TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH QUẢNG NINH 6 THÁNG NĂM 2014

24/06/2014 11:00
Tình hình Kinh tế - Xã hội tỉnh Quảng Ninh 6 tháng năm 2014

I - PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1- Tăng trưởng kinh tế:
Sự chậm phục hồi của kinh tế thế giới và trong nước đã tác động tiêu cực đến đầu tư, sản xuất kinh doanh của một số ngành kinh tế và khu vực kinh tế trên địa bàn Quảng Ninh ngay từ những tháng đầu năm 2014.
Trên cơ sở đánh giá, dự báo sát diễn biến kinh tế, thực hiện mục tiêu tập trung nâng cao chất lượng tăng trưởng và phát triển kinh tế nhanh, bền vững đi đôi với việc đẩy mạnh thực hiện 3 đột phá chiến lược, tái cơ cấu nền kinh tế gắn với mô hình tăng trưởng… UBND tỉnh Quảng Ninh đã chỉ đạo, điều hành quyết liệt hạn chế tối đa ảnh hưởng của khó khăn kinh tế thế giới và trong nước đối với kinh tế Quảng Ninh; đảm bảo tăng trưởng kinh tế và an sinh xã hội; hoàn thành các quy hoạch; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính; tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp; thực hiện hiệu quả, đồng bộ các giải pháp huy động nguồn lực để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng; các công trình động lực có sức lan tỏa rộng; ưu tiên nguồn lực tập trung cho ứng dụng và chuyển giao khoa học công nghệ; tiếp tục chính sách hỗ trợ nông nghiệp nông thôn, chương trình xây dựng nông thôn mới; …
 Kết quả:
Kinh tế Quảng Ninh đã có những chuyển dịch tích cực theo hướng đa dạng hóa, giảm bớt sự phụ thuộc mang tính truyền thống của kinh tế Quảng Ninh trong nhiều năm qua vào ngành chủ lực là khai khoáng: Tỷ trọng ngành khai khoáng trong GRDP: 2010 – 27,5%, 2011- 25,7%, 2012 -23,4%, 2013 – 20,7%, 6T 2014- 23,4%, ước 2014-19%.
Vị thế của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được cải thiện rõ rệt cho thấy hiệu quả của công tác xúc tiến đầu tư trong những năm qua. Theo giá so sánh, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài năm 2011 chỉ chiếm khoảng 10,7% trong GRDP, năm 2013 ước đạt 12,6% và ước 6T 2014 lên tới 14,1%.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế Quảng Ninh quý I đạt 5,8%, quý II đạt 7,9%, 6 tháng đầu năm 2014 đạt 6,9 % (6 tháng năm 2013 đạt 6,5%); trong đó giá trị tăng thêm khu vực nông lâm nghiệp, thủy sản tăng 2,7% so CK đóng góp 0,1 điểm % trong mức tăng chung; khu vực công nghiệp – xây dựng tăng 5,2% so CK, đóng góp 2,7 điểm % vào mức tăng chung; khu vực dịch vụ tăng 9,5% so CK, đóng góp 4,1điểm % trong mức tăng chung.
2- Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản.
2.1. Sản xuất nông nghiệp:
Trồng trọt:
Kết quả điều tra kết thúc diện tích gieo trồng vụ Đông - Xuân năm 2014 đạt 36.867 ha cây các loại bằng 100,5 % so cùng kỳ. Diện tích gieo trồng lúa có giảm, nguyên nhân chủ yếu là do chuyển đổi mục đích sử dụng ở một số thành phố các khu đô thị.
Ngay từ đầu vụ Đông Xuân, các cấp, các ngành trong toàn tỉnh đã chỉ đạo sát sao và động viên nông dân mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu giống lúa mới cho năng suất cao theo hướng tăng diện tích lúa xuân và gieo thẳng, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất đạt năng suất cao và ít sâu bệnh. Vụ Đông Xuân năm 2014 thời tiết thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng tốt.
Tổng sản lượng lương thực có hạt ước tính 6 tháng đầu năm 2014 là 108,5 ngàn tấn bằng 99,8%, diện tích lúa Đông Xuân 6 tháng 2014 là 17.176 ha giảm 0,3% so CK , sản lượng 91.319,3 tấn bằng 99,3 %CK, đạt năng suất 53,2 tạ/ha; sản lượng ngô 17.046 tấn (tăng 2,4%CK); 16.477,5 tấn khoai lang (tăng 1,6%CK); 508,1 tấn đậu tương (bằng 81.3%CK); 3.918,3 tấn lạc (bằng 99,9%CK) và 93,5 nghìn tấn rau các loại (bằng 95,4%CK). Năng suất cây ngô tăng từ 37,8tạ/ha lên 38,3tạ/ha, khoai lang từ 59 tạ/ha lên 59,2tạ/ha, đậu tương tăng từ 13,6 tạ/ha lên 13,7 tạ/ha, năng suất cây lạc giữ nguyên so cùng kỳ.
Chăn nuôi:
Tình hình chăn nuôi trong tỉnh cơ bản vẫn ổn định, tuy đầu năm có xuất hiện bệnh dịch ở một vài nơi nhưng do phát hiện kịp thời nên không để xẩy ra dịch lớn. Đàn gia súc có chiều hướng giảm: trâu giảm 13,8%, bò giảm 1,8%, lợn giảm 4,2%. Đàn gia cầm như gà, vịt đều tăng so cùng kỳ: gà tăng 3,5%, vịt tăng 11,3%.
2.2. Lâm nghiệp :
 Hiện nay các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh đang tiếp tục khai thác gỗ, đồng thời tiến hành trồng rừng tập trung. Thời gian vừa qua thời tiết mưa nhiều ảnh hưởng đến tiến độ trồng rừng .
Ước 6 tháng toàn tỉnh trồng được 10.156 ha rừng tập trung, so cùng kỳ bằng 112,8 %.
Khai thác gỗ 6 tháng 2014 ước đạt 135.619 m3 bằng 95,5 % so với C. kỳ.
2.3. Thuỷ sản :
          Tới thời điểm này các đơn vị và hộ gia đình đã hoàn thành xong việc tôn tạo, nạo vét, dọn vệ sinh, tẩy rửa ao đầm, gây mẫu nước xong và tiến hành thả giống nuôi tôm cá vụ Xuân Hè năm 2014.
          Tình hình khai thác thủy sản bình thường, giá cả ổn định. Tuy nhiên, khai thác cũng gặp khó khăn do ngư trường gần bờ không thể đáp ứng được với số lượng tầu thuyền như hiện nay, đòi hỏi các hộ phải đầu tư, nâng cấp tầu thuyền để khai thác xa bờ.
Báo cáo ước tính Diện tích và sản lượng thủy sản 6 tháng năm 2014:
 
 
Chỉ tiêu
 
Mã số
Đơn vị tính
Năm trước
Năm báo cáo
So cùng kỳ (%).
Chính thức tháng
Cộng dồn từ đầu năm
Ước tháng
Cộng dồn từ đầu năm
CK năm trước
Cộng dồn năm trước
A
B
C
1
2
3
4
5=3/1*100
6=4/2*100
I-DT thủy sản nuôi thả
1
Ha
5.500
12.281
7.368
18.068
134
147
T.đó:+ Cá tra
2
Ha
0
0
0
0
0
0
 + Tôm sú
3
Ha
812
812
0
810
0
99,8
+ Tôm thẻ chân trắng
4
Ha
1.170
1.170
506
1.766
43,2
150,9
II- SL thủy sản
10
Tấn
4.954
43.052
5.026
45.050
101,4
104,6
1- Nuôi trồng
11
Tấn
1.311
14.544
1.530
15.950
116,7
109,6
T.đó:+ Cá tra
12
Tấn
0
0
0
0
0
0
 + Tôm sú
13
Tấn
11
87
0
87,5
0
100,6
+ Tôm thẻ chân trắng
14
Tấn
210
677
250
930
119
137,3
2- Khai thác thủy sản
15
Tấn
3.643
28.508
3.496
29.100
96,0
102,1
 
3. Sản xuất công nghiệp:
3.1.Khai khoáng
Từ năm 2010 đến nay sản lượng than sạch và than tiêu thụ trên địa bàn Quảng Ninh liên tiếp có chiều hướng đi xuống:
                                                                          Đơn vị tính: 1000 tấn
Năm
2010
2011
2012
2013
Ư.6T.2014
Ư.2014
Than sạch
42.181
43.024
40.282
39.224
19.457
37.265
Than tiêu thụ
42.619
44.779
38.892
38.153
19.728
35.985
Than sạch ước 6 tháng năm 2014 giảm 3,2% so CK, bằng 47,5% KH năm.
Mặc dù đã có rất nhiều giải pháp tháo gỡ khó khăn trong thời gian qua cho ngành than, nhưng do ảnh hưởng tiêu cực từ thị trường xuất khẩu than tác động mạnh làm cho ngành khai khoáng tăng trưởng âm 0,8%. Chiếm tỷ trọng lớn trong khai khoáng (98%), ngành than 6 tháng đầu năm 2013 đóng góp vào GRDP Quảng Ninh 1.921 tỷ, 6 tháng đầu năm 2014 chỉ còn 1.860 tỷ. Với tăng trưởng âm 0,8% ngành Khai khoáng đã làm giảm 16,88 tỷ GRDP so cùng kỳ, giảm 0,2 điểm % trong tổng mức tăng chung.
Chỉ số sản xuất công nghiệp khai khoáng 6 tháng năm 2014 so CK 96,82%.
3.2.Công nghiệp chế biến, chế tạo:
Công nghiệp chế biến, chế tạo ngoài nhà nước đã một số ngành vượt qua khó khăn như sx gạch nung tăng 22,2% so CK; quần áo may sẵn tăng 8,1% so CK, bằng 50,2% KH năm; đóng mới tàu tăng 5,4% so CK. Tuy nhiên sự giảm sút của clanke (giảm 7,4% so CK, chủ yếu tập trung ở Cty CP Xi măng và Xây dựng Quảng Ninh), sản xuất bia giảm 10,2% so CK; và việc chuyển đổi loại hình hoạt động của CTy CP Xi măng Thăng Long sang khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đã làm giảm 12,5% giá trị sản xuất của khu vực công nghiệp ngoài nhà nước.
Công nghiệp chế biến, chế tạo có vốn đầu tư nước ngoài tăng mạnh ở một số sản phẩm: dầu thực vật tăng 16,6%, bằng 47,2% KH năm; bột mỳ các loại tăng 14,5%, bằng 50,6% KH năm; sợi bông cotton tăng 389,6%, bằng 48,4% KH năm; giầy xuất khẩu tăng 6%; đặc biệt có sự chuyển đổi của Xi măng Thăng Long từ khu vực ngoài nhà nước sang đem đến cho khu vực này thêm hơn 400 tỷ đồng...Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá số định 1994 của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng tới 92,3% so CK..
Chỉ số sản xuất công nghiệp chế biến chế tạo 6 tháng năm 2014 so CK 118,41%.
Công nghiệp chế biến chế tạo từ tăng trưởng âm 0,3% (6 tháng đầu năm 2013) lên tăng trưởng dương 5,1% (6 tháng đầu năm 2014), đóng góp 0,7 điểm phần trăm trong tổng mức tăng chung.
3.3.Công nghiệp sản xuất phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý nước thải, rác thải:
Bốn nhà máy nhiệt điện sản xuất ổn định, sáu tháng đầu năm 2014 sản xuất 9,1 tỷ kw, tăng 33,3% so CK, bằng 59% KH năm. Giá trị sản xuất công nghiệp điện nước theo giá cố định tăng 31,7%. Chỉ số sản xuất phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 130,98%. Chỉ số sản xuất cung cấp nước sạch, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải đạt 103,57%. Hai ngành này đóng góp 179,4 tỷ vào tăng chung của GRDP và đóng góp 2,3 điểm phân trăm trong tổng mức tăng chung.
Chỉ số sản xuất chung của ngành công nghiệp 6 tháng năm 2014 so CK 100,8%. Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá cố định 1994 6 tháng 2014 tăng 5,9% so CK, bằng 45,2% so KH.
4. Bán lẻ hàng hóa, hoạt động các ngành dịch vụ:
Ngoài chịu ảnh hưởng của suy giảm kinh tế thế giới và trong nước, một số ngành dịch vụ Quảng Ninh những năm gần đây còn chịu ảnh hưởng bởi chính sách biên mậu Trung Quốc, có thể thấy rõ nét qua chỉ số phát triển của tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ giảm dần qua các năm từ 2010 đến nay:
Năm
2010
2011
2012
2013
Ư.6T.2014
Ư.2014
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ (tỷ đồng)
 
25.127
 
31.466
 
36.677,5
 
42.067
 
22.687
 
47.020,4
Chỉ số phát triển (%)
 
125,2
116,6
114,7
111,9
111,8
 
4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hoá
Ước 6 tháng đầu năm 2014 các nhóm hàng đa số đều tăng so cùng kỳ: lương thực, thực phẩm tăng 11,7%, may mặc tăng 9,5%, dồ dùng, dụng cụ TTBGĐ tăng 15%, vật phẩm văn hóa giáo dục tăng 3,5%, xăng dầu các loại tăng 7,9%, nhiên liêu khác tăng 19%; riêng phương tiện đi lại giảm(bằng 98,2% so CK).
Ước 6 tháng đầu năm 2014 so cùng kỳ tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng 11,4%, tốc độ tăng của các thành phần kinh tế chưa đạt được sự đồng đều: thành phần kinh tế nhà nước tăng 15,9%, thành phần kinh tế tư nhân tăng 32,1; nhưng thành phần kinh tế tập thể giảm 22,5%, thành phần kinh tế cá thể giảm 1%.
4.2. Dịch vụ lưu trú ăn uống:
 Ước tháng 6T/2014 dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 2.942,4 tỷ đồng, bằng 113,8% so CK (ư.6 tháng năm 2013 bằng 148% so CK) ;
Phân theo loại hình kinh tế:
Kinh tế Nhà nước 297,6 tỷ đồng, bằng 109,4% CK
Kinh tế ngoài Nhà nước đạt 2.438,8 tỷ đồng, bằng 114,9% CK
Kinh tế có vốn ĐTNN đạt 206 tỷ đồng, bằng 107,8% so CK
Trong dịch vụ lưu trú và ăn uống, dịch vụ ăn uống tăng 12,4% so CK, dịch vụ lưu trú tăng 19,4% so CK.
4.3.Vận tải
 Doanh thu vận tải
Ước 6T/2014 đạt 4.135,3 tỷ đồng, tăng 9,9 % so CK (Trong đó: Vận tải hàng hóa đường bộ tăng 9,9%;Vận tải hàng hóa đường thủy tăng 10%; Kinh tế Nhà nước tăng 10,2%; Ngoài Nhà nước tăng 9,9%; Khu vực có vốn ĐTNN tăng 9,8%)
Vận tải hàng hóa
Khối lượng hàng hóa vận chuyển ước 6T /2014 đạt 17.595,8 nghìn tấn, bằng 46,3%KH năm và tăng 9,9% so CK (Trong đó: đường bộ tăng 9,9%, đường sông tăng 9,7%, đường biển tăng 10,3%)
Khối lượng hàng hóa luân chuyển ước 6T /2014 đạt 2.988 triệu t.km, bằng 54,3%KH năm và tăng 10,2% so CK (Trong đó: đường bộ tăng 10,2%, đường sông tăng 9,7%, đường biển tăng 10,6%).
Vận tải hành khách
Khối lượng hành khách vận chuyển ước 6T /2014 đạt 22.058 nghìn hành khách, bằng 38%KH năm và tăng 8,9% CK (Trong đó: đường bộ tăng 8,8%, đường sông tăng 9,6%, đường biển tăng 10,1%).
Khối lượng hành khách luân chuyển ước 6T /2014 đạt 1.380,2 triệu hk.km, bằng 24,4%KH năm và tăng 9,9% so CK (Trong đó: đường bộ tăng 9,8%, đường sông tăng 10,4%, đường biển tăng 10,2%);
4.4.Hoạt động thông tin và truyền thông:
Sản lượng phát hành báo chí ước đạt 4.842.000 tờ (bằng 48% kế hoạch năm, giảm 3% so với cùng kỳ năm 2013), sản lượng bưu phẩm thường đi, đến trong nước và quốc tế ước đạt 11.642 kg (bằng 19,4% kế hoạch năm, giảm 5% so với cùng kỳ năm 2013); bưu kiện thường đi, đến từ liên tỉnh, quốc tế ước đạt 35.446 cái (bằng 3,5% kế hoạch năm, tăng 35% so với cùng kỳ năm 2013); thư, điện chuyển tiền từ liên tỉnh, quốc tế đi, đến ước đạt 119.701 bức (bằng 79,3% kế hoạch năm, tăng 15% so với cùng kỳ năm 2013); số tiền chuyển ước đạt 229,766 tỷ đồng (bằng 44% kế hoạch năm, tăng 2% so với cùng kỳ năm 2013). Doanh thu ước đạt 39.878 tỷ đồng (bằng 41% kế hoạch năm, tăng 3% so với cùng kỳ năm 2013).
            Tổng số thuê bao trên toàn tỉnh tính đến nay 2.048.504 thuê bao (gồm cả thuê bao cố định và di động) đạt 1.86 thuê bao/người. Số thuê bao phát triển ước đạt trong 6 tháng đầu năm là 549.834 tăng gấp 2,5 lần so với 6 tháng đầu năm ngoái. Về tổng số lượng điện thoại cố định (hữu tuyến và vô tuyến) so với 6 tháng đầu năm ngoái đã giảm -38% do nhu cầu của người dân sử dụng điện thoại cố định giảm. Ngược lại tổng số lượng thuê bao điện thoại di động (trả trước và trả sau) tăng mạnh, ước 6 tháng đầu năm nay đạt 547.312 thuê bao, tăng 158% nguyên nhân do: giá cước di động rẻ, đặc biệt là khi chúng ta mở cửa thị trường có sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, ngoài ra các doanh nghiệp tận dụng tối đa thị trường, tạo điều kiện cho người dân nông thôn, những người dân nghèo, dân đảo… có thể sử dụng dịch vụ điện thoại di động.
Cổng thông tin điện tử tỉnh với 74 kênh thành phần và 15 liên kết website. Đến nay, Hệ thống thư điện tử tỉnh đã có 6.157 hòm thư với 116 nhóm người dùng, bình quân lượng truy cập có hơn 2500 tài khoản/tháng. Hệ thống Hội nghị truyền hình trực tuyến được lắp đặt tới 73 điểm (20 điểm đến cấp huyện, thị xã, thành phố, một số sở, ngành và 56 điểm thuộc UBND xã, phường, thị trấn trong tỉnh) phát huy hiệu quả cao vào cải cách hành chính trong hoạt động quản lý, chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo các cấp, các ngành; Đề án xây dựng Chính quyền điện tử đang hoàn thiện, đến nay Trung tâm Hành chính công tỉnh và 05 Trung tâm Hành chính công ở các địa phương (Hạ Long, Móng Cái, Cẩm Phả, Uông Bí, Vân Đồn) đã đi vào hoạt động giúp giải quyết thủ tục hành chính của các cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp một cách công khai, minh bách, nhanh chóng và chính xác.
II. KIỀM CHẾ LẠM PHÁT, ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ
1- Giá và Chỉ số giá tiêu dùng
Chỉ số giá tháng 6 so với tháng trước: Chỉ số chung 100,01% , trong đó thực phẩm: 99,80% ; đồ uống và thuốc lá 100,02% ; may mặc mũ nón giày dép 99,97% ; Nhà ở điện, nước và VLXD 100,22% ;
 Chỉ số giá tiêu dùng tháng 6/2014 so cùng kỳ năm trước:
Chỉ số chung tăng 3,68%, tăng mạnh nhất là Nhà ở, điện, nước và VLXD tăng 6,13%; Thuốc và dụng cụ y tế tăng 1,29%; giao thông tăng 3,64%; May mặc, mũ, nón, giày, dép tăng 3,59%; Văn hóa giải trí và du lịch tăng 4,38%. 
Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 6T/2014 so cùng kỳ năm trước:
Chỉ số chung tăng 3,6%, tăng mạnh nhất là Nhà ở, điện, nước và VLXD tăng 6,03%; May mặc, mũ, nón, giày, dép tăng 3,98%; Giao thông tăng 3,81%; Văn hóa giải trí và du lịch tăng 3,96%; Nhóm giáo dục, thuốc và dịch vụ y tế, bưu chính viễn thông tăng thấp.
Giá Vàng: Chỉ số giá vàng tháng 6/2014 bằng 99,18% so với tháng trước, bằng 90,21% so cùng kỳ; bình quân 6 tháng 2014 so cùng kỳ 81,23%
Giá Đô la Mỹ: Chỉ số giá Đô la Mỹ tháng 6/2014 bằng 100,36% so tháng trước, bằng 99,91% so cùng kỳ; bình quân 6T/2014 so cùng kỳ 99,96%.
2. Hoạt động đầu tư, xây dựng
Trong 6 tháng đầu năm 2014 , hoạt động đầu tư nước ngoài trong thời gian qua tiếp tục đóng góp cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, cấp mới 03 Giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký và vốn bổ sung được cấp phép mới đạt 261,3 triệu USD, do các nhà đầu tư đến từ Hồng Kông và tập trung chủ yếu cho ngành xây dựng (đầu tư 215 triệu USD, chiếm 82,3%). Vốn đầu tư thực hiện cho ngành Công nghiệp chế biến chế tạo đạt 451,8 triệu USD tăng 9,8% so CK, Hoa Kỳ vẫn là nước có số vốn lớn nhất đạt 361,7 triệu USD tăng 29,5% CK.
Tổng vốn đầu tư toàn xã hội ước đạt 17.309 tỷ đồng tăng 7,5% so CK. Trong đó, vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng 11,14% trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội, ước tăng 19% so CK. Tổng vốn đầu tư của Tập đoàn Than 5.884,2 tỷ ( Trong đó: vốn của Tập đoàn đầu tư trên địa bàn Quảng Ninh 3.985 tỷ = 67,7% tổng vốn đầu tư của Tập đoàn) giảm 4,5% so CK.
3. Hoạt động Tài chính tín dụng
3.1. Thu, chi Ngân sách Nhà nước:
          Tổng thu NSNN trên địa bàn (bao gồm các khoản để lại chi quản lý qua ngân sách nhà nước) ước thực hiện 06 tháng: 17.214.793 triệu đồng, đạt 53% dự toán năm, tăng 21% cùng kỳ.
Trong đó:
+ Thu về hoạt động XNK ước thực hiện 06 tháng đạt: 9.608.962 triệu đồng, đạt 51% dự toán năm, tăng 31% cùng kỳ.
 + Tổng thu nội địa (phần cân đối ngân sách) ước thực hiện 06 tháng đạt: 7.508.505 triệu đồng, đạt 55% dự toán năm, tăng 11% cùng kỳ. Trong đó thu ngân sách địa phương ước thực hiện đạt: 6.205.349 triệu đồng, bằng 57% dự toán năm, tăng 14% cùng kỳ.
+ Các khoản thu để lại quản lý qua ngân sách nhà nước ước thực hiện 06 tháng đạt 97.326 triệu đồng bằng 78% dự toán năm, tăng 64% cùng kỳ.
          Tổng chi ngân sách địa phương ước thực hiện 06 tháng: 5.762.682 triệu đồng, đạt 48% dự toán năm, bằng 91% cùng kỳ. Trong đó: Chi ngân sách tỉnh ước thực hiện 06 tháng: 2.789.387 triệu đồng, đạt 42% dự toán năm, bằng 93% so cùng kỳ.
  Chi đầu tư phát triển ước thực hiện 06 tháng: 1.701.732 triệu đồng, đạt 41% dự toán năm, bằng 82% so cùng kỳ. Trong đó: Ngân sách tỉnh ước thực hiện 06 tháng: 1.070.980 triệu đồng, đạt 29% dự toán năm, bằng 97% cùng kỳ.
          Tổng chi thường xuyên ước thực hiện đạt: 3.606.939 triệu đồng, đạt 49% dự toán năm, tăng 16% cùng kỳ. Trong đó: Ngân sách tỉnh ước thực hiện 1.385.767 triệu đồng, đạt 52% dự toán năm, tăng 27% cùng kỳ.
             3.2. Hoạt động ngân hàng
Thực hiện nhiệm vụ năm 2014, ngành Ngân hàng Quảng Ninh đã quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm túc, quyết liệt các chỉ đạo của Chính phủ, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước và của Tỉnh Quảng Ninh về thực hiện các chủ trương, giải pháp điều hành chính sách tiền tệ, phát triển kinh tế xã hội năm 2014 với nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt là: Thực hiện điều hành chính sách lãi suất theo hướng phù hợp với diễn biến thị trường, tập trung vốn cho sản xuất, kinh doanh, nhất là các lĩnh vực ưu tiên, tiếp tục tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường và xử lý nợ xấu.
Tổng nguồn vốn hoạt động dự kiến đến 30/6/2014 đạt 80.900 tỷ đồng, tăng 12,4% so CK.
Vốn huy động tại địa phương dự kiến đến 30/6/2014 đạt 66.900 tỷ đồng, tăng 16,8% so CK.
 Doanh số cho vay dự kiến 6 tháng đầu năm 2014 là 68.600 tỷ đồng, tăng 21% so cùng kỳ, trong đó: cho vay ngắn hạn 60.000 tỷ đồng; cho vay trung và dài hạn 8.600 tỷ đồng.
 Doanh số thu nợ dự kiến 6 tháng đầu năm 2014 đạt 66.902 tỷ đồng, tăng 23,5% so cùng kỳ năm 2013, trong đó thu nợ ngắn hạn đạt 59.154 tỷ đồng, thu nợ trung, dài hạn đạt 7.748 tỷ đồng.
Trên cơ sở bám sát chỉ đạo của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước, các chỉ tiêu kế hoạch được giao và tình hình kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh, các Ngân hàng trên địa bàn đẩy mạnh triển khai các giải pháp tín dụng phù hợp với tình hình phát triển kinh tế tại địa phương, đưa ra các gói tín dụng ưu đãi nhằm thúc đẩy tăng trưởng tín dụng và tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, hỗ trợ thị trường.
Tổng dư nợ vốn tín dụng dự kiến đến 30/6/2014 đạt 64.600 tỷ đồng, tăng 6,3% so CK, trong đó: dư nợ cho vay ngắn hạn đạt 30.900 tỷ đồng, tăng 8% so CK, chiếm tỷ trọng 47,8%; dư nợ cho vay trung và dài hạn đạt 33.700 tỷ đồng, tăng 4,9% so CK, chiếm tỷ trọng 52,2%.
4.Cân đối thương mại:
Xuất khẩu
 Sáu tháng đầu năm 2014 với sự lớn mạnh không ngừng, mở rộng quy mô sản xuất, tỷ lệ đóng góp của Texhong Ngân Long vào tổng kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn tỉnh (ước 14,5%) đã đưa xuất khẩu Quảng Ninh thoát khỏi tăng trưởng âm hai năm qua ( 2012 giảm 19,9%, 2013 giảm 0,2%). Trong khi đó tỷ trọng xuất khẩu than trong tổng kim ngạch xuất khẩu đang có xu hướng giảm dần qua các năm:
 
Năm
2011
2012
2013
Ư.2014
6T
năm
6T
năm
6T
năm
6T
Cơ cấu xuất khẩu than trong tổng kim ngạch xuất khẩu (%)
68,7
65,7
69,9
64,4
63,7
49,2
43,1
Cơ cấu xuất khẩu than của tập đoàn Than trong tổng kim ngạch xuất khẩu (%)
65,0
62,5
61,3
60,8
61
45,8
36,5
Tỷ trọng các khu vực kinh tế trong tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu 6 tháng năm 2014: trung ương chiếm 47,2%, địa phương 15,2%, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 37,5%.
So với cùng kỳ: tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu tăng 1,5%, khu vực trung ương giảm 31,7%,  địa phương tăng 34,1%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 108,9%.
Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu so với cùng kỳ: Than đạt 4,3 triệu tấn bằng 59,7% so CK, bằng 48,6% KH năm; tùng hương 4.963 tấn, tăng 5,6% so CK, bằng 48,7% KH năm; dầu thực vật 5.333 tấn, bằng 76,9% so CK, bằng 43,7% KH năm; dăm gỗ 168.375 tấn, bằng 58% so CK , bằng 37,4% KH năm; xi măng 195.053 tấn, tăng 275,9% so CK và bằng 52,7% KH năm; clanke 1,2 triệu tấn tăng 36,1% so CK, bằng 58,1% KH năm.
Nhập khẩu
Ước tính 6T/2013 đạt 1.414 triệu USD, bằng 98,1% cùng kỳ.
So với cùng kỳ năm trước; xăng dầu các loại bằng 120,4%; hàng hóa khác bằng 69,7% …
 
III. BẢO ĐẢM AN SINH XÃ HỘI, PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC, Y TẾ, VĂN HÓA VÀ CÁC LĨNH VỰC XÃ HỘI KHÁC
Lao động, việc làm, đời sống dân cư, đảm bảo an sinh xã hội
Tuy nền kinh tế Tỉnh ta còn nhiều khó khăn do nguyên nhân khách quan đem lại: thị trường xuất khẩu than chưa cải thiện, bất động sản chưa phục hồi, chính sách biên mậu của Trung Quốc thay đổi, tình hình phức tạp ở Biển Đông...nhưng với sự cố gắng nỗ lực của tập thể lãnh đạo và nhân dân Quảng Ninh, tỉnh Quảng Ninh một mặt giữ vững và phát triển kinh tế theo hướng đa dạng hóa, một vẫn mặt đảm bảo an sinh xã hội. Để đảm bảo đời sống ổn định cho nhân dân, Tỉnh giải quyết thêm 14.043 lao động trong 6 tháng đầu năm 2014, đạt 54% KH năm, tạo việc làm mới cho 11.230 người, đạt 43,2% KH năm; chi 15,1 tỷ trợ cấp thất nghiệp và hỗ trợ học nghề; trợ cấp tết cho đối tượng nghèo và bảo trợ xã hội; ....
Tính đến thời điểm này ước trên địa bàn tỉnh có 686,9 nghìn lao động đang làm việc trong các ngành; trong đó khu vực nông lâm nghiệp, thủy sản 282,5 nghìn người (tỷ trọng 41,1%), khu vực công nghiệp- xây dựng 176,2 nghìn người (tỷ trọng 25,7%), khu vực dịch vụ 228,2 nghìn người (tỷ trọng 33,2%)
Tình hình dịch bệnh
Trước tình hình dịch bệnh trong nước và khu vực diễn biến phức tạp Quảng Ninh đã triển khai đồng bộ các giải pháp trong công tác phòng chống dịch trong 6 tháng đầu năm 2014 nên tình hình dịch bệnh tại Quảng Ninh vẫn tương đối ổn định: không có ca bệnh nhiễm cúm A(H5N1, H7N9), tính đến ngày 31/5/2014, toàn tỉnh có 723 trường hợp sốt phát ban trong đó kết quả xét nghiệm có 212 trường hợp mắc sởi xác định. Số địa phương có ca bệnh sởi là 12/14 huyện (Trừ Bình Liêu và Cô Tô). Không có ca bệnh tử vong do sởi.
Hoạt động giáo dục
Hoạt động giáo dục trên địa bàn Quảng Ninh ngày càng được các cấp và người dân quan tâm. Phát triển ngành giáo dục được xác định là mũi nhọn hàng đầu trong các hoạt động xã hội của Tỉnh. Hiện có  186/186 xã, phường, thị trấn tiếp tục duy trì, giữ vững phổ cập giáo dục THCS.Toàn tỉnh có 15.187 thí sinh đăng ký dự thi tốt nghiệp THPT và GDTX, trong đó có 1.529 thí sinh hệ GDTX, 13.658 thí sinh hệ giáo dục phổ thông. Tỷ lệ thí sinh dự thi ở khối THPT đạt 99,8% và GDTX đạt 98,6%. Trong ba ngày diễn ra kỳ thi không có giám thị và thí sinh vi phạm quy chế thi. Theo báo cáo của các trường ĐH, CĐ trên địa bàn tỉnh tổ chức thi, năm 2013 có 9.343 thí sinh đăng ký dự thi, giảm 557 thí sinh so với năm 2012. Số hồ sơ vào ngành Sư phạm, ngành Y tăng hơn năm 2012 từ 5% - 7%; hồ sơ vào ngành nông nghiệp tăng nhẹ; lượng hồ sơ vào các khối ngành kinh tế, kỹ thuật giảm nhẹ.
Hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch
Sáu tháng đầu năm 2014, số gia đình được công nhận gia đình văn hóa ước đạt 86%; làng, khu phố được công nhận làng, khu phố văn hóa ước đạt tỷ lệ 69%, số cơ quan xây dựng và thực hiện quy chế văn minh công sở đạt 100%. Ước trong 6 tháng, ba đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp đã biểu diễn 296 buổi, trong đó có 100 buổi phục vụ nhiệm vụ chính trị, thu hút 170 ngàn lượt người tới xem, doanh thu đạt gần 1 tỷ 300 ngàn đồng. 5.700 bản sách luân chuyển sách đến các thư viện, tủ sách cơ sở, thư viện trường học. Bổ sung sách mới: 1500 bản; báo, tạp chí: 200loại. Biên mục: Sách mới: 1500 bản;Đóng dấu, dãn nhãn: 1500 bản sách; In fix: 4500 fix.Thẻ cấp mới tại Thư viện tỉnh: 3.450 thẻ. Lư­ợt bạn đọc: 260.000lư­ợt (trong đó thư viện tỉnh: 57.656 lượt; 13 TV huyện: 202.344 lượt). Lượt bạn đọc truy cập trang web thư viện tỉnh: 90.247 lượt. L­ượt sách báo luân chuyển: 475.237 lượt (trong đó thư viện tỉnh: 220.470 lượt; 13 TV huyện 254.767 lượt.
Sáu tháng tổ chức 230 buổi chiếu phim phục vụ miền núi, hải đảo, vùng đặc biệt khó khăn bằng 36% kế hoạch năm 2014, phục vụ 23.000 lượt người xem, với các chủ đề: “Mừng Đảng Mừng Xuân Giáp Ngọ”; giải phóng miền nam thống nhất đất nước, 60 năm chiến thắng Điện Biên Phủ; tháng hành động vì trẻ em và Ngày quốc tế thiếu nhi. Doanh thu 900 triệu, đạt 72% kế hoạch năm 2014.
Tổ chức Đại hội Thể dục thể thao các cấp và cấp tỉnh với sự tham gia của 95% xã, phường, thị trấn, 100% các huyện, thị xã, thành phố và 6 đơn vị khối ngành trong tỉnh.Tại các giải thể thao toàn quốc, đội tuyển các môn của Quảng Ninh đã thi đấu đạt thành tích đáng khích lệ. Đến tháng 6, đã tham gia 17 lượt giải thể thao thành tích cao đạt 71 huy chương các loại (20 vàng, 24 bạc, 27 đồng).
Công tác quảng bá, xúc tiến du lịch, hợp tác quốc tế và phát triển sản phẩm được triển khai với các hình thức phong phú, đạt hiệu quả cao. Hợp tác với các tổ chức quốc tế về du lịch được đẩy mạnh như với CLB vịnh đẹp nhất thế giới, Diễn đàn du lịch Đông Bắc Á (EATOP), đặt văn phòng về du lịch và xúc tiến đầu tư tại Jeju, Hàn Quốc, Nhật Bản… Tiếp tục mở rộng không gian du lịch và phát triển sản phẩm đến các khu vực biển đảo và các địa phương phụ cận như Uông Bí, Quảng Yên, Vân Đồn, Cô Tô…
Hiện nay Du lịch Quảng Ninh đang thu hút nhiều nhà đầu tư các dự án: Khánh sạn 5 sao tại đảo Rều, Trung tâm thương mại tại TP Hạ Long, khu văn hóa nhà Trần kết hợp với trường quay phim lịch sử tại TP Uông Bí, dự án cáp treo tại cụm di tích chùa Ngọa Vân - Hồ Thiên…
Do ảnh hưởng của tình hình Biển Đông, doanh thu và khách du lịch tới Quảng Ninh tháng 6 giảm rõ rệt so tháng trước, đặc biệt là các thị trường khách Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông : Tổng số khách du lịch tháng 6 giảm 7,4% so tháng trước (khách quốc tế giảm 30,4%, lưu trú giảm 8,3%). Ước trong 6 tháng đầu năm, tổng số khách du lịch đến Quảng Ninh đạt 4,8 triệu lượt, tăng 1% so với cùng kỳ, trong đó khách quốc tế đạt 1,3 triệu lượt, tăng 6% so với cùng kỳ.
An ninh quốc phòng và trật tự an toàn xã hội
Theo báo cáo của Ban An toàn giao thông trong 6 tháng  trên địa bàn toàn tỉnh xảy ra 53 vụ TNGT làm chết 40 người, thương 49 người. Tình hình trật tự an ninh trên tuyến biên giới, biển đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và tình hình nội bộ nhân dân cơ bản ổn định./.

CỤC THỐNG KÊ QUẢNG NINH


Tìm kiếm theo chuyên mục - nội dung - ngày tháng

Tin Nóng
Tin tiêu điểm

Lịch công tác trống

Website liên kết
Thống kê truy cập
Hôm nay: 47
Đã truy cập: 174862