Tình hình KTXH tỉnh Quảng Ninh tháng 10 và 10 tháng năm 2011

03/11/2011 08:00
Từ nay đến cuối năm, ngành than phấn đấu hoàn thành vượt mức KH; Để đạt được kết quả đó, ngay từ đầu quý IV các đơn vị tập trung tăng sản lượng để chủ động nguồn than tốt, đảm bảo đủ than cho các hộ tiêu thụ nội địa như xi măng, nhiệt điện; tăng cường nghiên cứu áp dụng công nghệ mới vào sản xuất và chế biến nhằm nâng cao phẩm cấp than

1. Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản 
1.1. Sản xuất nông nghiệp
*Trồng trọt:
Tổng diện tích gieo trồng các loại cây nông nghiệp cả năm 2011 toàn Tỉnh thực hiện 71.409,6 ha, bằng 98,6% so năm 2010 ( giảm 991,3 ha ). Trong đó cây lương thực có hạt 50.284,1 ha, bằng 97,94% so năm trước (giảm 1.057,8 ha). Diện tích lúa cả năm 43.898,6 ha, đạt 98,2% so năm trước ( giảm 814,6 ha).
Diện tích ngô 6.330,5 ha đạt 96,3% so năm 2010 ( giảm 243,2 ha ). Diện tích cây rau đậu các loại 9.292 ha bằng 102% so năm 2010( tăng 183,4 ha ); cây có hạt chứa dầu 3.638,1ha đạt 97,4% so với năm 2010 ( giảm 96,5 ha).
Diện tích gieo trồng lúa và một số loại cây trồng hàng năm khác giảm do nguyên nhân:
Một là: Do chuyển đổi mục đích sử dụng đất canh tác cây nông nghiệp sang mục đích khác như: cấp đất cho các dự án quy hoạch khu đô thị mới, xây dựng các công trình dân sinh …
Hai là: Một số diện tích bị úng lụt cục bộ do công tác san gạt mặt bằng các khu đô thị, các công trình … làm hỏng hệ thống lưu thông nước.
Ba là: Một số diện tích đất kém hiệu quả chuyển sang nuôi trồng thuỷ sản hoặc trồng cây lâm nghiệp …
Tổng sản lượng lương thực cây có hạt vụ Đông Xuân đạt 113.397 tấn so vụ Đông Xuân năm 2010 đạt 104,4% ( tăng 4.731,4 tấn ); Trong đó sản lượng lúa 94.870,6 tấn bằng 105,3% so với vụ Đông xuân năm 2010. Năng suất đông xuân đạt 55,1 tạ/ha bằng 109,1% so với vụ đông xuân năm 2010.
Ước sản lượng lương thực cây có hạt vụ mùa năm 2011 đạt 119.126,2 tấn bằng 100,5% so với vụ mùa năm 2010 , ước vụ mùa tăng khoảng gần 1.000 tấn. Dự kiến năng suất lúa cả năm ước thực hiện 48,7 tạ/ha bằng 104,3% so năm 2010 tăng 5.408,6 tấn trong đó vụ Đông xuân tăng 4.816,1tấn.
Đến nay các huyện miền Tây và một số huyện miền Đông đã thu hoạch được 11.674,6 ha diện tích mùa sớm mùa trung vụ đạt 61,5% cùng kỳ. Trong đó: lúa 9.668 ha bằng 56,9% cùng kỳ, ngô 91,8 bằng 110,6% cùng kỳ, rau 1.586 ha bằng 104,2% cùng kỳ, lạc 24 ha, khoai lang 49 ha, tương 22 ha, cây khác 234 ha. Toàn tỉnh đã triển khai trồng các loại cây vụ Đông năm 2012 đến ngày 17/10/2011 được 3.426 ha đạt 84% cùng kỳ, trong đó: Ngô 460 ha bằng 54,1% cùng kỳ, khoai lang 867 ha bằng 75% cùng kỳ, rau xanh 1.961 ha bằng 101% cùng kỳ, cây khác 138 ha bằng 95,8% cùng kỳ. Tuy nhiên, giữa vụ và cuối vụ sâu đục thân và rầy nâu phá hoại trên trà lúa mùa trung và mùa chính vụ tập trung ở một sô huyện. Theo tin từ Chi cục bảo vệ thực vật Quảng Ninh, rầy nâu và rầy lưng trắng đã nở rộ từ giữa tháng 9, dưới sự chỉ đạo của các ngành liên quan đến nay các loại sâu bệnh đã ổn định. Bên cạnh đó tỉnh Quảng Ninh cũng bị ảnh hưởng của cơn bão số 5 làm thiệt hại trên 3.900 ha lúa, hoa màu bị hư hại đổ và mất trắng… Từ nay đến khi thu hoạch còn rất nhiều diễn biến phức tạp về thời tiết, các địa phương tập trung khắc phục khó khăn và phòng chống sâu bệnh cuối vụ. Diện tích lúa mùa đã thu hoạch 9.668 ha bằng 36,3% diện tích cấy.
    * Chăn nuôi:
Do ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm, dịch tai xanh ở lợn và một số loại dịch bệnh khác từ đầu năm, giá cả thức ăn chăn nuôi tăng, giá thành sản phẩm chăn nuôi có xu thế giảm, cho nên tốc độ phát triển của đàn lợn giảm. Các loại vật nuôi khác như dê, ong, nhím, lợn rừng và một số sản phẩm vật nuôi khác đang được nhiều địa phương chú ý phát triển và nhân rộng. Trong tháng tình hình dịch bệnh ổn định. Không phát sinh ổ dịch mới chỉ lẻ tẻ bị các bệnh tụ huyết trùng, phó thương hàn …
Cuộc điều tra chăn nuôi thời điểm 01/10/2011 chưa kết thúc cho nên chưa có số liệu chính thức, nhưng qua điều tra cho thấy xu thế các hộ chăn nuôi lợn giảm, đàn lợn có thể đạt khoảng 350 - 380 ngàn con; đàn trâu khoảng 63 đến 64 ngàn con; đàn bò khoảng 26 đến 26,5 ngàn con, đàn gia cầm tăng chậm ước khoảng 2,3 triệu con.
1.2. Sản xuất lâm nghiệp
Toàn tỉnh đã trồng được 11.121 ha bằng 70% so cùng kỳ trong đó rừng phòng hộ hơn 1.000 ha, rừng ngập mặn gần 500 ha trong tổng diện tích rừng trồng tập trung, gieo tạo cây giống được 14.130 ngàn cây. Thời tiết thuận lợi nên cây trồng mới phát triển tốt tỷ lệ cây sống cao. Công tác phòng chống cháy rừng luôn được các địa phương quan tâm.
Khai thác gỗ của các thành phần kinh tế ước 10 tháng 207.800 m3 bằng 266% cùng kỳ. Khai thác gỗ nguyên liệu giấy ước 10 tháng 6.049 tấn bằng 74% cùng kỳ. Khai thác nhựa thông trong tỉnh ước 10 tháng 1.604 tấn bằng 108,4% so cùng kỳ.
1.3. Sản xuất thuỷ sản
Ước tổng sản lượng thuỷ sản 10 tháng 69.011 tấn đạt 88,5% so kế hoạch bằng 102,3% so cùng kỳ, trong đó sản lượng khai thác 48.033 tấn đạt 102,2% so kế hoạch bằng 105% so cùng kỳ. Sản lượng nuôi trồng 20.978 tấn đạt 67,6% kế hoạch bằng 90,5% so cùng kỳ.
Nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt ngoài việc thu hoạch phục vụ nhu cầu tiêu dùng, các hộ tăng cường các biện pháp phòng, tránh rét, chăm sóc đàn cá thương phẩm phục vụ nhu cầu trong dịp tết nguyên đán sắp tới
2. Sản xuất Công nghiệp
Khai thác mỏ: Từ nay đến cuối năm, ngành than phấn đấu hoàn thành vượt mức KH; Để đạt được kết quả đó, ngay từ đầu quý IV các đơn vị tập trung tăng sản lượng để chủ động nguồn than tốt, đảm bảo đủ than cho các hộ tiêu thụ nội địa như xi măng, nhiệt điện; tăng cường nghiên cứu áp dụng công nghệ mới vào sản xuất và chế biến nhằm nâng cao phẩm cấp than; triển khai đồng bộ các giải pháp tăng tốc độ đào lò xây dựng cơ bản đáp ứng yêu cầu tăng sản lượng; đẩy nhanh tiến độ xây dựng các công trình hạ tầng vận tải than; thường xuyên kiểm tra, đôn đốc công tác an toàn và giám sát đúng quy trình giao nhận than. Đồng thời, phối hợp với các cơ quan chức năng thực hiện tốt công tác quản lý khai thác và bảo vệ ranh giới mỏ...Thực hiện chỉ đạo của Tập đoàn Than, các đơn vị khai thác than trên địa bàn Quảng Ninh đã đồng loạt phát động thi đua ở các đơn vị thành viên với các chỉ tiêu cụ thể; thực hiện tốt các biện pháp kỹ thuật duy trì và nâng cao mức độ an toàn trong sản xuất như: phòng chống cháy nổ khí mê tan và bục nước trong hầm lò; đề phòng sập đổ lò, đá rơi; an toàn trong công tác cơ điện, cơ khí, vận tải; Duy trì nâng cao chất lượng các hình thức tuyên truyền, giáo dục cho người lao động về AT – VSLĐ – PCCN; Nâng cao chất lượng huấn luyện an toàn về sinh lao động; Tăng cường công tác kiểm tra, tự kiểm tra, giám sát chặt chẽ hiện trường sản xuất;
Kết quả giá trị sản xuất công nghiệp khai thác mỏ (theo giá cố định 1994): tháng 10 ước đạt 1.054 tỷ đồng, bằng 120,3 % so CK, 10 tháng đạt 10.419 tỷ đồng, bằng 105,8% so CK; 
 Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp khai thác mỏ T10 bằng 109,07 % so với cùng kỳ năm trước, 10T bằng 104,67% so CK.
Một số sản phẩm chủ yếu của công nghiệp khai thác mỏ:
Ước tháng 10: Than sạch đạt 4 triệu tấn, bằng 104,5% so cùng kỳ, bằng 82,4% so KH (trong đó than sạch địa phương chiếm 3,1% trong tổng sản lượng than sạch); Than tiêu thụ đạt 3,6triệu tấn bằng 102,3% so cùng kỳ ; Khối lượng bốc đất đá đạt 25,3triệu m3, bằng 111% so CK; Mét lò tổng số đạt 30,6 nghìn mét, bằng 99,6 % so CK;
Ước 10 tháng:  Than sạch đạt 35,6 triệu tấn, bằng 104,3 % so cùng kỳ, bằng 82,4% so KH (trong đó than sạch địa phương chiếm 2,7 % trong tổng sản lượng than sạch); Than tiêu thụ đạt 36,4triệu tấn bằng 106,6% so cùng kỳ (Trong đó xuất khẩu chiếm 39,5% trong tổng sản lượng than tiêu thụ); Khối lượng bốc đất đá đạt 198,6triệu m3, bằng 117,4% so CK; Mét lò tổng số đạt 303,7 nghìn mét, bằng 111,8% so CK;
Công nghiệp chế biến:
Ngành công nghiệp chế biến ngay từ những tháng đầu năm đã gặp phải cơn bão giá nguyên, nhiên vật liệu đầu vào làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới lợi nhuận của khu vực này, ngành sản xuất vật liệu xây dựng là một trong những ngành chịu ảnh hưởng nặng nề của “bão giá”:  giá xăng tăng từ 32% - 43%, điện năng tăng 15,28%, than tăng 20- 43%, lãi suất vay vốn tăng khoảng 12% - 21,5% làm tăng giá thành sản xuất và giảm lợi nhuận của các đơn vị; Do thị trường xi măng đang trong tình trạng cung vượt cầu, cạnh tranh quyết liệt và ngày càng có sự phân khúc rõ rệt nên lượng tiêu thụ sụt giảm. Tới quý III, do tình hình mưa bão nhiều, tiêu thụ trong nước chậm, nên các đơn vị chú trọng công tác xuất khẩu, trong khi đó thị trường xuất khẩu còn hạn chế, có DN phải chấp nhận lỗ để giữ thị trường. Đầu quý IV, thời tiết thuận lợi, giá cả thị trường tương đối ổn định, tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất; các đơn vị công nghiệp chế biến nói chung và ngành sản xuất vật liệu xây dựng nói riêng cố gắng tập trung tối đa mọi nguồn lực để hoàn thành kế hoạch doanh thu và lợi nhuận đã đề ra. Riêng ngành đóng tàu bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng của Tập đoàn Vinashin, nên từ sản phẩm tới doanh thu đều thấp so với cùng kỳ.
Kết quả giá trị sản xuất công nghiệp chế biến (theo giá cố định 1994): tháng 10 ước đạt 1.266   tỷ đồng, bằng 100,2 % so CK, 10 tháng đạt 10.681  tỷ đồng, bằng 101,9 % so CK; 
 Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến T10 bằng 104,71% so với cùng kỳ năm trước, 10T bằng 97,17% so CK.
Một số sản phẩm chủ yếu của công nghiệp chế biến:
Ước tháng 10: Xi măng các loại đạt 0,3triệu tấn, bằng 109,8% so cùng kỳ (trong đó xi măng địa phương chiếm 60% trong tổng sản lượng xi măng); Gạch nung đạt 78,6 triệu viên bằng 108,3% so cùng kỳ; bia các loại đạt 2,9 triệu lit, bằng   112, 2% so CK; Dầu thực vật đạt 30,2 nghìn tấn, bằng 129,4% so CK; Thủy sản chế biến đạt 0,25nghìn tấn, bằng 94,4% so CK; Bột mỳ các loại đạt 12,3nghìn tấn, bằng 79,2% so CK; Quần áo may sẵn đạt 0,25 triệu cái, bằng 100,4% so CK; Giầy xuất khẩu đạt 300nghìn đôi, bằng 47,2% so CK; Đóng mới tàu đạt 18,8nghìn tấn, bằng 85 % so CK.
Ước 10 tháng: Xi măng các loại đạt 2,7triệu tấn, bằng 97,5% so cùng kỳ, đạt 72,18% KH (trong đó xi măng địa phương chiếm 60 % trong tổng sản lượng xi măng); Gạch nung đạt 712 triệu viên bằng 103,1% so cùng kỳ, đạt 46,53% KH; bia các loại đạt 24,8 triệu lit, bằng 96,3% so CK, đạt 67,01% so KH; Dầu thực vật đạt 230,6 nghìn tấn, bằng 103 % so CK, đạt 76,87% so KH; Thủy sản chế biến đạt 2,8 nghìn tấn, bằng 90% so CK, đạt 70,57% so KH; Bột mỳ các loại đạt 110,7nghìn tấn, bằng 86,9% so CK, đạt 69,21% so KH; Quần áo may sẵn đạt 2,5 triệu cái, bằng 101,6% so CK, đạt 79,25% so KH; Giầy xuất khẩu đạt 3,3nghìn đôi, bằng 54,8% so CK; Đóng mới tàu đạt 242,4nghìn tấn, bằng 83,8 % so CK, đạt 53,87% so KH.
 
Công nghiệp điện nước:
Hiện nay 3 nhà máy sản xuất điện của Quảng Ninh đều đi vào hoạt động ổn định trung bình mỗi tháng sản xuất từ 500 – 700 triệu Kwh.
Kết quả giá trị sản xuất công nghiệp điện nước (theo giá cố định 1994): tháng 10 ước đạt 266,8 tỷ đồng, bằng 107,9% so CK, 10 tháng đạt 2.697,9 tỷ đồng, bằng 161,9% so CK; 
 Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp điện nước T 10 tăng 20,01% so với cùng kỳ năm trước
Một số sản phẩm chủ yếu của công nghiệp điện nước:
Ước tháng 10: Điện sản xuất ra đạt 689,7 triệu Kwh, bằng 121,9% so cùng ; Điện lên lưới đạt 613,9 triệu Kwh bằng 121,9% so cùng kỳ ; Điện phân phối đạt     triệu 168 triệu Kwh , bằng 102,9% so CK
Ước 10 tháng: Điện sản xuất ra đạt 7.038 triệu Kwh, bằng 174,3 % so cùng kỳ, đạt 78,2% KH; Điện lên lưới đạt 6.726 triệu Kwh bằng 219,1% so cùng kỳ ; Điện phân phối đạt     triệu 1.543, bằng 102,4% so CK
GTSX công nghiệp trên địa bàn tháng 10 (theo giá cố định 1994) ước đạt 2.586,9tỷ đồng tăng 8,4% so cùng kỳ (Trong đó: khu vực kinh tế Nhà nước tăng 13%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 0,3%; khu vực ngoài Nhà nước tăng 1,5 %)
GTSX công nghiệp trên địa bàn 10 tháng theo giá cố định 1994 ước đạt  23.798 tỷ đồng, bằng 74,66% so KH, tăng 8,2% so cùng kỳ (Trong đó: khu vực kinh tế Nhà nước tăng 9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 6,9%; khu vực ngoài Nhà nước tăng 6%)
GTSX công nghiệp (theo giá cố định 1994) 10 tháng năm 2011
3. Hoạt động đầu tư, xây dựng
Tháng 10, tiếp tục đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình  trọng điểm của tỉnh như: Quốc lộ 18A đoạn Cửa Ông – Mông Dương, Công trình Trung tâm Thể thao vùng Đông Bắc , Công trình tuyến đường bao biển .
Đối với  một số nguồn vốn đã thực hiện nhưng chưa được giải ngân như: vốn xây dựng nhà văn hoá thôn, bản; một số công trình hiện mới được giải ngân phần chuẩn bị đầu tư và giải phóng mặt bằng nên cũng ảnh hưởng đến tình hình thực hiện và giải ngân,Tỉnh đã có Văn bản báo cáo Chính phủ về việc này để tháo gỡ khó khăn trong đầu tư.
Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý dự tính tháng 10 năm 2011 đạt 514 tỷ đồng giảm 0.01% so với cùng kỳ; trong đó, vốn Nhà nước cấp tỉnh đạt  363 tỷ đồng, giảm 14 %; vốn Nhà nước cấp huyện đạt 117 tỷ đồng, tăng 45,6%; vốn Nhà nước cấp xã đạt 34 tỷ đồng, tăng  187,5% so với cùng kỳ năm trước.
Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý dự tính 10 tháng  năm 2011 đạt 3.808tỷ đồng, đạt 76,3% so KH, giảm 0,91 % so với cùng kỳ, ; trong đó, vốn Nhà nước cấp tỉnh đạt 2.601 tỷ đồng, giảm 14,4% so CK, đạt 75% so KH; vốn Nhà nước cấp huyện đạt 971 tỷ đồng, tăng 39,1 % so CK, đạt 79,8% KH; vốn Nhà nước cấp xã đạt 236,2 tỷ đồng, tăng 121,1% so với cùng kỳ năm trước, đạt 77,6% KH.
 
4. Thương mại, giá cả, du lịch, dịch vụ
4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ 
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 10 năm 2011 ước đạt 2.881 tỷ đồng, tăng 33,5 % so với cùng kỳ; trong đó, kinh tế nhà nước tăng 30,2%; kinh tế tập thể tăng 28 %; kinh tế tư nhân tăng 33,5 %; kinh tế cá thể tăng 35,6 %; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng 36,8%;
 10 tháng năm 2011 ước đạt 25.324,7 tỷ đồng,đạt 102,7% KH, tăng 23,1% so với cùng kỳ, ; trong đó, kinh tế nhà nước tăng 21,8%; kinh tế tập thể tăng 20,7 %; kinh tế tư nhân tăng 23,2 %; kinh tế cá thể tăng 23,9 %; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng 23,1%.
4.2 Hoạt động xuất khẩu
Ước tháng 10 năm 2011, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 174,7 triệu USD; ước 10 tháng năm 2011, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 1.930,4 triệu USD, đạt 81,4% KH, tăng 12,4 % so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trung ương đạt 1.549,6 triệu USD (chủ yếu là than), chiếm tỷ trọng 80,3 % trong tổng kim ngạch xuất khẩu, tăng 14,9 % so cùng kỳ.
 Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài: tháng 10 tiếp tục giảm, so với tháng 9 kim ngạch xuất khẩu khu vực này chỉ đạt 92,8%: Trong đó: Dầu thực vật bằng 36,9%, Nến cây bằng 94,9%, Sợi hóa học bằng 76,2%, Dăm gỗ bằng 37,3%,
Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu 10T/2011 so với cùng kỳ: Than đạt 14,3 triệu tấn bằng 97,3% so CK, đạt 84,5% so KH, hải sản đạt 3,2 nghìn tấn bằng 95,2% so CK, đạt 70,4% KH, Tùng hương đạt 7,2 nghìn tấn, bằng 138,7% so CK, đạt 110,2% KH, Quần áo đạt 572 nghìn chiếc, bằng 132,4% so CK, bằng 57,2% so KH, dầu thực vật đạt 11,9 nghìn tấn, bằng 86,7% so CK, đạt 91,4% KH, Giầy đạt 3,3 triệu đôi, bằng 56,2% so CK, đạt 44,6% KH, Clanke đạt 740,4 nghìn tấn , bằng 460,4% so CK,….
Nhìn chung hầu như tất cả các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu đều thấp hơn so với cùng kỳ và KH.Tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu tăng chủ yếu ở khu vực địa phương và trung ương; mặt hàng than tuy xuất khẩu số lượng chỉ đạt 97,3% so cùng kỳ, nhưng do giá than xuất khẩu năm nay cao hơn rất nhiều so với năm 2010 nên đã đưa tổng kim ngạch xuất khẩu khu vực trung ương tăng 14,9% so CK.
4.3 Giá cả, thị trường
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 10/2011 tăng 0,47% so tháng 9; so với cùng kỳ năm trước tháng 10/2011 tăng 16,56%, so với tháng 12 năm 2010 tăng 12,41 %, tháng 9/2011 tăng 13,48%;  so cùng kỳ chỉ số giá tiêu dùng bình quân 10 tháng tăng 14,42%,
Như vậy giá tiêu dùng đã có chiều hướng tăng chậm lại so tháng trước, tuy nhiên chỉ xảy ra chủ yếu với nhóm Hàng ăn và dịch vụ (hàng ăn và dịch vụ tháng 9/2011 so tháng 8/2011 tăng 0,44%, tháng 10/2011 so tháng 9/2011 giảm 0,27%); nhiều nhóm hàng không giảm mà lại tiếp tục tăng như: Nhà ở, điện, nước và VLXD tháng 10/2011 so tháng 9/2011 tăng 1,04% (tháng 9/2011 so tháng 8/2011 tăng có 0,53%); thiết bị đồ dùng gia đình so với tháng trước tăng 1,13%, tháng 8 tăng có 0,47%; giao thông tăng 0,43%, tháng 8 bằng 99,61%...
Giá Vàng tháng 10 đã giảm đáng kể và có xu hướng ổn định, chỉ số giá tháng này so tháng trước giảm 3,48%, so với cùng kỳ năm trước tăng 41,69%, tăng 23,83 so với tháng 12 năm trước, bình quân 10 tháng tăng 40,9% so CK.
Giá Đô la Mỹ tháng này có xu hướng tăng, giá bình quân của Đô la Mỹ loại tờ (50 - 100 USD) là 21.951 đồng/USD. Chỉ số giá Đô la Mỹ tháng này tăng 4,93 % so với tháng trước; so với cùng kỳ năm trước tăng 12,56%, so với tháng 12 năm trước tăng 3,48%.
4.4 Hoạt động du lịch:
Tháng 10, Tiếp tục tăng cường công tác xúc tiến, quảng bá du lịch, thực hiện mục tiêu phát triển du lịch bền vững, tạo chuyển biến tích cực về chất lượng dịch vụ, năng lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp, tạo sự chuyển dịch về môi trường du lịch, đẩy mạnh cuộc vận động bầu chọn vịnh Hạ Long trở thành 1 trong 7 kỳ quan thiên nhiên thế giới.
Tổng doanh thu hoạt động du lịch Quảng Ninh tháng 10 ước đạt 204,9 tỷ  đồng, 10 tháng  ước đạt 3.027 tỷ  đồng, tăng 13 % so cùng kỳ. 
Tổng số khách du lịch tới Quảng Ninh tháng 10 ước đạt 286 nghìn lượt khách,  10 tháng ước đạt 5.341 nghìn lượt khách, bằng 107% so cùng kỳ(Trong đó khách quốc tế ước đạt 1.817 nghìn lượt khách, tăng 9 % so cùng kỳ)
4.5 Vận tải
Doanh thu vận tải tháng 10 ước đạt 356 tỷ đồng, tăng 43,4% so cùng kỳ 10 tháng  ước đạt 3.136 tỷ đồng, tăng 39,1% so cùng kỳ (Trong đó: doanh thu vận tải hàng hoá ước đạt 1.645 tỷ đồng, tăng 37,5 %; vận tải hành khách 1.091 tỷ đồng, tăng 47,3%); Doanh thu vận tải hàng hóa chủ yếu vẫn là khu vực kinh tế ngoài nhà nước.
Khối lượng vận tải hàng hoá tháng 10 ước đạt 1.856,9 nghìn tấn, tăng 21,5 % so cùng kỳ; 10 tháng ước đạt 16.874,8 nghìn tấn, tăng 16,2 % so cùng kỳ(Trong đó: ngành vận tải hàng hoá đường bộ tăng 19,6 % so cùng kỳ, đường thuỷ tăng 11,2 %).
Khối lượng vận tải hành khách  tháng 10 ước đạt 2.863 nghìn hành khách, tăng   41,7% so cùng kỳ; 10 tháng ước đạt 25.578,5 nghìn hành khách, tăng   39,5% so cùng kỳ (Trong đó vận tải hành khách đường bộ ước đạt 21.900,9 nghìn hành khách, tăng 43,2 % so cùng kỳ; vận tải hành khách đường thuỷ ước đạt 3.677,6 nghìn hành khách, tăng 20,8 % so cùng kỳ).
Khối lượng luân chuyển vận tải hàng hoá tháng 10 ước đạt 251,7 triệu tkm, tăng 26,7% so cùng kỳ; 10 tháng ước đạt 2.291,9 triệu tkm, tăng 22,4 % so cùng kỳ (Trong đó đường bộ tăng 27,1 %, đường thuỷ tăng 21,6 %).
Khối lượng luân chuyển hành khách tháng 10 ước đạt 258,5 triệu hkkm, tăng 43,4% so cùng kỳ; 10 tháng ước đạt 2.257,9 triệu hkkm, tăng 35,5% so cùng kỳ (Trong đó đường bộ tăng 34,4 % và đường thuỷ tăng 43,8 % so cùng kỳ)
4.6 Hoạt động thông tin và truyền thông: Trong tháng 10 năm 2011, các dịch vụ bưu chính, viễn thông hoạt động ổn định. Số thuê bao điện thoại phát triểnước đạt 63.760 thuê bao trong đó (Điện thoại cố định + Di động trả sau ước đạt 5.248 thuê bao; Điện thoại di động trả trước 58.512 thuê bao). Số thuê bao điện thoại ước giảm trong  tháng 10: 6.263 thuê bao. Điện thoại cố định + di động trả sau hiện có trên mạng là 317.736 thuê bao. Tổng số thuê bao trên toàn tỉnh tính đến nay là 1.818.268 thuê bao. Số thuê bao Internet phát triển trong tháng 10 đạt 1.181 thuê bao trong đó (Thuê bao Internet gián tiếp 0 thuê bao; Thuê bao Internet băng thông rộng xDSL 1.125 thuê bao; Thuê bao internet truy nhập qua hệ thống cáp quang (FTTH) 56 thuê bao). Tổng số thuê bao Internet băng thông rộng trên toàn tỉnh tính đến nay là 70.425 thuê bao.
Hoạt động Báo chí, Xuất bản ổn định, nề nếp và có hiệu quả, các cơ quan báo chí trên địa bàn tỉnh tuân thủ đúng tôn chỉ, mục đích và hoạt động theo đúng nội dung định hướng tuyên truyền.
Đảm bảo Cổng thông tin điện tử của tỉnh hoạt động ổn định, phục vụ đắc lực việc thực hiện cải cách hành chính, hoạt động chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo các cấp, nhất là trong việc đảm bảo thông tin phục vụ hoạt động của bộ máy hành chính, cung cấp các dịch vụ hành chính công...
- Hệ thống thư điện tử của tỉnh được đảm bảo vận hành liên tục, hoạt động ổn định 24/24.
            5. Hoạt động Tài chính, Ngân hàng
            5.1 Thu chi ngân sách
* Về thu ngân sách:
            - Tổng thu NSNN trên địa bàn (bao gồm các khoản thu để lại chi quản lý qua ngân sách nhà nước) ước thực hiện 10 tháng: 23.046.650 triệu đồng, đạt 101% dự toán, tăng 19% so cùng kỳ.
Trong đó:
+ Thu về hoạt động XNK ước thực hiện 10 tháng: 11.695.020 triệu đồng, đạt 92% dự toán, bằng 106% so với cùng kỳ;
 + Các khoản thu để lại quản lý qua ngân sách nhà nước ước thực hiện 10 tháng: 179.677 triệu đồng, bằng 125% so với dự toán, bằng 102% so cùng kỳ.
Một số khoản thu chủ yếu:
 Thu từ Kinh tế quốc doanh:
- Số thu từ DNNN trung ương và địa phương: 6.838.711 triệu, đạt 113% dự toán, tăng 43% so cùng kỳ, trong đó ngân sách địa phương được hưởng 5.527.937 triệu đồng đạt 113% so với dự toán, tăng 42% so với cùng kỳ.
- Số thu từ DN có vốn đầu tư nước ngoài ước thực hiện: 763.930 triệu đồng, đạt 109% so với dự toán, tăng 31% so với số cùng kỳ.
             Thu ngoài quốc doanh:
             Số thu thuế Ngoài quốc doanh: ước thực hiện 857.279 triệu, đạt 91% dự toán, tăng 28% so với số cùng kỳ.
 Thu phí và lệ phí: ước thực hiện 397.408 triệu, đạt 76% dự toán, bằng 99% so với số cùng kỳ;
 Thu tiền cấp quyền sử dụng đất: ước thực hiện 974.506 triệu, đạt 139% dự toán, bằng 100% cùng kỳ. 
 Thu phí xăng dầu: ước thực hiện 460.608 triệu, đạt 159% dự toán năm, tăng 214% so với số cùng kỳ.
 Thuế thu nhập cá nhân: ước thực hiện 381.895 triệu, đạt 127% dự toán, tăng 86% cùng kỳ;
* Về chi ngân sách:
Chi ngân sách địa phương thực hiện 9 tháng 7.402.008 triệu đồng, ước thực hiện 10 tháng năm 2011: 8.256.008 triệu đồng đạt 96% dự toán năm, tăng 47% so cùng kỳ. Trong đó: chi ngân sách tỉnh 10 tháng ước thực hiện: 4.760.260 triệu đồng đạt 95% dự toán, tăng 41% so với cùng kỳ.
Chi đầu tư phát triển:
 + Chi đầu tư phát triển ước thực hiện: 3.557.741 triệu đồng, đạt 140% dự toán năm, tăng 16% so cùng kỳ. Trong đó: Ngân sách tỉnh ước thực hiện: 2.413.014 triệu đồng, đạt 123% dự toán năm, bằng 99% so cùng kỳ.
Chi thường xuyên:
            Tổng chi thường xuyên ước thực hiện đạt: 3.728.282 triệu đồng, đạt 69% dự toán năm, tăng 48% so cùng kỳ. Trong đó: Ngân sách tỉnh ước thực hiện 1.548.765 triệu đồng, đạt 63% dự toán năm, tăng 70% so cùng kỳ.
5.2 Tín dụng, ngân hàng
Tổng nguồn vốn hoạt động ước thực hiện đến 31/10/2011 là 55.700 tỷ đồng, bằng 101% so 30/9/2011 và tăng 21,2% so 31/10/2010. Trong đó:
- Vốn huy động tại địa phương ước đến 31/10/2011 đạt 38.600 tỷ, bằng 101,3% so 30/9/2011 và tăng 12,5% so 31/10/2010.
Phân theo nguồn vốn:
     + Tiền gửi tổ chức KT: 6.900 tỷ, bằng 102,4% so 30/9/2011, bằng 90,7% so CK
    + Tiền gửi tiết kiệm: 28.100 tỷ, bằng 101,2% so 30/9/2011, bằng 127,4% so CK
    + Phát hành GT có giá: 700 tỷ,bằng 91,1% so 30/9/2011, bằng 38,9% so CK
    + Vốn, tiền gửi khác: 2.900 tỷ, bằng 102,7% so 30/9/2011, bằng 102% so CK
         Phân theo nội, ngoại tệ:
      + Vốn huy động bằng VND: 34.100 tỷ, tăng 1,5% so với 30/9/2011.
      + Vốn huy động bằng ngoại tệ: 4.500 tỷ, tăng 1,1% so với 30/9/2011.
Các ngân hàng trên địa bàn đã nghiêm túc thực hiện các quy định về trần lãi suất huy động của Ngân hàng Nhà nước. Đồng thời, tiếp tục đẩy mạnh các biện pháp huy động vốn, khai thác tối đa các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư để đảm bảo nguồn vốn cho vay và đáp ứng nhu cầu thanh toán của khách hàng.
* Hoạt động tín dụng:
- Doanh số cho vay dự kiến tháng 10/2011 đạt 7.350 tỷ, tăng 0,3% so với tháng 9/2011; trong đó, cho vay ngắn hạn 6.050 tỷ; cho vay trung, dài hạn 1.300 tỷ. Doanh số cho vay 10 tháng ước đạt 67.952 tỷ tăng 45,3% so CK.
- Doanh số thu nợ dự kiến tháng 10/2011 đạt 6.803 tỷ, tăng 0,1% so với tháng 9/2011; trong đó thu nợ ngắn hạn đạt 5.798 tỷ, thu nợ dài hạn đạt 1.005 tỷ; Doanh số thu nợ ước tính 10 tháng đạt 61.248 tỷ tăng 71,9% so CK.

 Số liệu KTXH tháng 10

Cục Thống Kê Quảng Ninh


Tìm kiếm theo chuyên mục - nội dung - ngày tháng

Tin Nóng
Tin tiêu điểm

Lịch công tác trống

Website liên kết
Thống kê truy cập
Hôm nay: 67
Đã truy cập: 284957