
Bác Hồ với đồng bào dân tộc thiểu số (Ảnh. St)
Nền tảng lịch sử - Sứ mệnh từ Sắc lệnh số 58/SL của Trung ương
Lịch sử ngành dân tộc Việt Nam bắt đầu từ tầm nhìn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngay sau khi nước nhà độc lập, Người đã triệu tập Hội nghị đại biểu các dân tộc thiểu số Việt Nam vào ngày 03/12/1945 để khẳng định sức mạnh của sự đoàn kết.
Ngày 03/5/1946: Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 58/SL thành lập Nha Dân tộc thiểu số thuộc Bộ Nội vụ, cơ quan quản lý nhà nước đầu tiên về lĩnh vực này với Sứ mệnh được giao: Xem xét các vấn đề chính trị, hành chính và thắt chặt tình thân thiện giữa các dân tộc trên đất nước Việt Nam.
Qua các cuộc kháng chiến, cơ quan Trung ương đã nhiều lần đổi tên từ Nha Dân tộc thiểu số đến Ủy ban Dân tộc và Miền núi (1993), Ủy ban Dân tộc (2002) và từ ngày 01/3/2025 là Bộ Dân tộc và Tôn giáo.
Dù tên gọi thay đổi, sứ mệnh "Đoàn kết, bình đẳng, tương trợ, giúp đỡ nhau cùng phát triển" vẫn luôn là kim chỉ nam xuyên suốt 8 thập kỷ qua.
Dấu ấn công tác dân tộc tỉnh Quảng Ninh – Hành trình hơn nửa thế kỷ đồng hành (1964 - 2025)
Gắn liền với hành trình 80 năm của ngành công tác dân tộc Việt Nam, công tác dân tộc tỉnh Quảng Ninh đã phát huy xuất sắc vai trò hạt nhân trong việc quy tụ sức mạnh đại đoàn kết các dân tộc, trở thành động lực chính xây dựng vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, biên giới, hải đảo của tỉnh nhà ngày càng giàu mạnh và phát triển. Hành trình ấy được khắc họa qua những dấu mốc trưởng thành không ngừng nghỉ của hệ thống cơ quan làm công tác dân tộc từ cấp tỉnh đến địa phương:
Giai đoạn 1964 - 1985: Những bước chân tiên phong và sứ mệnh bám bản
Giữa những năm tháng đất nước sục sôi khí thế vừa xây dựng miền Bắc, vừa dốc lòng chi viện cho miền Nam, nhu cầu về một cơ quan chuyên trách để quy tụ sức mạnh đại đoàn kết các dân tộc tại Quảng Ninh trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Chính trong bối cảnh lịch sử ấy, năm 1964, Ban Dân tộc - Miền núi đã chính thức được thành lập, đánh dấu mốc son đầu tiên trong hành trình tham mưu quản lý nhà nước về công tác dân tộc của tỉnh nhà. Năm 1967, Ban Dân tộc-Miền núi thành lập thêm Phòng Định canh định cư. Lúc đó, tỉnh Quảng Ninh được xác định có 35 xã thuộc diện thực hiện chính sách định canh định cư, DTTS. Năm 1968, Ban Dân tộc-Miền núi được tách ra, trở thành một cơ quan độc lập, có trụ sở, tài khoản và con dấu riêng, trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thực hiện 2 chức năng: vừa tham mưu cho Tỉnh ủy, vừa giúp việc Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc-miền núi. Năm 1980, Bộ phận Định canh Định cư được tách khỏi Ban Dân tộc-Miền núi, sáp nhập vào Sở Lâm nghiệp Quảng Ninh. Năm 1983, Bộ phận Định canh Định cư lại được tách khỏi Sở Lâm nghiệp, sáp nhập trở lại Ban Dân tộc-Miền núi của tỉnh.
Trong giai đoạn này, hoạt động của cơ quan tham mưu quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc tỉnh Quảng Ninh (với tên gọi Ban Dân tộc - Miền núi) gắn liền công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc, tập trung chi viện cho miền Nam ruột thịt, góp phần quan trọng giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Đồng bào các dân tộc tỉnh Quảng Ninh một lòng theo Đảng, ra sức thi đua lao động sản xuất, phát triển kinh tế, tích cực tham gia bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới thiêng liêng của Tổ quốc. Cán bộ Ban Dân tộc - Miền núi tỉnh mặc dù còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, song luôn đoàn kết một lòng, tích cực tham mưu cho cấp ủy, chính quyền tỉnh các giải pháp giải quyết các vấn đề dân tộc hiệu quả như vấn đề củng cố vùng Đông Bắc sau năm 1954, vấn đề người Hoa di biến động năm 1978-1979, vấn đề quản lý, sử dụng người có uy tín trong vùng dân tộc thiểu số... không để các vụ việc phức tạp nảy sinh ở vùng dân tộc miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đưa công tác dân tộc đi đúng hướng mà Đảng và Nhà nước đề ra.
Trong giai đoạn này, có những đồng chí lãnh đạo chủ chốt của tỉnh được giao kiêm nhiệm lãnh đạo công tác dân tộc, như: Đồng chí Phạm Hoành, đồng chí Nguyễn Thi. Một bộ phận cán bộ dân tộc đã được đề bạt hoặc bầu vào cấp ủy, chính quyền giữ các chức danh Bí thư, Phó Bí thư, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện. Ở cấp tỉnh cũng có một số đồng chí được tín nhiệm bầu vào Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy hoặc Trưởng, phó một số ban, ngành của tỉnh. Nhiều đồng chí lãnh đạo, cán bộ Ban Dân tộc - Miền núi gắn bó, có nhiều đóng góp cho ngành công tác dân tộc, như đồng chí: Vi Đình Long, Lê Ngọc Hồ, Đặng A Thít, Chu Ái, Đinh Cẩn, Vũ Thị Bin, Nguyễn Hồng Tư.... Với vị trí công tác được giao, các đồng chí cán bộ Ban Dân tộc - Miền núi luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, được Đảng, chính quyền tin tưởng, được đồng bào các dân tộc tin yêu, quý mến.
Giai đoạn 1986 đến hết tháng 02/2000: Bản lĩnh trong đổi mới và duy trì thực hiện chính sách dân tộc
Bước vào thời kỳ đổi mới đất nước, công tác dân tộc tại Quảng Ninh đối mặt với những thách thức chưa từng có khi mô hình tổ chức chuyên trách ở cấp tỉnh có sự thay đổi mạnh mẽ. Tuy nhiên, đây cũng chính là giai đoạn khẳng định bản lĩnh của đội ngũ cán bộ trong việc thích ứng và duy trì thực hiện chính sách đến với đồng bào.
Năm 1986, cơ quan Ban Dân tộc - Miền núi giải thể theo chủ trương chung. Nhiệm vụ định canh định cư được chuyển giao về Sở Lâm nghiệp, trong khi các cán bộ dày dạn kinh nghiệm được điều chuyển về Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh và Ban Dân vận Tỉnh ủy để tiếp tục sứ mệnh tham mưu thực hiện công tác dân tộc thể hiện sự linh hoạt trong tổ chức bộ máy cấp tỉnh của Quảng Ninh thời điểm đó.
Trên cơ sở Nghị quyết 22/NQ-TW ngày 17/02/1989 của Bộ Chính trị và Chỉ thị số 72/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng về phát triển kinh tế xã hội miền núi, đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc ở các sở, ngành đã tham mưu cho tỉnh chỉ đạo thực hiện chính sách dân tộc theo các chương trình, dự án; việc hỗ trợ đầu tư phù hợp với đặc điểm từng vùng, từng tiểu vùng, từng dân tộc. Phát huy thế mạnh về cây lâm nghiệp, cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả, chăn nuôi đại gia súc, xây dựng kết cấu hạ tầng, mở rộng giao lưu kinh tế giữa miền núi và miền xuôi. Gắn phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện các chính sách dân tộc và củng cố quốc phòng an ninh.
Giai đoạn từ tháng 3/2001 đến hết tháng 3/2007: Tái lập và kiện toàn hệ thống cơ sở
Sau một thập kỷ hoạt động lồng ghép, nhu cầu về một cơ quan chuyên trách đủ mạnh để đáp ứng yêu cầu phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong tình hình mới đã dẫn đến những quyết định quan trọng về tổ chức bộ máy.
Tháng 3 năm 2001, Ban Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Quảng Ninh chính thức được thành lập trên cơ sở bộ máy tổ chức của Ban Tôn giáo chính quyền tỉnh (Quyết định số 515/QĐ-UB ngày 12/3/2001 của UBND tỉnh). Tại thời điểm này, cơ cấu, tổ chức bộ máy của Ban gồm có: Phó Trưởng Ban thường trực; Văn phòng, Phòng chuyên môn với số lượng 07 cán bộ, công chức, nhân viên thực hiện nhiệm vụ. Trưởng Ban là đồng chí Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh kiêm nhiệm.
Đầu năm 2005, Bộ phận làm công tác định canh định cư gồm 10 cán bộ, viên chức thuộc Chi Cục Định canh định cư Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh chuyển về Ban Dân tộc và Tôn giáo tỉnh, giúp Ban đảm nhiệm Thường trực Chương trình 135, Chương trình 134 tại tỉnh, nhưng có 08 cán bộ, công chức, nhân viên Ban Dân tộc và Tôn giáo được bố trí làm việc tại 06 địa phương cấp huyện. Từ 01/5/2007, Ủy ban nhân dân 06 huyện (Hoành Bồ, Ba Chẽ, Tiên Yên, Bình Liêu, Đầm Hà, Hải Hà) thành lập cơ quan tham mưu UBND cấp huyện về công tác dân tộc (trong đó, UBND huyện Ba Chẽ và Bình Liêu thành lập Phòng Dân tộc; UBND các huyện: Hoành Bồ, Tiên Yên, Hải Hà, Đầm Hà thành lập Phòng Dân tộc và Tôn giáo), theo đó 08 cán bộ, chuyên viên của Ban Dân tộc và Tôn giáo tỉnh làm công tác dân tộc tại 06 huyện trên được chuyển biên chế về các huyện.
Các thế hệ cán bộ giai đoạn này đã không quản ngại khó khăn, trực tiếp bám địa bàn huyện xã để triển khai các dự án hạ tầng thiết yếu, giúp đồng bào tiếp cận gần hơn với các dịch vụ công và phúc lợi xã hội.
Từ ngày 01/4/2007 - 2025: Khát vọng vươn lên và những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
Đây là giai đoạn công tác dân tộc Quảng Ninh tạo ra những bước đột phá mạnh mẽ về diện mạo vùng cao. Từ 01/4/2008, Ban Dân tộc tỉnh chính thức thực hiện chức năng chuyên biệt về dân tộc.
Thực hiện Quyết định số 664/QĐ-UBND ngày 06/3/2008 của UBND tỉnh về việc đổi tên Ban Dân tộc và Tôn giáo thành Ban Dân tộc tỉnh Quảng Ninh, từ đây, Ban Dân tộc tỉnh chỉ thực hiện chức năng tham mưu quản lý nhà nước về lĩnh vực dân tộc. Chức năng, nhiệm vụ tham mưu quản lý nhà nước lĩnh vực tôn giáo chuyển giao sang Sở Nội vụ. Các phòng Dân tộc cấp huyện giải thể, chức năng tham mưu công tác dân tộc được sáp nhập vào Văn phòng UBND cấp huyện; đến năm 2011, tái thành lập Phòng Dân tộc tại các huyện trên và thành phố Móng Cái, huyện Vân Đồn theo Quyết định số 67/QĐ-UBND ngày 10/01/2011 của Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

Đoàn Đại biểu các DTTS tỉnh Quảng Ninh chụp ảnh lưu niệm cùng lãnh đạo Đảng, Nhà nước tại Đại hội Đại biểu toàn quốc các DTTS Việt Nam lần thứ nhất. (tháng 5/2010).
Năm 2015, thực hiện Đề án 25, Nghị quyết số 209/NQ-HĐND ngày 15/7/2015 của HĐND tỉnh, Phòng Dân tộc các huyện: Hải Hà, Đầm Hà, Vân Đồn và TP. Móng Cái lại được giải thể, sáp nhập vào Văn phòng HĐND và UNND cùng cấp. Như vậy, từ năm 2015 đến hết tháng 6/2025, cơ quan làm công tác dân tộc cấp huyện có tên “Phòng Dân tộc” chỉ tồn tại ở 04 địa phương: Ba Chẽ, Bình Liêu, Tiên Yên và TP. Hạ Long.
Với quãng thời gian mang tên “Ban Dân tộc” từ tháng 4/2008 đến hết tháng 6/2025, tập thể CBCC Ban Dân tộc dù với cơ cấu nhỏ gọn, biên chế rất ít nhưng đã chủ động, sáng tạo tham mưu cho tỉnh cụ thể hóa những chủ trương về công tác dân tộc (như Nghị quyết số 07-NQ/TU ngày 29/5/2013 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng về công tác dân tộc trong sự nghiệp phát triển kinh tế nhanh và bền vững, gắn với bảo đảm quốc phòng an ninh trên địa bàn QN đến năm 2020, định hướng đến năm 2030”; Nghị quyết số 06-NQ/TU ngày 17/5/2021 của BCH Đảng bộ tỉnh về phát triển bền vững KT-XH gắn với đảm bảo vững chắc QP-AN ở các xã, thôn, bản vùng đồng bào DTTS, miền núi, biên giới, hải đảo giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030) và ban hành một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển nhanh, bền vững vùng DTTS&MN như Đề án 196; Chương trình tổng thể… gắn với các nghị quyết của HĐND tỉnh, đã thúc đẩy vùng đồng bào DTTSMN của tỉnh thay đổi toàn diện từ kết cấu hạ tầng được xây dựng đồng bộ, hiện đại; diện mạo nông thôn mới sáng- xanh- sạch đẹp, hiện đại; đến hết năm 2021, toàn tỉnh không còn thôn đặc biệt khó khăn; đến hết năm 2024, thu nhập bình quân của người dân vùng đồng bào DTTSMN, biên giới, hải đảo của tỉnh đạt 83,790 triệu đồng/người, tăng gần gấp 2 lần so với 2020 và gấp gần 4,5 lần so với 2015; đến hết năm 2025, toàn tỉnh không còn hộ nghèo và cận nghèo đa chiều. Nhiều hộ DTTS mạnh dạn thành lập doanh nghiệp vừa và nhỏ, thành lập HTX, đã trở thành những hạt nhân đi đầu trong phong trào phát huy nội lực vươn lên làm giàu chính đáng; đồng bào các DTTS được chăm lo phúc lợi, an sinh, đảm bảo về chính sách giáo dục- đào tạo, chăm sóc sức khỏe, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống,… nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần; an ninh trật tự vùng đồng bào DTTSMNBG được giữ vững.

Lãnh đạo Đảng uỷ UBND tỉnh trao quyết định chỉ định Bí thư, Phó Bí thư Chi bộ Sở Dân tộc và Tôn giáo nhiệm kỳ 2025-2030 (Ảnh. Cao Quỳnh)
Từ ngày 01/3/2025, Sở Dân tộc và Tôn giáo được thành lập trên cơ sở Ban Dân tộc tỉnh và tiếp nhận chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Phòng Tôn giáo từ Sở Nội vụ, theo Nghị quyết số 258/NQ-HĐND ngày 26/02/2025 của Hội đồng nhân dân tỉnh. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở được quy định cụ thể tại Quyết định số 60/2025/QĐ-UBND ngày 04/7/2025 của UBND tỉnh. Theo đó Sở Dân tộc và Tôn giáo là cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, tham mưu, giúp UBND tỉnh quản lý Nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo theo phân cấp hoặc ủy quyền của UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh theo quy định của pháp luật; cơ cấu tổ chức bộ máy Sở Dân tộc và Tôn giáo được tinh gọn gồm 3 đơn vị (Phòng Dân tộc, Phòng Tôn giáo và Văn phòng Sở) với 25 biên chế công chức và 3 hợp đồng lao động.
Đối với cơ quan làm công tác dân tộc các địa phương, từ ngày 01/7/2025, thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp, nhiệm vụ tham mưu QLNN về dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo tại cơ sở được giao về Phòng Văn hóa - Xã hội thuộc UBND cấp xã, với 01 công chức kiêm nhiệm nhiều lĩnh vực.
Với cơ cấu tổ chức bộ máy mới, con người mới, tư duy mới, dù phải gánh thêm trách nhiệm và trong tác phong nhanh, nhạy, đạt tiến độ và đảm bảo chất lượng cao, đội ngũ CBCC ngành công tác dân tộc tỉnh Quảng Ninh ngay sau khi ổn định vị trí đã bắt tay ngay vào thực hiện những nhiệm vụ quan trọng- tham mưu triển khai CTMTQG về xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế- xã hội vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2026-2035 với nhiều mục tiêu, nhiệm vụ chiến lược gắn với triển khai thực hiện các nghị quyết trụ cột của Bộ chính trị và Đại hội XIV của Đảng, trong đó đặc biệt là Nghị quyết số 57-NQ/TW về Phát triển KHCN, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; Nghị quyết số 68-NQ/TW về Phát triển kinh tế tư nhân;…

Rạng rỡ sắc màu các dân tộc Quảng Ninh tại Carnaval Hạ Long – Nơi bản sắc truyền thống hòa quyện cùng nhịp sống hiện đại (Ảnh st)
Viết tiếp trang sử 80 năm: Chúng tôi tự hào là cán bộ, công chức làm công tác dân tộc tỉnh Quảng Ninh
Trải qua những giai đoạn lịch sử khác nhau, với những tên gọi khác nhau, khi giải thể, khi chia tách, rồi sáp nhập... đội ngũ cán bộ, công chức ngành dân tộc tỉnh Quảng Ninh vẫn luôn giữ vững bản lĩnh, thực hiện xuất sắc chức năng tham mưu quản lý nhà nước. Vượt lên trên những biến động về tổ chức, các thế hệ cán bộ từ tỉnh đến địa phương luôn duy trì một sợi dây liên kết bền chặt: đó là tinh thần đoàn kết, là trách nhiệm sắt son và sự gắn bó máu thịt với đồng bào vùng dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo của tỉnh nhà.
Nhìn lại chiều dài lịch sử 80 năm của ngành và hơn nửa thế kỷ trưởng thành tại Quảng Ninh, chúng tôi hiểu rằng sự "thay da đổi thịt" của mỗi bản làng ngày nay không phải là kết quả tự thân. Đó là trái ngọt của sự kế thừa tinh hoa, là sự tiếp nối không ngừng nghỉ từ nền tảng tư duy chiến lược của các thế hệ đi trước. Mỗi cung đường mới mở, mỗi ngôi trường khang trang, mỗi nụ cười ấm no của đồng bào các dân tộc Dao, Tày, Sán Dìu, Sán Chỉ... đều thấm đẫm mồ hôi và tâm huyết của những người làm công tác dân tộc qua nhiều thời kỳ.
Đứng trước vận hội mới, với mô hình Sở Dân tộc và Tôn giáo tinh gọn và hiện đại, thế hệ hôm nay nguyện tiếp nối ngọn lửa tâm huyết ấy. Cán bộ làm công tác dân tộc không chỉ mang chính sách đến với đồng bào, mà còn mang đến cơ hội và niềm tin để mỗi người dân tự lực vươn lên, để vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo Quảng Ninh không chỉ là "phên dậu" vững chắc mà còn là biểu tượng của sự phát triển bền vững, văn minh và giàu bản sắc.
Bởi vì, công tác dân tộc không chỉ là nhiệm vụ, đó là sứ mệnh của trái tim và lòng tự tôn dân tộc!