024 với quyết tâm thu hẹp khoảng cách giàu nghèo và trình độ phát triển giữa các vùng miền, xây dựng vùng đồng bào dân tộc thiểu số Quảng Ninh giàu đẹp, văn minh, hiện đại"
Hành trình 10 năm thực hiện Kết luận 114-KL/TW là sự bền bỉ của niềm tin và sự tận tụy của tập thể lãnh đạo và cán bộ, công chức Sở Dân tộc và Tôn giáo. Dưới sự chỉ đạo sát sao của Tỉnh ủy và UBND tỉnh, Sở Dân tộc và Tôn giáo Quảng Ninh đã và đang viết tiếp những chương mới cho sự phát triển của vùng đồng bào DTTS&MN. Mục tiêu đến năm 2030, Quảng Ninh sẽ không còn khoảng cách đáng kể về chất lượng sống giữa vùng cao và vùng thấp. Để đạt được khát vọng đó, công tác dân vận chính quyền sẽ tiếp tục là "ngọn đuốc" soi đường, biến sức mạnh đoàn kết của các dân tộc thành động lực để xây dựng một Quảng Ninh giàu đẹp, văn minh, hiện đại và kiểu mẫu, nơi không ai bị bỏ lại phía sau trên hành trình hạnh phúc./.