I - PHÁT TRIỂN KINH TẾ
Bước vào năm 2012, tình hình kinh tế thế giới và trong nước liên tiếp có những diễn biến hết sức phức tạp: Kinh tế vĩ mô gặp nhiều khó khăn, tiềm ẩn nhiều rủi ro; thị trường trong nước thu hẹp, sức mua giảm, hàng tồn kho lớn; lãi suất tuy có chiều hướng giảm nhưng vẫn cao; số doanh nghiệp bị giải thể, đình đốn sản xuất tăng ảnh hưởng đến việc làm, thu nhập và đời sống của người lao động. Bên cạnh đó tình hình thời tiết, dịch bệnh có diễn biến phức tạp, tác động xấu đến sản xuất nông nghiệp và đời sống nhân dân.
Trên cơ sở dự báo tình hình, lường trước những khó khăn, ngay từ đầu năm, UBND tỉnh đã tập trung chỉ đạo, điều hành quyết liệt và thực hiện nghiêm túc các Nghị quyết, chỉ đạo của Trung ương, của Tỉnh ủy, HĐND tỉnh về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2012, đồng thời tập trung chỉ đạo thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm. Với sự cố gắng, nỗ lực của các cấp, các ngành, các doanh nghiệp và toàn thể nhân dân, năm 2012, kinh tế - xã hội của Tỉnh đã phát triển ổn định, đúng hướng và thu được những kết quả quan trọng:
Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2012 (theo giá so sánh 1994) ước đạt 7,4% so cùng kỳ: Trong đó Giá trị tăng thêm theo giá so sánh 1994 (đã tách thuế sản phẩm) của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,3%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 3,0%; khu vực dịch vụ tăng 13,6%; thuế sản phẩm tăng 10,7%.
1- Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản.
1.1. Sản xuất nông nghiệp:
Trồng trọt:
Tổng diện tích gieo trồng năm 2012 đạt 69.785,8 ha bằng 99,1% so CK;
Trong đó:
Vụ Đông Xuân đạt: 36.893,4 ha bằng 99,1% so CK;
Vụ Mùa đạt: 32.892,4 ha bằng 99,1% so CK;
Diện tích gieo trồng lúa và một số loại cây trồng hàng năm khác giảm do: chuyển đổi mục đích sử dụng đất canh tác cây nông nghiệp sang mục đích khác như: cấp đất cho các dự án quy hoạch khu đô thị mới, xây dựng các công trình dân sinh ….; đồng thời chuyển đổi mục đích sử dụng diện tích đất trồng lúa kém hiệu quả sang trồng màu hay nuôi trồng thủy sản.
Tổng sản lượng lương thực cây có hạt năm 2012 đạt 232,6 nghìn tấn bằng 98,3% so CK;
Trong đó:
Vụ Đông Xuân đạt: 110,4 nghìn tấn bằng 97,4 % so CK;
Vụ Mùa đạt: 122,2 nghìn tấn bằng 99,3% so CK;
Sản lượng một số cây hàng năm chủ yếu năm 2012:
Cây lúa: 210 nghìn tấn bằng 98,8%CK;
Cây ngô: 22,4 nghìn tấn bằng 94%CK;
Cây khoai lang: 24,7 nghìn tấn bằng 92,8%CK;
Nguyên nhân:
Do Diện tích và Năng suất một số cây trồng chính giảm so cùng kỳ: năng suất lúa cả năm giảm 0,5% so cùng kỳ, ngô giảm 0,2% so CK. Trong khi Vụ mùa thời tiết tương đối thuận lợi cho việc phát triển các loại cây trồng thì vụ Đông Xuân rét đậm, rét hại kéo dài, lượng mưa ít, ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng của cây trồng đã làm giảm năng suất các loại cây trồng vụ Đông Xuân và cả năm.
*Chăn nuôi:
Do ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm, dịch tai xanh ở lợn và một số loại dịch bệnh khác từ đầu năm, giá cả thức ăn chăn nuôi tăng, giá thành sản phẩm chăn nuôi có xu thế giảm, cho nên tốc độ phát triển của đàn lợn giảm. Các loại vật nuôi khác như dê, ong, nhím, lợn rừng và một số sản phẩm vật nuôi khác đang được nhiều địa phương chú ý phát triển và nhân rộng. Công tác phòng chống dịch bệnh được quan tâm trú trọng. Cuối năm tình hình dịch bệnh ổn định không phát sinh ổ dịch mới chỉ xuất hiện lẻ tẻ một số bệnh dịch tả, phó thương hàn, đóng dấu lợn.
Kết quả điều tra chăn nuôi thời điểm 01.10.2012 như sau :
Đàn trâu :
Tổng đàn trâu: 53,41 nghìn con bằng 94,3% so CK (giảm 3.203 con ).
- Đàn bò
Tổng đàn bò: 19,20 nghìn con bằng 88,5% so CK(giảm 2.505 con).
Số lượng đàn trâu, đàn bò ngày càng giảm nguyên nhân chủ yếu là do giết bán, nhiều địa phương đó sử dụng máy cày thay cho trâu để sản xuất nông nghiệp.
- Đàn lợn :
Tổng đàn lợn: 360,49 nghìn con bằng 109% so CK (tăng 29.658 con ).
- Đàn gia cầm.
+ Tổng đàn gia cầm: 2.449,2 ngàn con bằng 97,2% so CK. Trong đó: Đàn gà 1.846 ngàn con. Đàn vịt: 387 ngàn con. Đàn Ngan ngỗng: 216,2 ngàn con.
1.2. Sản xuất lâm nghiệp:
Các đơn vị sản xuất lâm nghiệp đã hoàn thành kế hoạch trồng rừng ngay từ cuối tháng 10, chuyển trọng tâm sang chăm sóc, bảo vệ rừng và khai thác gỗ. Diện tích trồng rừng ước năm 2012 đạt 13,59 nghìn ha đạt 113,7%
Khai thác gỗ của các thành phần kinh tế ước năm 2012 đạt 290 nghìn m3, so cùng kỳ đạt 103,5%, sản lượng củi khai thác 325,15 nghìn ster.
Công tác phòng chống cháy rừng cũng được các cấp lãnh đạo quan tâm, thường xuyên kiểm tra kiểm soát nên không để vụ cháy rừng ra trên địa bàn toàn tỉnh.
1.3. Sản xuất thủy sản:
Ước tính cả năm 2012:
- Tổng sản lượng thuỷ sản đạt 88.8 nghìn tấn, bằng 107.6% so với CK năm 2011.
+ Sản lượng thuỷ sản khai thác: 57,7 nghìn tấn bằng 102,9% so với năm 2011.
+ Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng: 31,1 nghìn tấn bằng 117,7% so với năm 2011
Sản lượng thủy sản nuôi trồng không đạt so KH đề ra, tốc độ tăng do chi phí đầu vào ngành nuôi trồng thủy sản như điện, xăng dầu tăng, dịch bệnh ở tu hài ...
Thời tiết trong năm tương đối thuận lợi, cùng với chuyển biến về nhận thức áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong đánh bắt, khai thác thủy sản đã làm tăng sản lượng đánh bắt thủy sản, đáp ứng nguồn cung về thủy sản cho tiêu dùng và sản xuất (chế biến thủy sản năm 2012 ước tăng 54,5% so CK, vượt KH 44,5%) là một trong những yếu tố góp phần ổn định giá cả thị trường thủy sản nói riêng, chỉ số giá tiêu dùng nói chung trong năm cũng như những tháng giáp tết. Trong khi khai thác thủy sản vượt 13% KH, thì nuôi trồng thủy sản lại chỉ đạt 97,3%KH do yếu tố dịch bệnh [1] và chi phí đầu vào như điện, xăng dầu... tăng.
2. Sản xuất công nghiệp và hoạt động của doanh nghiệp:
* GTSX công nghiệp trên địa bàn ước năm 2012
Theo giá so sánh 1994 ước đạt 29.843,9 tỷ đồng bằng 98,2% so cùng kỳ và bằng 87,7% KH.
Chỉ số sản xuất công nghiệp cộng dồn ước đến 31/12/2012 so với cùng kỳ năm trước 92,05 %.
Công nghiệp khai thác
Kết quả GTSX công nghiệp khai khoáng ước năm 2012
Theo giá so sánh 1994 ước đạt 11.807,9 tỷ đồng bằng 96,2%CK.
Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp khai thác mỏ 91,02 % so cùng kỳ.
Một số sản phẩm chủ yếu của công nghiệp khai thác mỏ:
Than sạch các loại đạt 39,8 triệu tấn, bằng 92,6% so cùng kỳ và bằng 88,5%KH;
Nguyên nhân ngành công nghiệp khai thác mỏ giảm so cùng kỳ chủ yếu là do khó khăn của Tập đoàn công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam. Theo báo cáo của Tập đoàn Than: năm 2012 do sản xuất nhiều hộ trong nước gặp nhiều khó khăn đặc biệt là hộ xi măng, hộ giấy, hộ điện…là những khách hàng chủ yếu của Tập đoàn không tiêu thụ được sản phẩm, tồn kho tăng nên nhu cầu mua than giảm. Bên cạnh đó than xuất khẩu do cạnh tranh gay gắt vì cung vượt cầu nên giá giảm mạnh so với năm 2011. Sau khi Bộ Tài chính điều chỉnh thuế xuất khẩu xuống mức 10% từ 11/10/2012, tình hình tiêu thụ đã được cải thiện. Tuy nhiên do thời gian còn lại của năm không nhiều nên sản lượng than xuất khẩu không bù được phần hụt do giảm tiêu thụ trong nước. Với tình hình kinh tế chưa mấy khả quan vào những tháng cuối năm, Tập đoàn vẫn chủ động bám sát diễn biến thị trường để điều chỉnh sản xuất hợp lý, tránh tồn kho; Ước tính đến hết tháng 11 tồn kho của Tập đoàn giảm xuống còn khoảng 8 triệu tấn (trong đó than sạch khoảng 6 triệu tấn)- thời điểm tháng 10/2012 tồn kho cuối kỳ 9,4 triệu tấn than (Tồn kho than thành phẩm 6,9 triệu tấn).
Công nghiệp chế biến:
Kết quả GTSX công nghiệp chế biến ước tính năm 2012:
Theo giá so sánh 1994 ước đạt 14.731,8 tỷ đồng bằng 98,5%CK;
Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến 94,36% so cùng kỳ;
Một số sản phẩm chủ yếu của công nghiệp chế biến ước tính cộng dồn đến 31/12/2012 so CK:
Gạch nung đạt 811,2 triệu viên, bằng 81,1% KH và bằng 96,7% so cùng kỳ; Đóng mới tàu đạt 232,5 nghìn tấn, bằng 66,4% KH và bằng 85,6% so CK; Xi măng các loại đạt 2,3 triệu tấn, bằng 62,2%KH và bằng 74,9% so cùng kỳ ; Clanke đạt 3,5 triệu tấn bằng 110,6% KH và bằng 107,7%CK; Bia các loại đạt 27,9 triệu lit, bằn 87,2%KH và bằng 102,6% so CK; Dầu thực vật đạt 338,8nghìn tấn, bằng 75,3%KH và bằng 122,8 % so CK; Thủy sản chế biến đạt4,3 nghìn tấn, bằng 125,6% KH và bằng 134,3 % so CK; Bột mỳ các loại đạt 155,6 nghìn tấn, bằng 91,6%KH và bằng 112,3% so CK; Quần áo may sẵn đạt 3,1 triệu cái, bằng 96,2% KH và bằng 101,4% so CK; Giầy xuất khẩu đạt 3.130 nghìn đôi, bằng 78,1% so CK.
Trong công nghiệp chế biến Quảng Ninh có hai ngành sản xuất mang tính quyết định là ngành sản xuất thực phẩm và ngành sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại. Hai ngành này trong năm 2012 có xu hướng sản xuất trái ngược nhau hoàn toàn: trong khi ngành sản xuất thực phẩm tăng như Thủy sản chế biến, Dầu thực vật, tinh bột lúa mì, thì ngành sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại lại có chiều hướng đi xuống khi sản phẩm gạch nung và xi măng là hai sản phẩm chủ đạo đều thấp hơn so cùng kỳ.
Công nghiệp điện nước:
Kết quả GTSX công nghiệp điện nước ước tính năm 2012:
Theo giá so sánh 1994 ước đạt 3.304,2 tỷ đồngbằng 104,5%CK
Một số sản phẩm chủ yếu của công nghiệp điện nước ước tính cộng dồn đến 31/12/2012 :
Điện sản xuất ra đạt 8.074,7 triệu Kw, bằng 104,4% CK, bằng 73,4%KH; Điện lên lưới đạt 7.895 triệu Kw bằng 109,3% so CK; Điện phân phối đạt 1.952,5 triệu kw bằng 106,8%CK.
Tuy năm 2012 cả 4 nhà máy điện Quảng Ninh đi vào hoạt động ổn định nhưng do kinh tế khó khăn, nhiều doanh nghiệp thu hẹp sản xuất và giải thể đã giảm nhu cầu về tiêu dùng điện, dẫn đến các Nhà máy nhiệt điện Quảng Ninh vẫn chưa hoạt động được hết công suất như kế hoạch đầu năm đề ra.
* Hoạt động của các doanh nghiệp:
Trước bối cảnh kinh tế hết sức khó khăn, ngay từ những tháng đầu năm UBND tỉnh đã chủ động chỉ đạo và thực hiện đồng bộ các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp như đối thoại trực tiếp; thành lập 4 đoàn công tác để tìm hiểu và xác định các biện pháp hỗ trợ kịp thời như giãn, hoãn, miễn giảm thuế theo chỉ đạo của Trung ương, đặc biệt phối hợp với Tập đoàn Công nghiệp than Khoáng sản Việt Nam để tháo gỡ khó khăn cho Tập đoàn và các đơn vị thành viên…Tuy được sự hỗ trợ của Tỉnh và các biện pháp của Chính phủ nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp như: Giảm lãi suất ngân hàng, gói hỗ trợ doanh nghiệp, miễn giảm thuế doanh nghiệp, nhưng nhìn chung các doanh nghiệp vẫn chưa vượt qua tình trạng khó khăn nhất là vấn đề tồn kho, khả năng tiếp cận vốn và tái cơ cấu doanh nghiệp.
Trong năm ước có 882 doanh nghiệp thành lập mới, giảm 27,6% so CK. Tổng vốn đăng ký là 4.775 tỷ đồng, giảm 141% so CK. Đến hết năm 2012, ước số DN tạm ngừng hoạt động chiếm 5%, đăng ký giải thể chủ động 7% và 13% bỏ địa chỉ, không hoạt động, chờ giải thể. Số lượng DN gặp khó khăn, suy giảm sản xuất tiếp tục tăng, năm 2012 có khoảng 8,5% số DN rút khỏi thị trường.
3. Bán lẻ hàng hóa, hoạt động các ngành dịch vụ:
3.1. Tổng mức bán lẻ hàng hoá
Năm 2012 kinh tế khó khăn, nhiều doanh nghiệp thu hẹp sản xuất, cắt giảm lao động, tìm mọi biện pháp tăng tiêu thụ, giảm tồn kho thậm chí phải hạ giá bán sản phẩm hàng hóa (chỉ số CPI bình quân năm 2012 tăng so cùng kỳ 8,17 %). Trước thực trạng đó UBND tỉnh đã kịp thời chỉ đạo thực hiện quyết liệt những nhiệm vụ cụ thể để giải quyết khó khăn cho doanh nghiệp, đảm bảo đời sống ổn định người lao động: 3.857 DN được gia hạn thuế GTGT, tổng mức gia hạn 232,3 tỷ đồng; tiền thuê đất được giảm 50% (ước 67 tỷ đồng); thuế môn bài đối với hộ kinh doanh đánh bắt hải sản 967 triệu đồng. Kết quả:
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước năm 2012 đạt 39.470,7 tỷ đồng, bằng 105,3% KH và tăng 25,5% so với cùng kỳ; trong đó, kinh tế nhà nước tăng 8,7%; kinh tế tập thể bằng 95,3%; kinh tế tư nhân tăng 29,3%; kinh tế cá thể tăng 34,4%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng 14,7%; Trong đó, ngành Thương nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất 81.1%, tăng 27.4% so CK.
3.2.Hoạt động du lịch:
Trong năm 2012, hoạt động du lịch diễn ra sôi động, nhiều hoạt động quảng bá, xúc tiến du lịch đã được tổ chức ở địa phương. Tuần Du lịch – Quảng Ninh 2012, lễ đón nhận danh hiệu vịnh Hạ Long – Kỳ quan thiên nhiên mới của thế giới được tổ chức thành công. Công tác chỉ đạo quản lý môi trường kinh doanh du lịch trên địa bàn được chú trọng, công tác kiểm tra, giám sát các hoạt động kinh doanh du lịch, ngăn chặn các hiện tượng đeo bám, ép giá khách du lịch được tăng cường; nhiều giải pháp nhằm phát triển du lịch bền vững, tạo chuyển biến tích cực về chất lượng dịch vụ, năng lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đã được triển khai. Ước năm 2012:
Tổng doanh thu hoạt động du lịch Quảng Ninh: đạt 4.340 tỷ đồng, tăng 22 % so cùng kỳ.
Tổng số khách du lịch tới Quảng Ninh đạt 7001 nghìn lượt khách, bằng 108% so cùng kỳ. (Trong đó khách quốc tế ước 2409 nghìn lượt khách, tăng 5% so cùng kỳ)
3.3.Vận tải
Doanh thu vận tải
Ước năm 2012 doanh thu vận tải đạt 7.488 tỷ đồng, tăng 27,7 % so CK.
Phân theo ngành kinh tế:
Vận tải hàng hóa đường bộ đạt 4.520,9 tỷ đồng, tăng 32% so CK.
Vận tải hàng hóa đường thủy đạt 2.055,9 tỷ đồng, tăng 23,8% so CK.
Hoạt động kho bãi đạt 412,3 tỷ đồng, tăng 14.7% so CK.
Hoạt động khác đạt 498,8 tỷ đồng, tăng 19,5% so CK.
Phân theo loại hình kinh tế:
Nhà nước đạt 1.526,2 tỷ đồng, tăng 21,5% so CK.
Ngoài Nhà nước đạt 5.916 tỷ đồng, tăng 29,5% so CK.
Khu vực có vốn ĐTNN đạt 45,9 tỷ đồng, tăng 12,3% so CK.
Vận tải hàng hóa
Khối lượng vận tải hàng hóa ước năm 2012 đạt 30.945 nghìn tấn tăng 14,6 % so cùng kỳ; (Trong đó: đường bộ tăng 13,9%, đường thủy tăng 16,1%).
Khối lượng luân chuyển vận tải hàng hoá ước năm 2012 đạt 3.929,2 triệu tkm, tăng 23,4% so cùng kỳ; (Trong đó: đường bộ tăng 26,1%, đường thủy tăng 17,7%).
Vận tải hành khách
Khối lượng vận chuyển hành khách ước năm 2012 đạt 42.244,9 nghìn hành khách, tăng 21,5% so cùng kỳ; (Trong đó: đường bộ tăng 21,1% ; đường thủy tăng 23,1% ).
Khối lượng luân chuyển hành khách ước năm 2012 đạt 4.021,8 triệu hkkm, tăng 27,4% so cùng kỳ; (Trong đó: đường bộ tăng 27,7% , đường thủy tăng 24,2%).
Do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, cả vận tải hành khách lẫn vận tải hàng hóa đều có tốc độ tăng thấp hơn so với tốc độ tăng 2011. Khối lượng vận chuyển hàng hóa năm 2011 tăng 29,8%, năm 2012 ước tăng 14,6%; Khối lượng luân chuyển hàng hóa năm 2011 tăng 29,6%, ước năm 2012 tăng 23,4%; Khối lượng hành khách vận chuyển năm 2011 tăng 26%, ước năm 2012 tăng 21,5%; Hành khách luân chuyển năm 2011 tăng 29,5%, ước năm 2012 tăng 27,4%.
3.4.Hoạt động thông tin và truyền thông:
Hoạt động Báo chí - Xuất bản ổn định, nề nếp và có hiệu quả, các cơ quan báo chí trên địa bàn tỉnh tuân thủ đúng tôn chỉ, mục đích và hoạt động theo đúng nội dung định hướng tuyên truyền. Đẩy mạnh triển khai Kế hoạch hợp tác truyền thông giữa tỉnh Quảng Ninh với các cơ quan báo chí.
Ứng dụng và phát triển Công nghệ thông tin: Cổng thông tin điện tử, Hệ thống thư điện tử, Hệ thống hội nghị truyền hình trực tuyến của tỉnh hoạt động ổn định và phát huy hiệu quả. Hoạt động thanh tra tập trung thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ theo chương trình công tác đã đề ra, kịp thời ngăn chặn và xử lý những trường hợp vi phạm các quy định của pháp luật trong lĩnh vực thông tin và truyền thông.
II. KIỀM CHẾ LẠM PHÁT, ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ
1-Chỉ số giá tiêu dùng
Hai nguyên nhân chủ yếu dẫn đến chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm và những tháng cuối năm 2012 tăng ở mức thấp:
Thứ nhất: Do tỉnh thực hiện tốt các biện pháp kiềm chế lạm phát;
Thứ hai: Do kinh tế năm 2012 tăng trưởng chậm;
Chỉ số giá tiêu dùng các tháng so với tháng trước:
Qua biểu đồ có thể nhận thấy khi CPI các tháng đầu năm 2011 tăng đột biến thì CPI các tháng năm 2012 từ đầu năm cho tới thời điểm cuối năm đều mang tính ổn định: Tháng 9 tăng mạnh nhất cũng chỉ tăng 1,58% so tháng trước (năm 2011 tháng 2 tăng mạnh nhất 2,92% so tháng trước), riêng hai tháng là tháng 6 và tháng 7 Chỉ số chung giảm so tháng trước: tháng 6 bằng 99,93%, tháng 7 bằng 99,82%.
Cụ thể:
Tháng 6: giảm ở các nhóm hàng: Nhà ở, điện nước và vật liệu xây dựng, chỉ bằng 98,64%, hàng ăn và dịch vụ bằng 99,93%, thiết bị và đồ dùng gia đình bằng 99,48%, giao thông bằng 99,08%, Bưu chính viễn thông bằng 99,77%, giáo dục bằng 99,97%.
Tháng 7: giảm ở các nhóm: Giao thông giảm 2,57%; Hàng ăn và dịch vụ giảm 0,57%; Ăn uống và thuốc lá giảm 0,14%; Bưu chính viễn thông giảm 0,09%.
Chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm 2012 so với cùng kỳ năm trước:
Chỉ số chung tăng 8,17%, tăng mạnh nhất là nhóm Ăn uống ngoài gia đình tăng 17,66%; Đồ uống và thuốc lá tăng 13,27%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 12,33%; May mặc, mũ, nón, giày, dép tăng 9,19%; Giao thông tăng 8,21%; Văn hóa, giải trí, du lịch tăng 8,57%; Nhà ở và điện nước, VLXD tăng 7,42%. Nhóm hàng tăng thấp là Giáo dục (4,06%), Thuốc và dụng cụ y tế (6,68%), viễn thông (0,41%), lương thực( 5,53%)
Giá Vàng: Chỉ số giá vàng tháng 12/2012 bằng 99,98% so với tháng trước, bằng 99,27% so cùng kỳ; bình quân năm 2012 bằng 107,52% CK.
Giá Đô la Mỹ: Chỉ số giá Đô la Mỹ tháng 12/2012 bằng 100,1% so tháng trước, bằng 99,15% so cùng kỳ; bình quân năm 2012 bằng 98,78% so CK.
2. Hoạt động đầu tư, xây dựng
Năm 2012 hoạt động xúc tiến, vận động và thu hút đầu tư tiếp tục đạt được kết quả tốt. Sau Hội nghị xúc tiến đầu tư năm 2012, Tỉnh đã đón và làm việc với 30 lượt đoàn các nhà đầu trư nước ngoài từ nhiều quốc gia (Hoa Kỳ, Nhật bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Đông Âu…) và nhiều nhà đầu tư lớn trong nước đến tìm hiểu đầu tư vào lĩnh vực du lịch, dịch vụ, cảng hàng không, công nghiệp, y tế, giáo dục, môi trường, hạ tầng các khu kinh tế, khu công nghiệp tại các khu kinh tế Vân Đồn, Móng Cái, Hải Hà, Hạ Long…Tỉnh đã tổ chức xúc tiến đầu tư tại Nhật Bản đồng thời làm việc với Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Nhật Bản tại Việt Nam về chiến lược thu hút đầu tư tại Quảng Ninh và một số dự án lớn của tỉnh. Năm 2012, Tỉnh đã cấp mới 04 giấy chứng nhận đầu tư với tổng số vốn 390,9 triệu USD và 2 giấy chứng nhận điều chỉnh tăng vốn; tổng vốn đầu tư tăng thêm đạt 411,97 triệu USD. Thu hút vốn FDI năm 2012 cao so với năm 2011 cả về số dự án và tổng vốn đăng ký (4/3 dự án). Tính đến thời điểm hiện tại, trên địa bàn tỉnh có 90 dự án FDI còn hiệu lực với tổng số vốn đầu tư đăng ký đạt trên 4,156 tỷ USD. Một số dự án quan trọng có tổng mức đầu tư lớn đang khẩn trương triển khai công tác chuẩn bị đầu tư để thực hiện như: dự án đường nối thành phố Hạ Long – Móng Cái, dự án đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng, đường cao tốc Hạ Long – Móng Cái, dự án đường dẫn và cầu Bắc Luân II, dự án xây dựng sân bay quốc tế Vân Đồn, dự án bảo vệ môi trường TP. Hạ Long, Trung tâm thương mại và siêu thị BigC bằng các hình thức đầu tư FDI, BOT, BT, ODA…Song song với việc đẩy mạnh xúc tiến, kêu gọi đầu tư trực tiếp nước ngoài. Tỉnh cũng tích cực, chủ động đề nghị với Trung ương cho áp dụng những cơ chế, chính sách đặc thù để thu hút và đa dạng hóa các nguồn lực đầu tư, đặc biệt đối với một số dự án hạ tầng giao thông quan trọng, dự án đưa điện lưới ra đảo Cô Tô…
Tổng vốn đầu tư toàn xã hội ước thực hiện đạt 37.867 tỷ đồng, giảm 8% so CK;
Thực hiện vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý ước năm 2012 đạt 4.020,4 triệu đồng, bằng 96,8%KH, bằng 73,5%CK; trong đó vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh bằng 62,9%CK, vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện tăng 5,7%CK, vốn ngân sách Nhà nước cấp xã bằng 64,1%CK.
3. Hoạt động Tài chính tín dụng
3.1. Thu, chi Ngân sách Nhà nước:
Thu ngân sách:
- Tổng thu NSNN trên địa bàn ước thực hiện năm 2012: 29.470 tỷ đồng, đạt 102% dự toán năm, bằng 101% cùng kỳ.
Trong đó:
+ Thu về hoạt động XNK ước thực hiện: 16.500 tỷ đồng, đạt 126% dự toán năm, bằng 108% cùng kỳ.
+ Các khoản thu để lại quản lý qua ngân sách nhà nước ước thực hiện: 229 tỷ đồng bằng 98% dự toán, bằng 99% cùng kỳ.
Kết quả thực hiện một số khoản thu chủ yếu:
- DNNN trung ương và địa phương: 6.974 tỷ, đạt 73% dự toán, giảm 14% so cùng kỳ, trong đó ngân sách địa phương được hưởng 5.694 tỷ đồng đạt 74% dự toán, giảm 13% cùng kỳ.
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: ước thực hiện 1.300 tỷ đồng, tăng 18% dự toán, tăng 44% cùng kỳ.
- Thuế Ngoài quốc doanh: ước thực hiện 1.050 tỷ, đạt 84% dự toán, tăng 5% so cùng kỳ.
- Thu tiền sử dụng đất: ước thực hiện 500 tỷ, đạt 56% dự toán, bằng 36% cùng kỳ.
- Thuế thu nhập cá nhân: ước thực hiện 620 tỷ, đạt 100% dự toán, tăng 34% cùng kỳ.
- Lệ phí trước bạ: ước thực hiện 330 tỷ đồng, đạt 73% dự toán, giảm 17% cùng kỳ.
- Thuế Bảo vệ Môi trường: ước thực hiện 900 tỷ, đạt 90% dự toán.
Về chi ngân sách: Chi ngân sách địa phương ước thực hiện năm 2012: 12.838 tỷ đồng bằng 95% dự toán năm; Trong đó:
- Chi đầu tư phát triển: ước thực hiện 4.293 tỷ, đạt: 110% dự toán, bằng 73% cùng kỳ.
- Chi thường xuyên: ước thực hiện 8.238 tỷ, đạt: 101% dự toán, tăng 60% so cùng kỳ.
Trong đó: Chi Sự nghiệp giáo dục đào tạo: 2.507 tỷ, đạt 106% dự toán, tăng 47% cùng kỳ; chi Sự nghiệp Khoa học công nghệ: 32 tỷ, đạt 100% dự toán, bằng 114% cùng kỳ.
3.2. Hoạt động ngân hàng
Tổng nguồn vốn hoạt động dự kiến đến 31/12/2012 là 64.000 tỷ đồng, tăng 0,4% so với 30/11/2012 và tăng 12,6% so 31/12/2011. Trong đó:
- Vốn huy động tại địa phương dự kiến đến 31/12/2012 đạt 49.000 tỷ, tăng 1,8% so 30/11/2012 và tăng 25,6% so 31/12/2011. Trong đó:
Phân theo nguồn vốn:
+ Tiền gửi tổ chức KT: 6.400 tỷ, bằng 96,3%CK;
+ Tiền gửi tiết kiệm: 38.000 tỷ, bằng 128,7%CK;
+ Phát hành GT có giá: 2.400 tỷ, bằng 285,4%CK;
+ Vốn, tiền gửi khác: 2.200 tỷ, bằng 109,2% CK;
- Vốn vay và nhận điều hoà của các Ngân hàng thương mại Việt Nam dự kiến đến 31/12/2012 là 15.000 tỷ, bằng 84,2%CK.
Hoạt động tín dụng:
- Doanh số cho vay dự kiến năm 2012 đạt 104,2 nghìn tỷ, bằng 121,7%CK;
- Doanh số thu nợ dự kiến năm 2012 đạt 97,5 nghìn tỷ, bằng 125%CK;
- Tổng dư nợ vốn tín dụng dự kiến đến 31/12/2012 đạt 58.000 tỷ, tăng 2,1% so 30/11/2012 và tăng 13,1 % so với 31/12/2011.
- Thực hiện chỉ đạo của UBND Tỉnh về việc hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho người nuôi tu hài, đến 30/11/2012 các Ngân hàng Quảng Ninh đã gia hạn, cơ cấu lại nợ cho 3 doanh nghiệp và 239 cá nhân, hộ gia đình với dư nợ 28,3 tỷ đồng vay nuôi tu hài, bằng 100% số dư nợ vay; lãi suất cho vay được các ngân hàng thương mại điều chỉnh về dưới 13,5%/năm.
-Thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, các ngân hàng tiếp tục rà soát, đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng, phân loại nợ để thực hiện các biện pháp cơ cấu lại nợ vay, giảm lãi suất cho vay. Đến 30/11/2012, các ngân hàng đã thực hiện cơ cấu lại nợ cho 407 doanh nghiệp với số nợ 4.201 tỷ đồng.
- Cùng với việc mở rộng tín dụng, cơ cấu lại nợ, các ngân hàng đẩy mạnh công tác thẩm định, tăng cường kiểm soát tín dụng nhằm nâng cao chất lượng tín dụng, ngăn ngừa nợ xấu phát sinh; tích cực thu hồi, xử lý nợ xấu. Tổng nợ xấu trên toàn địa bàn là 1.461 tỷ đồng, dự kiến đến 31/12/2012 là 1.200 tỷ, chiếm tỷ trọng 2% tổng dư nợ.
Các hoạt động dịch vụ ngân hàng khác:
- Dịch vụ thanh toán, ngân quỹ:
Tổng thu tiền mặt năm 2012 ước đạt 331,6 nghìn tỷ đồng bằng 91%CK; tổng chi tiền mặt năm 2012 ước đạt 340,9 nghìn tỷ đồng bằng 92%CK;
4- Cân đối thương mại:
Xuất khẩu:
Ước tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2012 đạt 1.814 triệu USD, bằng 67,8% KH, bằng 71,7% so với cùng kỳ năm trước .
Dự tính kim ngạch xuất khẩu 3 khu vực:
Khu vực kinh tế trung ương đạt 1.324,6 tỷ đồng, bằng 63%KH và bằng 67,3% so CK ( giảm chủ yếu ở mặt hàng than).
Khu vực kinh tế địa phương ước đạt 178,6 tỷ đồng, bằng 51,8%KH và bằng 61,4% so CK; Khu vực này có các mặt hàng chủ yếu là hải sản, tùng hương, quần áo, gạch, ngói, cao su..
Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước năm đạt 310,8 tỷ đồng, bằng 135,1%KH và bằng 113,9% so CK.
Dự tính một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu cộng dồn đến 31/12/2012: Than đạt 14,8 triệu tấn bằng 84,3% so CK, bằng 101,9% KH; Hải sản đạt 2,9 nghìn tấn bằng 80,9% so CK và bằng 73,9% KH; Tùng hương đạt 8 nghìn tấn, bằng 102% so CK; Quần áo đạt 542 nghìn chiếc, bằng 81,2 % so CK và bằng 54,2% KH; Dầu thực vật đạt 16,1 nghìn tấn, bằng 110,6% so CK và bằng 101,1% KH; Giầy đạt 2.856 nghìn đôi, bằng 70,7% so CK và bằng 40,8% KH; Nến cây đạt 6.432 nghìn cây bằng 64,3% KH và bằng 85,9% CK; Sợi hóa học đạt 31.473 tấn bằng 125,9%KH và bằng 165,6% CK, Dăm gỗ đạt 347,5 nghìn tấn nghìn tấn bằng 347,5%KH và bằng 188,5%CK; Giấy vàng mã đạt 2.707 tấn bằng 108,4%KH và bằng 65,8%CK; Clanke đạt 1.920,9 nghìn tấn, bằng 192,1% KH và tăng 95,1% so CK, xi măng đạt 67,5 nghìn tấn bằng 13,5%KH và bằng 22,1% CK ./....