(Dự thảo) Đề án Xây dựng tổ chức và hoạt động của Hội Cựu chiến binh tỉnh đến năm 2020, tầm nhìn 2030 Quảng Ninh

15/01/2013 11:00

   (Dự thảo lần 1)

ĐỀ ÁN

Xây dựng tổ chức và hoạt động

của Hội Cựu chiến binh tỉnh Quảng Ninh

đến năm 2020, tầm nhìn 2030

____________________

  

Phần thứ nhất

SỰ CẦN THIẾT VÀ CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN

Quảng Ninh là tỉnh có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế và quốc phòng – an ninh, với diện tích 6.110 km2, có 132,8 km đường biên giới trên bộ giáp nước CHND Trung Hoa, với 250 km bờ biển và hàng ngàn đảo lớn nhỏ… Quảng Ninh nằm ở tuyến đầu vùng Đông Bắc của Tổ quốc, trong thế trận phòng thủ trọng yếu của quân khu 3 và cả nước, cũng là tỉnh nằm trong tam giác kinh tế trọng điểm Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh với những tiềm năng to lớn để phát triển công nghiệp, kinh tế biển và du lịch, dịch vụ…

Hội Cựu chiến binh tỉnh được thành lập tháng 3/1990, những năm đầu tới đại hội I (1992) được tổ chức ở 12 huyện, thị, với 186 Hội cơ sở xã, phường, thị trấn, số lượng gần 10 ngàn hội viên. Từ đó tới nay đã phát triển nhanh chóng, ổn định tổ chức và hoạt động có hiệu quả, chất lượng hoạt động ngày càng được nâng cao, cán bộ, hội viên luôn giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống "Bộ đội Cụ Hồ", hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao, được cấp ủy, chính quyền và nhân dân đánh giá cao, xứng đáng là chỗ dựa tin cậy của các cấp ủy Đảng, chính quyền.

1- Sự cần thiết xây dựng đề án:

Công tác Cựu chiến binh là công tác vận động quần chúng quan trọng của Đảng nhằm tập hợp, động viên các thế hệ Cựu chiến binh tích cực tham gia công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trước những yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao của quá trình CNH-HĐH đất nước và hội nhập quốc tế, công tác xây dựng và hoạt động của Hội Cựu chiến binh vừa phải đáp ứng với yêu cầu trước mắt, vừa phải có sự dự báo sát với tình hình phát triển của tỉnh và cả nước, để có cơ sở để tham mưu cho các cấp ủy Đảng lãnh đạo, chỉ đạo công tác Cựu chiến binh, làm cho hoạt động của Cựu chiến binh ngày càng có hiệu quả thiết thực, xứng với vị trí, tiềm năng và kỳ vọng của Đảng, chính quyền và nhân dân.

Chính vì vậy, các cấp Hội cần chủ động trong công tác quy hoạch, định hướng phát triển và có những bước đi phù hợp từng giai đoạn nhằm đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, nâng cao hiệu quả trong xây dựng, phát triển tổ chức Hội. Nhất là trong 10 đến 20 năm tới, số Hội viên Cựu chiến binh tham gia kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ sẽ giảm dần theo quy luật tự nhiên, số cựu binh ngày càng tăng, nên cần phải có chiến lược nhằm chủ động trong công tác vận động, tập hợp với những  nội dung, phương thức tổ chức và hoạt động phù hợp, nhằm tiếp tục phát huy bản chất, truyền thống "Bộ đội Cụ Hồ" của cựu chiến binh, cựu quân nhân.

2- Những căn cứ xây dựng đề án:

Để xây dựng đề án có cơ sở lý luận và thực tiễn, có tính dự báo cao, phù hợp với  sự phát triển chung, đề án phải căn cứ vào quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước và tình hình thực tiễn của địa phương và của Hội, mà trước hết là trong cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã khẳng định vai trò quan trọng của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

Trong các nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, VIII, IX, X, XI, đặc biệt là Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 08/01/2002 của Bộ Chính trị (khóa IX) và Kết luận số 66-KL/TW ngày 04/3/2012 của Ban Bí thư TW (khóa X) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác Cựu chiến binh Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới, Đảng đã khẳng định Hội Cựu chiến binh đã có bước phát triển vững chắc, hoạt động có hiệu quả; Đảng cần tăng cường lãnh đạo công tác Cựu chiến binh, để Cựu chiến binh tiếp tục phát huy bản chất, truyền thống "Bộ đội Cụ Hồ", phát huy tiềm năng to lớn của Cựu chiến binh trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

Căn cứ vào Pháp lệnh Cựu chiến binh Việt Nam, các nghị quyết, nghị định, thông tư, hướng dẫn của Chính phủ thi hành pháp lệnh, các quy định về tổ chức và hoạt động của Hội Cựu chiến binh Việt Nam và Điều lệ Hội Cựu chiến binh Việt Nam quy định về chức năng, nhiệm vụ của Hội Cựu chiến binh và các nghị quyết, chỉ thị, hướng dẫn của TW Hội Cựu chiến binh Việt Nam.

Căn cứ vào Báo cáo tổng kết 20 năm xây dựng và hoạt động của Hội Cựu chiến binh Việt Nam và Đánh giá tổng kết 20 năm của Hội Cựu chiến binh tỉnh Quảng Ninh cũng như Nghị quyết Đại hội Cựu chiến binh Việt Nam và Nghị quyết Đại hội Cựu chiến binh tỉnh Quảng Ninh lần thứ V, nhiệm kỳ (2012- 2017) đã có những dự báo về tình hình phát triển của Cựu chiến binh trong 10-15 năm tới.

Căn cứ Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII và nhất là đề án của tỉnh Quảng Ninh "Phát triển KT-XH nhanh, bền vững; bảo đảm vững chắc QP-AN và thí điểm xây dựng hai đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Móng Cái” đã được Bộ Chính trị  xem xét, chỉ đạo thực hiện.

Phần thứ hai

BỐI CẢNH RA ĐỜI VÀ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG

TRONG NHỮNG NĂM QUA CỦA HỘI CỰU CHIẾN BINH TỈNH QUẢNG NINH

1. Bối cảnh ra đời Hội Cựu chiến binh Việt Nam và Hội Cựu chiến binh tỉnh Quảng Ninh:

Tình hình thế giới vào những năm cuối của thập kỷ 80 của thế kỷ XX, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô lâm vào khủng hoảng toàn diện và sụp đổ, đây là tổn thất chưa từng có khiến tương quan lực lượng và cục diện cách mạng thế giới ở vào tình thế bất lợi, trong khi đó chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đẩy mạnh các hoạt động chống phá nhằm xóa bỏ các nước XHCN còn lại, trong đó Việt Nam là một trọng điểm...

 Tình hình trong nước, vào những năm cuối của thập kỷ 80, nước ta đứng trước những khó khăn thách thức to lớn cả về chính trị, kinh tế, xã hội. Đây là giai đoạn Đảng ta chuyển đổi mô hình kinh tế từ “tập trung quan liêu bao cấp” sang phát triển mô hình nền kinh tế thị trường định hướng XHCN có sự quản lý của nhà nước. Tuy nhiên, ở giai đoạn xóa bỏ cơ chế cũ không còn phù hợp, khi cơ chế mới chưa phát huy ngay hiệu quả, nền kinh tế chưa thể phục hồi, đời sống nhân dân vô cùng khó khăn, tưởng như không thể vượt qua được... Trong khi đó, các thế lực thù địch ráo riết thực hiện chiến lược "Diễn biến hòa bình", âm mưu bạo loạn lật đổ nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ những thành quả cách mạng Việt Nam mà nhân dân ta đã hy sinh biết bao xương máu mới giành được.

Tình hình Cựu chiến binh, sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986, trước tình hình mới, Đảng ta chủ trương điều chỉnh lớn về lực lượng và thế bố trí chiến lược, trong phạm vi cả nước có hàng triệu quân nhân được giải ngũ. Trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, Đặc khu quân sự được sáp nhập về Quân khu III, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh được tái lập, nhiều đơn vị được rút gọn, do đó có hàng vạn cán bộ, chiến sỹ được ra quân, xuất ngũ về địa phương, phần lớn đều còn sức khỏe và có nguyện vọng thiết tha là được hoạt động trong một tổ chức Hội để tiếp tục được đóng góp sức lực, trí tuệ, kinh nghiệm trong công tác vận động quần chúng, đấu tranh bảo vệ Đảng, chính quyền, chế độ XHCN, góp phần đưa đất nước vượt qua khó khăn.

Trước tình hình trên, Bộ Chính trị cho phép thành lập Hội Cựu chiến binh Việt Nam vào ngày 06/12/1989. Sau khi ra đời, Hội Cựu chiến binh Việt Nam đã chỉ đạo việc thành lập tổ chức Hội các cấp ở các địa phương. Được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Thường trực Tỉnh ủy Quảng Ninh, ngày 20/3/1990, Hội Cựu chiến binh tỉnh Quảng Ninh được thành lập và đi vào hoạt động.

2. Vị trí, vai trò, tiềm năng của Cựu chiến binh và Hội Cựu chiến binh:

Với việc thành lập Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Đảng, Nhà nước đã đánh giá rất cao vai trò, tiềm năng to lớn của Cựu chiến binh, đánh giá đó đã được thể hiện rõ trong các văn kiện của Đảng, Nhà nước: Hội Cựu chiến binh là một tổ chức chính trị - xã hội nằm trong hệ thống chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; Hội Cựu chiến binh là thành viên của Mặt trận Tổ quốc và là lực lượng nòng cốt trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

       Tiềm năng to lớn của Cựu chiến binh được thể hiện trước hết ở tiềm năng chính trị, tinh thần - Cựu chiến binh là những người lính được tôi luyện, thử thách trong chiến tranh ác liệt; được Đảng, quân đội giáo dục, rèn luyện nên tuyệt đại đa số kiên định, trung thành với lý tưởng cách mạng của Đảng, có giác ngộ cao về chính trị, về mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội... Hai là ở tiềm năng to lớn về tri thức khoa học, kỹ thuật quân sự, khoa học xã hội và nhân văn - với đông đảo Cựu chiến binh là cán bộ  lãnh đạo, chỉ huy, cán bộ quản lý, cán bộ khoa học, nhân viên kỹ thuật được nhà nước và quân đội rèn luyện, đào tạo. Hơn hết, với hơn 3 triệu Cựu chiến binh, phần lớn còn sức lao động, từng trải và có nhiều kinh nghiệm thực tiễn, nếu phát huy tốt sẽ có những đóng góp to lớn trong công cuộc xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc.

3. Kết quả hoạt động của Hội Cựu chiến binh tỉnh Quảng Ninh những năm qua:

Trong gần 23 năm qua, các thế hệ Cựu chiến binh Quảng Ninh luôn đoàn kết gắn bó, chủ động, sáng tạo, các cấp Hội hoạt động theo đúng đường lối chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật nhà nước và đã đạt được những kết quả quan trọng trên nhiều mặt:

Trước hết là, công tác xây dựng tổ chức Hội có bước phát triển vững chắc cả về số lượng và chất lượng. Trong quá trình xây dựng và trưởng thành, tới cuối năm 2012, tổng số hội viên toàn tỉnh lên tới 49.810 đ/c (đạt 94% tổng số Cựu chiến binh toàn tỉnh), thuộc 14 huyện, thị, thành Hội và Hội Cựu chiến binh cơ quan  Dân Chính Đảng tỉnh với 344 Hội cơ sở,  2.189 chi hội, trong đó số hội viên là đảng viên có 14.525 đ/c. Do làm tốt công tác bồi dưỡng, rèn luyện, tuyệt đại đa số cán bộ, hội viên Cựu chiến binh có lập trường tư tưởng kiên định vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, tin tưởng vào sự nghiệp đổi mới của Đảng; trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ Hội được nâng cao, đáp ứng được với yêu cầu nhiệm vụ chính trị được giao. Qua đánh giá, bình xét, phân loại tổ chức Hội, hội viên hàng năm: Chi hội đạt TSVM từ 89% trở lên; Hội cơ sở đạt TSVM từ 93% trở lên; Hội  trên cơ sở đạt TSVM 100%. Về tổ chức biên chế: cơ quan Tỉnh Hội có 3 ban và văn phòng, với 13 cán bộ, nhân viên; cán bộ chuyên trách cấp huyện có 48 đồng chí, 2 cán bộ kiêm nhiệm; cấp cơ sở có 186 cán bộ chuyên trách.

Hai là, Hội tham gia có hiệu quả vào thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Đảng, chính quyền. Hội luôn nhận thức rõ đây là nhiệm vụ chính trị hàng đầu, các cấp Hội đã làm tốt công tác quán triệt, tuyên truyền quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước tới đông đảo Cựu chiến binh và nhân dân. Động viên cán bộ, hội viên Cựu chiến binh tích cực tham gia đảm nhiệm các cương vị công tác ở địa phương khi có yêu cầu, nhất là công tác Đảng, công tác chính quyền, đoàn thể ở cơ sở thôn, khu, làng, bản với hơn 14.500 đồng chí, trong đó công tác Đảng, công tác chính quyền trên 7.300 đồng chí.

Mặt khác, tổ chức Hội các cấp đã thực hiện tốt chương trình phối hợp với các ngành, các đoàn thể, kiên quyết đấu tranh với các quan điểm sai trái, âm mưu "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch, đấu tranh chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí và các tệ nạn xã hội... Tích cực tham gia các chương trình phát triển KT-XH, các cuộc vận động, các phong trào ở địa phương, cơ quan, đơn vị góp phần hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển KT-XH, củng cố QP-AN ở địa phương…

Ba là, về nhiệm vụ phát triển kinh tế, giúp nhau giảm nghèo làm kinh tế giỏi. Xác định đây là nhiệm vụ hết sức quan trọng để tham gia giải quyết các vấn đề KT-XH, các cấp Hội đã chủ động, tích cực tham mưu cho cấp ủy, chính quyền các cấp lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt những chủ trương, cơ chế chính sách ưu đãi, tạo điều kiện  thuận lợi cho Cựu chiến binh trong phát triển kinh tế, giải quyết đời sống, vươn lên thoát nghèo. Các cấp Hội đã chủ động hướng dẫn Cựu chiến binh tiếp cận các nguồn vốn, nhất là vốn của Ngân hàng CSXH, các nguồn hỗ trợ đào tạo dạy nghề, giải quyết việc làm, quỹ XĐGN v.v… để phát triển sản xuất. Đến cuối 2012, tổng số vốn vay đã đạt trên 130 tỷ đồng, trong đó có hàng chục tỷ đống là vốn vay của Cựu chiến binh giúp đỡ nhau không lấy lãi.

Công tác xóa nghèo đạt kết quả tốt, tới nay số hộ Cựu chiến binh nghèo chỉ còn 1,49%, nhiều mô hình kinh tế được xây dựng, tới nay toàn tỉnh đã có 2.230 trang trại, gia trại làm ăn có hiệu quả và chiều hướng phát triển tốt, đã giúp cho Cựu chiến binh không chỉ thoát nghèo mà tới nay đã có gần 60% số hộ có mức sống khá trở lên.

Những năm gần đây, Hội Cựu chiến binh tỉnh đã tích cực chỉ đạo thành lập Hiệp hội Doanh nghiệp Cựu chiến binh tỉnh và các Hội Doanh nghiệp Cựu chiến binh cấp huyện. Đến nay đã có 178 doanh nghiệp Cựu chiến binh tham gia hiệp hội, bước đầu tạo sự liên doanh liên kết hỗ trợ giúp đỡ nhau trong phát triển sản xuất, kinh doanh có hiệu quả, góp phần phát triển kinh tế xã hội ở địa phương, giải quyết hàng chục ngàn việc làm cho người lao động, góp phần nâng cao đời sống cho Cựu chiến binh và nhân dân.

Bốn là, Hội đã phối hợp chặt chẽ với Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ:

Đây là nhiệm vụ quan trọng thường xuyên của các cấp Hội, thể hiện tình cảm, trách nhiệm của Cựu chiến binh đối với thế hệ trẻ. Những năm qua, Hội Cựu chiến binh tỉnh đã phối hợp với Tỉnh Đoàn tích cực, chủ động làm tốt công tác tham mưu cho Tỉnh ủy và cấp ủy các cấp trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng, củng cố, kiện toàn tổ chức Đoàn, nhất là tổ chức cơ sở, xóa những điểm trắng với phương châm “đâu có tổ chức Hội thì đó có tổ chức Đoàn”.

Các cấp Hội đều xây dựng chương trình phối hợp 5 năm, hàng năm với tổ chức Đoàn Thanh niên, tập trung vào công tác tuyên truyền giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ, nâng cao ý thức chính trị, trách nhiệm công dân cho đoàn viên thanh niên với nhiều hoạt động có ý nghĩa thiết thực như: Giao lưu truyền thống “Ký ức tháng tư”, “Âm vang Điện Biên”, các hoạt động “về nguồn”; các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, thăm hỏi giúp đỡ các đối tượng chính sách xã hội, gia đình liệt sỹ, thương binh, người có công; các hoạt động tuyên truyền bv chủ quyền biến giới biển đảo v.v…

Năm là, công tác vận động cựu quân nhân: Các cấp Hội đã chủ động làm tham mưu cho cấp ủy, chính quyền chỉ đạo, tổ chức vận động, tập hợp CQN vào sinh hoạt trong các câu lạc bộ - đây là tổ chức để quản lý, giáo dục đối với CQN. Phối hợp với quân sự, Đoàn Thanh niên tổ chức tuyên truyền vận động để CQN tự nguyện, tích cực tham gia câu lạc bộ, đến nay toàn tỉnh có 185 câu lạc bộ CQN với 7.858 CQN tham gia.

Sáu là, về nhiệm vụ đối ngoại nhân dân: Ý thức được tầm quan trọng của công tác đối ngoại nhân dân, nhất là ở một tỉnh biên giới như Quảng Ninh, các cấp Hội đã làm tốt công tác tham mưu cho cấp ủy các cấp, phối hợp làm tốt công tác tuyên truyền đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng. Chỉ đạo thực hiện công tác đối ngoại nhân dân của Cựu chiến binh, nhất là ở các khu vực biên giới, khu du lịch. Đón tiếp, làm việc và giao lưu với các đoàn Cựu chiến binh nước ngoài đến thăm Quảng Ninh.

Tóm lại, những năm qua, Hội Cựu chiến binh tỉnh Quảng Ninh đã quán triệt triển khai và thực hiện toàn diện các mặt công tác, xây dựng và hoạt động của Hội, được Đảng, Nhà nước, Chính phủ, TW Hội Cựu chiến binh Việt Nam và cấp ủy chính quyền địa phương ghi nhận, đánh giá cao. Các cấp Hội đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng 11 Huân chương, Hội Cựu chiến binh tỉnh được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhất, Nhì, Ba; được Chính phủ tặng cờ, bằng khen; TW Hội và các cấp, các ngành tặng hàng trăm bằng khen…

Có được những thành tựu trên là do Hội luôn nhận được sự lãnh đạo, chỉ đạo của TW Hội Cựu chiến binh Việt Nam; sự lãnh đạo trực tiếp của Tỉnh ủy, cấp ủy các cấp; sự quản lý, giúp đỡ , tạo điều kiện của chính quyền các cấp, sự phối hợp với các sở, ban, ngành, MTTQ, các đoàn thể và hơn hết là sự chủ động, nhạy bén, sáng tạo, đoàn kết, trách nhiệm của BCH các cấp, sự đồng thuận và quyết tâm phấn đấu của cán bộ, hội viên Cựu chiến binh trong toàn tỉnh.

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ, vẫn còn một số hạn chế, thiếu sót sau:

- Về công tác chính trị tư tưởng, tuy có nhiều cố gắng, song cũng có những thời điểm, có nơi việc nắm bắt tư tưởng của Cựu chiến binh chưa thật chắc, việc thông tin tình hình, báo cáo, phản ánh tổ chức Hội cấp trên định hướng tư tưởng để giải quyết những vấn đề mới phát sinh của cơ sở, có nơi chưa thật chủ động, nhạy bén và kịp thời.

- Phong trào hoạt động của một số cơ sở Hội còn trầm lắng, chậm đổi mới nội dung, phương thức hoạt động nên chất lượng, hiệu quả còn hạn chế, còn có những tổ chức Hội chưa gắn chặt nhiệm vụ của Hội với  thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ sở, đơn vị, do đó nội dung hoạt động chưa đồng đều, vẫn còn chi hội, phân hội còn yếu, hoạt động lúng túng, xơ cứng.

- Công tác xây dựng đội ngũ cán bộ tuy có định hướng, quy hoạch song chưa thật cơ bản, nhận thức của các cấp Hội về công tác quy hoạch, nhận xét, đánh giá, tuyển chọn, sắp xếp, sử dụng chưa nhất quán, còn biểu hiện hữu khuynh, khép kin…

- Công tác giảm nghèo khá nhanh nhưng chưa thật bền vững, vẫn còn tỷ lệ tái nghèo khá cao. Mốt số nơi vẫn còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự giúp đỡ của nhà nước, xã hội…

- Việc lãnh đạo phát huy dân chủ có nơi còn hạn chế, công tác kiểm tra, giám sát ở cấp cơ sở làm chưa thường xuyên, tích cực. Cá biệt vẫn còn một số Cựu chiến binh có biểu hiện công thần, chưa thật gương mẫu, vi phạm đạo đức lối sống, ảnh hưởng tới uy tín của Hội.

Nguyên nhân của những hạn chế, thiếu sót trên là do:

- Vai trò tham mưu của một số đơn vị Hội chưa thật tích cực, đôi khi còn ỷ lại, thiếu nhạy bén, nhất là tham mưu trong công tác, xây dựng, hoạt động của Hội. Ngoài ra, nhận thức của một số cấp Hội về Nghị quyết 09 của Bộ Chính trị, việc tham mưu cho cấp ủy thực hiện Nghị quyết 09, Kết lận 66 của Ban Bí thư và hướng dẫn của Trung ương Hội còn chậm. Công tác phối hợp với chính quyền, MTTQ, các đoàn thể có nơi chưa chặt chẽ, hiệu quả chưa cao.

- Việc tổ chức quán triệt, học tập các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về công tác Cựu chiến binh của một số đơn vị chưa sâu, chưa kịp thời, mặt khác, việc cập nhật một số thông tin chưa thường xuyên nên có hạn chế về nhận thức; Công tác kiểm tra, đôn đốc còn hạn chế.

Một số kinh nghiệm rút ra trong quá trình xây dựng và hoạt động:

- Cần triệt để tuân thủ nguyên tắc: Hội hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của nhà nước; đồng thời phát huy vai trò chủ động sáng tạo, nhạy bén trong việc làm tham mưu cho cấp ủy Đảng về xây dựng, hoạt động của Hội.

- Hội luôn nắm vững nhiệm vụ hàng đầu là tham gia xây dựng, bảo vệ Đảng, chính quyền, chế độ XHCN, thường xuyên coi trọng công tác giáo dục chính trị tư tưởng, không ngừng giữ gìn và nâng cao phẩm chất cách mạng, bản lĩnh chính trị cho cán bộ, hội viên.

- Thường xuyên kiện toàn, xây dựng tổ chức bộ máy, biên chế cán bộ Hội, chăm lo xây dựng, bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực cho đội ngũ cán bộ, từng bước đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

- Gắn việc động viên Cựu chiến binh thực hiện nhiệm nhiệm vụ chính trị của Hội với quan tâm chăm lo đời sống vật chất,  tinh thần, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Cựu chiến binh.

- Chú trọng đổi mới nội dung, phương thức, hoạt động của các cấp Hội. Gắn nhiệm vụ chính trị của Hội hướng vào thực hiện các nhiệm vụ của địa phương, cơ sở, đơn vị.

 

Phần thứ ba

QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ GIẢI PHÁP

 

 

A -  DỰ BÁO TÌNH HÌNH THẾ GIỚI, TRONG NƯỚC, ĐỊA PHƯƠNG VÀ CỦA HỘI Cựu chiến binh TRONG THỜI GIAN TỚI:

Thời gian tới, tình hình thế giới và khu vực tiếp tục có sự thay đổi nhanh chóng; xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn nhưng vẫn còn nhiều diễn biến phức tạp, khó lường như: khủng bố quốc tế, sự chi phối và can thiệp của các nước lớn, những diễn biến tranh chấp chủ quyền biển, đảo, tài nguyên, nhiều vấn đề toàn cầu, khu vực… đòi hỏi phải có sự phối hợp mạnh mẽ của cộng đồng quốc tế mới giải quyết được. Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ phát triển ngày càng mạnh mẽ, đòi hỏi các quốc gia, dân tộc phải có nguồn nhân lực đủ sức tiếp cận, làm chủ được những khoa học, công nghệ tiên tiến  phục vụ cho quá trình hội nhập và phát triển.

Trong nước, những năm tới, tình hình kinh tế - xã hội tiếp tục có sự ổn định và bước phát triển mới; tình hình chính trị - xã hội cơ bản ổn định; QP-AN được giữ vững. Với mục tiêu năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, đời sống nhân dân sẽ được cải thiện rõ rệt. Sau lạm phát và suy giảm, kinh tế nước ta tiếp tục phục hồi, bước đầu đã khắc phục được những hạn chế, yếu kém trên các lĩnh vực. Tuy nhiên, kinh tế vĩ mô của nước ta phát triển chưa thực sự vững chắc, nền kinh tế còn gặp nhiều khó khăn do suy thoái, bất ổn vĩ mô, cần phải  tái cơ cấu, cải cách thể chế và đổi mới mô hình phát triển để nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh, khắc phục những hạn chế, yếu kém, bảo đảm kinh tế thực sự phát triển nhanh, bền vững, hội nhập thành công với nền kinh tế thế giới.

Mặt khác, trong quá trình phát triển đi lên, nước ta vẫn  đứng trước những thách thức lớn, đan xen nhau, tác động tổng hợp và diễn biến phức tạp không thể coi thường như: Nguy cơ tụt hậu xa hơn so với nhiều nước trong khu vực và thế giới vẫn tồn tại; tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không  nhỏ cán bộ, đảng viên gắn với tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí đã được Hội nghị TW4 (khóa XI) chỉ rõ…; Các thế lực thù địch vẫn tiếp tục  thực hiện âm mưu "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ với  các chiêu bài dân chủ, nhân quyền nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng, thay đổi chế độ XHCN nước ta…

Quảng Ninh là tỉnh nằm trong trục tam giác kinh tế phía Bắc (Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh), có tiềm năng phát triển to lớn, những năm qua kinh tế phát triển nhanh chóng (trên 12%/năm). Nghị quyết Đại hội XIII Tỉnh Đảng bộ đề ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2015 Quảng Ninh cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại (về trước 5 năm so với  cả nước). Tình hình an ninh chính trị, TT-ATXH của tỉnh cơ bản ổn định, QP-AN được giữ vững và tăng cường, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện. Tuy nhiên, tỉnh cũng đứng trước những khó khăn, thách thức về chênh lệch vùng miền, về trình độ phát triển, về phân hóa giàu nghèo; vấn đề môi trường; an ninh, chủ quyền biên giới biển đảo v.v…  đòi hỏi các cấp Hội cần quán triệt sâu sắc các chỉ thị, nghị quyết của Đảng để tập trung xây dựng Hội  TSVM, thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao.

Về xu hướng phát triển của Hội Cựu chiến binh đến năm 2020, tầm nhìn 2030: Trong những năm tới, hoạt động của tổ chức Hội Cựu chiến binh và nguồn kết nạp hội viên mới cho Hội tiếp tục có sự phát triển, song số Cựu chiến binh trực tiếp tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu qua các thời kỳ sẽ giảm dần, số quân nhân hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về tăng dần, chiếm tỷ lệ ngày càng lớn, nên cần nghiên cứu, điều chỉnh, thay đổi về phương thức vận động, tập hợp, nội dung hoạt động và chế độ chính sách cho phù hợp với đối tượng. Tổ chức Hội và hội viên khối 487 sẽ giảm dần, cần phải có sự điều chỉnh về tổ chức và hoạt động cho phù hợp để phát huy hiệu quả…

* Quan điểm:

Để đáp ứng yêu cầu tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Cựu chiến binh, công tác Cựu chiến binh, các cấp Hội cần tham mưu cho cấp ủy Đảng tiếp tục quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 09 ngày  08/01/2002 của Bộ Chính trị về các quan điểm sau:

Cựu chiến binh Việt Nam xuất thân từ các tầng lớp xã hội trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, mà phần lớn là từ các giai cấp lao động, đã chiến đấu, trưởng thành trong các lực lượng vũ trang nhân dân do Đảng thành lập, tổ chức và lãnh đạo, được rèn luyện qua các cuộc kháng chiến oanh liệt, có những cống hiến rất to lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ tổ quốc; là lực lượng cách mạng truyệt đối trung thành với Đảng; có kinh nghiệm trong đấu tranh cách mạng và xây dựng đất nước; phần lớn còn sức lao động. Đảng, nhà nước, toàn xã hội cần tạo điều kiện, bồi dưỡng và động viên để Cựu chiến binh tiếp tục phát huy bản chất truyền thống "Bộ đội CỤ Hồ", gương mẫu đóng góp vào thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong giai đoạn cách mạng mới.

Công tác Cựu chiến binh là một trong những công tác vận động quần chúng quan trọng của Đảng, là trách nhiệm của hệ thống chính trị, của các cấp, các ngành, của toàn xã hội, trong đó Hội Cựu chiến binh là nòng cốt, nhằm tập hợp, đoàn kết, phát huy sức sáng tạo của Cựu chiến binh đóng góp thiết thực vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Đảng, nhà nước, xã hội  động viên Cựu chiến binh phát huy tinh thần tự lực tự cường, đoàn kết tương thân, tương thân, tương ái để giúp nhau cải thiện và nâng cao đời sống; đồng thời, quan tâm chăm lo đến đời sống và các quyền lợi hợp pháp của Cựu chiến binh.

Hội Cựu chiến binh Việt Nam là một tổ chức chính trị- xã hội, đại diện ý chí và quyền lợi của Cựu chiến binh, là thành viên của Mặt trận tổ quốc Việt Nam, là một cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, một tổ chức trong hệ thống chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, hoạt động theo đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nhà nước và điều lệ Hội.

B. MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP:

* Mục tiêu tổng quát là tập trung xây dựng Hội TSVM với tư tưởng chỉ đạo: “Trung thành – đoàn kết – gương mẫu – đổi mới”, chấp hành tuyệt đối sự lãnh đạo của Đảng, vận động, động viên, tập hợp các thế hệ Cựu chiến binh giữ gìn và phát huy bản chất, truyền thống "Bộ đội Cụ Hồ", kiên định mục tiêu lý tưởng cách mạng và đường lối đổi mới của Đảng, kiên quyết đấu tranh chống các quan điểm, tư tưởng sai trái, phản động, thù địch. Nêu cao tinh thần trách nhiệm quyết tâm thực hiện thắng lợi các nghị quyết của Đảng, của cấp ủy các cấp và nhiệm vụ chính trị của Hội, xứng đáng là lực lượng tin cậy của Đảng, chính quyền và nhân dân.

Căn cứ vào tình hình và khả năng thực tế, mục tiêu cụ thể tới năm 2020 đối với Hội Cựu chiến binh tỉnh Quảng Ninh là:

Xây dựng các tổ chức Hội trong sạch vững mạnh (trong đó 100% thôn, khu, khe bản có tổ chức Hội Cựu chiến binh; 97% tổ chức Hội đạt TSVM; 96% hội viên đạt tiêu chuẩn “Hội viên gương mẫu”);

Xây dựng đội ngũ cán bộ Hội các cấp có chất lượng tốt, đội ngũ cán  bộ cơ sở đạt chuẩn theo yêu cầu  xây dựng cán bộ công chức, phấn đấu tuyệt đại đa số cán bộ hội Cựu chiến binh có lập trường tư tưởng kiên định vững vàng, có nhận thức đúng đắn về quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, nắm vững chức năng, nhiệm vụ của Hội; 90% cán bộ được bồi dưỡng, tập huấn, không có cán bộ vi phạm kỷ luật, pháp luật nghiêm trọng.

Về phát triển kinh tế nâng cao đời sống, xóa nghèo, làm kinh tế giỏi: phấn đấu đến năm 2015 cơ bản không còn hộ cựu chiến binh nghèo theo tiêu chí hiện hành, 65% Hộ gia đình cựu chiến binh có mức sống khá trở lên, đến năm 2020 đạt 75% số hộ gia đình cựu chiến binh khá giả trở lên; Phấn đấu đến năm 2015 có 10/14 đơn vị, tới 2020 có 12/14 đơn vị huyện, thị, thành Hội thành lập được Hội doanh nghiệp Cựu chiến binh, Hiệp hội Doanh nghiệp Cựu chiến binh tỉnh có số lượng  trên 200 thành viên, hoạt động nền nếp, hiệu quả, thiết thực.

* Nhiệm vụ, giải pháp:

Làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, hội viên Cựu chiến binh, tập trung quán triệt, học tập các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, của TW, của cấp ủy các cấp, nhiệm vụ của các địa phương, cơ quan, đơn vị. Đây là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu nhằm bồi dưỡng, xây dựng con người, do đó phải được các cấp Hội quan tâm thực hiện thường xuyên, liên tục nhằm bồi dưỡng cho Cựu chiến binh nâng cao bản lĩnh chính trị, đạo đức lối sống, trình độ hiểu biết về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước, những kiến thức về kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật… đáp ứng yêu cầu công tác xây dựng và hoạt động của Hội.

Hàng năm xây dựng kế hoạch giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, hội viên, phải xác định rõ những yêu cầu cần đạt được trong giáo dục, nội dung chủ yếu tập trung quán triệt, học tập, phổ biến các nghị quyết của Đảng, của cấp ủy các cấp, nghị quyết của các cấp Hội, nhiệm vụ chính trị của các địa phương, cơ quan, đơn vị, đồng thời phải có những hình thức, phương pháp thích hợp nhằm nâng cao chất lượng công tác giáo dục.

Chấp hành nghiêm kế hoạch học tập các chuyên đề, các lớp tập huấn theo kế hoạch của TW Hội và của tỉnh Quảng Ninh tổ chức; mặt khác có kế hoạch tập huấn, bồi dưỡng cán bộ Hội Cựu chiến binh các cấp.

Duy trì thường xuyên và nâng cao chất lượng chuyên mục truyền hình hàng tháng, thông tin Cựu chiến binh Quảng Ninh hàng quý, các tin, bài trên cổng thông tin điện tử của tỉnh, xây dựng, mở rộng đội ngũ cộng tác viên, kịp thời thông tin tới cán bộ, hội viên trong tỉnh những kết quả hoạt động của các cấp Hội, đặc biệt là gương người tốt, việc tốt, những cách làm hay, hiệu quả, làm cơ sở cho các tổ chức Hội và cán bộ, hội viên vận dụng, học tập làm theo.

Coi trọng công tác tuyên truyền miệng, nhất là những vấn đề nhạy cảm cần phải thông tin trực tiếp; duy trì nền nếp việc thông báo thời sự, nói chuyện chuyên đề hàng quý ở cấp cơ sở với phương châm: Cấp trên trực tiếp đảm nhiệm phổ biến, tuyên truyền, thông tin cho cấp dưới. Các cấp chủ động xây dựng đội ngũ báo cáo viên  ngày càng có trình độ chuyên sâu. Phối hợp chặt chẽ với báo cáo viên cấp ủy, cơ quan tuyên giáo, trung tâm bồi dưỡng chính trị trong công tác tuyên truyền. Thường xuyên đảm bảo tốt thông tin cho cán bộ, hội viên, chú trọng đến các tổ chức Hội ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.

1. Xây dựng tổ chức Hội TSVM:

       Trong những năm tới, tỷ lệ cơ cấu hội viên các thời kỳ chống Pháp, chống Mỹ, làm nhiệm vụ quốc tế và bảo vệ Tổ quốc đang có sự chuyển dịch dần theo thời gian: Hiện nay số hội viên đã qua kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ chiếm khoảng 50% và ngày càng giảm theo quy luật tự nhiên (mỗi năm giảm gần 500 Cựu chiến binh từ trần), số còn lại tuổi cao sức yếu.

       Đến năm 2030, số Cựu quân nhân hoàn thành nghĩa vụ quân sự được kết nạp vào Hội với tỷ lệ ngày càng cao do Điều lệ Hội quy định đối tượng. Số hội viên mới được kết nạp tuy ưu điểm về sức khoẻ, tuổi đời còn trẻ, được đào tạo, học tập qua nhiều trường lớp, có trí thức, nhanh nhạy với sự đổi mới và cơ chế thị trường, nhưng chưa được tôi luyện thử thách qua chiến tranh, tích luỹ kinh nghiệm trong hoạt động thực tiễn và đấu tranh cách mạng còn hạn chế, còn bộc lộ nhiều nhược điểm. Vì vậy, vấn đề đặt ra là cùng với việc phát triển về số lượng phải coi trọng việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các tổ chức Hội. Về tổ chức phải phù hợp với tình hình thực tiễn trong từng thời kỳ theo quy định của Điều lệ Hội. Qua thực tiễn cho thấy tổ chức Hội Cựu chiến binh như hiện nay cơ bản là phù hợp, mặc dù số hội viên kinh qua chiến đấu ngày càng giảm đi, số hội viên chưa qua chiến đấu ngày càng tăng nhưng bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” vẫn được giữ vững và phát huy, nhưng về lâu dài (từ năm 2020trở đi), số "Cựu binh" dần chiếm đa số nên vấn đề quan trọng hàng đầu của tổ chức Hội vẫn là đoàn kết, vận động Cựu chiến binh, Cựu quân nhân giữ vững và phát huy truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, vững vàng trước mọi thử thách và diễn biến phức tạp của tình hình, dù trong hoàn cảnh nào, Hội Cựu chiến binh vẫn là lực lượng tuyệt đối trung thành với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa, là chỗ dựa tin cậy của cấp uỷ chính quyền và nhân dân, hoàn thành tốt nhiệm vụ hàng đầu của Hội là góp phần xây dựng bảo vệ Đảng, chính quyền và chế độ.

  Về tổ chức Hội Cựu chiến binh trong các cơ quan đơn vị hành chính, sự nghiệp, doanh nghiệp (gọi tắt là Hội Cựu chiến binh Khối 487) có xu hướng giảm do hội viên đến tuổi về nghỉ hưu, số mới kết nạp vào Hội không nhiều. Xu hướng từ nay đến năm 2020 chưa có biến đổi lớn về hội viên và tổ chức cơ sở Hội nhưng đến năm 2030, Hội Cựu chiến binh thuộc khối 487 cần có tổ chức hoạt động cho phù hợp với tình hình mới, để tiếp tục tập hợp Cựu chiến binh, Cựu quân nhân phát huy vai trò, vị trí và tiềm năng của Hội trong các đơn vị hành chính, sự nghiệp, doanh nghiệp.

  Xác định mục tiêu phát triển hội viên và tổ chức Hội đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 như sau:

      - Đẩy mạnh tuyên truyền vận động, phát triển số lượng, nâng cao chất lượng hội viên, chú trọng đối tượng mới ở vùng sâu, xa, biên giới, hải đảo, dân tộc và ở các doanh nghiệp tư nhân, cổ phần, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Kết nạp đối tượng vào Hội đạt 95% trở lên.

- Phấn đấu 100% hội viên kiên định vững vàng về chính trị tư tưởng.

- 95% trở lên "Hội viên gương mẫu", 90% trở lên đạt "Gia đình Cựu chiến binh văn hoá".

- Không có tổ chức Hội yếu kém, hội viên vi phạm pháp luật nghiêm trọng.

- Có kế hoạch thành lập tổ chức Hội trên cơ sở Hội ở ngành Than (hiện tại  các Hội cơ sở ngành Than đều thuộc các huyện, thị, thành phố).

- Phấn đấu 100% doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ngoài khu vực Nhà nước (có đủ điều kiện) được thành lập tổ chức cơ sở Hội Cựu chiến binh.

- 100% các thôn khe bản trên địa bàn tỉnh có chi hội Cựu chiến binh.

- 100% cán bộ Hội được tập huấn, bồi dưỡng hàng năm.

- 90% trở lên tổ chức Hội cơ sở đạt trong sạch vững mạnh.

- Làm tham mưu cho cấp ủy, chính quyền tổng kết Pháp lệnh Cựu chiến binh, làm cơ sở để Trung ương nghiên cứu đề xuất với Đảng, Nhà nước xây dựng Luật Cựu chiến binh Việt Nam.

      - Xây dựng, kiện toàn nâng cao chất lượng hoạt động của Ban Chấp hành, cơ quan Thường trực các cấp, chú trọng xây dựng tổ chức cơ sở Hội trong sạch, vững mạnh.

 - Phối hợp với các cơ quan chức năng thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Pháp lệnh Cựu chiến binh, nghị định của Chính phủ, thông tư liên tịch của Hội với các bộ, ngành về tổ chức biên chế, chế độ, chính sách đối với tổ chức Hội và Cựu chiến binh.

- Cải tiến nội dung, hình thức, nâng cao chất lượng sinh hoạt, nhất là sinh hoạt chi hội. Nội dung sinh hoạt cần kết hợp hài hòa giữa thông tin tình hình với 3 chuyên đề: Xây dựng Hội; thực hiện nhiệm vụ của cấp ủy địa phương giao; giúp nhau xóa nghèo, phát triển kinh tế gia đình, giáo dục con cháu, xây dựng gia đình văn hóa. 

 Về xây dựng đội ngũ cán bộ: Đây là khâu then chốt và có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác xây dựng Hội, vì vậy các cấp Hội phải chú trọng chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 3 (khoá VIII) của Đảng về chiến lược cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và các Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Hội về công tác cán bộ, quy hoạch cán bộ Hội… Việc quy hoạch, tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng cần được quan tâm thường xuyên, đảm bảo đội ngũ cán bộ Hội luôn được kiện toàn đủ số lượng, đảm bảo chất lượng. Cán bộ Hội trong 22 năm qua đa số là những cán bộ lãnh đạo, chỉ huy trong Quân đội Nhân dân Việt Nam tham gia kháng chiến chống Mỹ, được học tập nhiều về lý luận chính trị, quân sự, khoa học, kỹ thuật, chuyên môn ở các trường của Đảng, Nhà nước và Quân đội. Nhưng khi về địa phương chưa được đào tạo lại, nhất là cán bộ vùng núi, hải đảo, vùng xa, vùng sâu nên hiểu biết về đường lối, chủ trương, chính sách về kinh tế, pháp luật của Nhà nước còn hạn chế, do đó xác định mục tiêu công tác cán bộ Hội đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 như sau:

 - Tiếp tục tham mưu cho cấp ủy xây dựng, kiện toàn tổ chức bộ máy và biên chế cán bộ Hội các cấp đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

 - Nắm vững tiêu chuẩn lựa chọn cán bộ Hội là những Cựu chiến binh có quá trình rèn luyện, phấn đấu tốt trong quân đội; có năng lực công tác, phẩm chất đạo đức tốt, sức khỏe phù hợp; có uy tín với Cựu chiến binh, với cấp ủy, chính quyền và nhân dân.

- Chủ động phối hợp với Ban Tổ chức Tỉnh ủy, Ban tổ chức TW Hội làm tốt công tác tham mưu, đề xuất báo cáo  Tỉnh ủy, TW Hội  để làm tốt công tác quy hoạch, sử dụng cán bộ Hội cho các nhiệm kỳ tiếp theo, với phương châm một chức danh xếp 2-3 người, một người có thể xếp 2-3 chức danh để lựa chọn. Chú ý bồi dưỡng nguồn kế tiếp.

       - Tiếp tục tham mưu cho cấp ủy, chính quyền, các cơ quan chức năng chỉ đạo thực hiện chế độ, chính sách cho cán bộ Hội theo đúng quy định của pháp luật.

       - Đề nghị Trung ương Hội nghiên cứu thành lập các trung tâm đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng cán bộ Hội Cựu chiến binh để đảm bảo cho đội ngũ cán bộ Hội có trình độ chính trị, nghiệp vụ công tác Hội đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

       - Đối với cán bộ Hội cơ sở xã, phường, thị trấn ngày càng trẻ hóa, là công chức xã, phường, nguyên hạ sỹ quan, chiến sỹ trong quân đội. Phấn đấu đến năm 2025, cán bộ Hội cơ sở cấp xã cơ bản được bồi dưỡng, đào tạo, có trình độ trung cấp chính trị tại các trường, trung tâm bồi dưỡng cán bộ địa phương. Đảm bảo đội ngũ cán bộ  cơ sở được chuẩn hóa, nắm vững lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Ming, đủ khả năng tiếp thu, vận dụng sáng tạo các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, nhà nước vào thực tiễn cuộc sống. Luôn có lập trường tư tưởng kiên định, vững vàng, không dao động trước những khó khăn thử thách; kiên quyết đấu tranh chống lại mọi âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch và các quan điểm sai trái… nâng cao sức lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức Hội  hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

- Kiện toàn các tổ chức Hội,  nhất là ở các thôn, khu, khe bản; xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, nâng cao trình độ đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới.

- Đổi mới nội dung phương thức hoạt động với nội dung phù hợp, thiết thực, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của hội viên; gắn hoạt động của Hội hướng vào thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ sở, cơ quan, đơn vị, với phương châm “hướng về cơ sở”; các hoạt động của Hội nhằm góp phần giải quyết các vấn đề đặt ra ở địa phương, cơ sở… Về hình thức hoạt động cần đa dạng, phong phú… coi trọng  hình thức phối hợp, tạo điều kiện, sức mạnh tổng hợp và gắn hoạt động  của Cựu chiến binh trong các hoạt động chung. Phát huy dân chủ, chủ động, sáng tạo, tập trung đột phá vào các nội dung sau:

+ Đổi mới  mạnh mẽ nội dung, phương thực  hoạt động của các cấp Hội.

+ Nâng cao năng lực làm tham mưu cho cấp ủy, phối hợp chặt chẽ với chính quyền các cấp.

+ Cải thiện, nâng cao chất lượng sinh hoạt của chi hội  theo hướng thiết thực, hiệu quả.

+ Kịp thời sơ, tổng kết, nghiên cứu các chuyên đề để đi sâu chỉ đạo thực hiện  nhiệm vụ  có trọng tâm, trọng điểm.

2. Chủ động, nhạy bén, làm tốt công tác tham mưu cho cấp ủy các cấp về lãnh đạo, chỉ đạo công tác Cựu chiến binh, thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị hàng đầu tham gia xây dựng, bảo vệ Đảng, chính quyền, bảo vệ chế độ XHCN.

* Công tác tham mưu cho cấp ủy các cấp về việc quán triệt, triển khai các chỉ thị, nghị quyết, các kết luận, thông báo, các văn bản pháp luật của Đảng, Nhà nước liên quan tới Cựu chiến binh, công tác Cựu chiến binh, như: Nghị quyết 09 của Bộ Chính trị, Kết luận số 66 Ban Bí thư, Pháp lệnh Cựu chiến binh, Nghị định 150/CP và các thông tư hướng dẫn thực hiện nghị định và các chỉ thị, nghị quyết, các văn bản pháp luật của Đảng, Nhà nước ban hành những năm tới đây.

Tham mưu cho cấp ủy ra nghị quyết chuyên đề lãnh đạo công tác Cựu chiến binh. Tích cực, chủ động tham mưu cho cấp ủy về công tác quy hoạch, kiện toàn tổ chức, bố trí, sắp xếp đội ngũ cán bộ Hội, vừa đảm bảo nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức các nhiệm vụ của Hội, vừa đảm bảo tính kế thừa, phát triển ổn định, đáp ứng yêu cầu xây dựng Hội cho các nhiệm kỳ tiếp theo. Các nhiệm kỳ có nghị quyết chuyên đề lãnh đạo công tác Cựu chiến binh; có định hướng quy hoạch, bố trí, sắp xếp cán bộ Hội có tính kế thừa cho các nhiệm kỳ tiếp theo.

* Tham gia xây dựng và bảo vệ Đảng, chính quyền:

Động viên cán bộ, hội viên thường xuyên học tập nâng cao trình độ mọi mặt, nắm vững Cương lĩnh chính trị, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, không ngừng nâng cao lập trường kiên định của giai cấp công nhân. Cùng với Mặt trận Tổ quốc làm tốt chức năng giám sát, phản biện xã hội, tích cực tham gia ý kiến với Đảng khắc phục những yếu kém, tồn tại. Gương mẫu thực hiện quy chế dân chủ và tuyên truyền vận động nhân dân nghiêm chỉnh chấp hành mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Kiên định đấu tranh chống các quan điểm sai trái, các hoạt động chống Đảng, nhất là âm mưu diến biến hòa bình" của các thế lực thù địch và nguy cơ "tự diễn biến" là nhiệm vụ hàng đầu của Hội Cựu chiến binh Việt Nam nhằm góp phần bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ XHCN, bảo vệ nhân dân, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Động viên cán bộ, hội viên Cựu chiến binh gương mẫu tham gia công tác Đảng, chính quyền, đoàn thể, nhất là ở cơ sở thôn, khu, làng bản, góp phần củng cố, xây dựng cơ sở trong sạch vững mạnh.Các cấp Hội và hội viên tích cực tập hợp ý kiến của Cựu chiến binh, của nhân dân về những chủ trương phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, về công tác xây dựng Đảng và những chính sách liên quan đén đời sống nhân dân và Cựu chiến binh, nhạy bén phát hiện những vấn đề bất cập, hoặc mới phát sinh để kịp thời tham mưu, đề xuất những biện pháp có lý, có tình, đúng pháp luật, giúp cấp uỷ, chính quyền xử lý.

Động viên tổ chức Hội và hội viên Cựu chiến binh đương nhiệm ở các cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể, doanh nghiệp không ngừng phát huy bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, tích cực chủ động tham mưu cho cấp ủy, chính quyền về hoạch định chính sách, cải cách hành chính, gương mẫu rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

 Chỉ đạo tổ chức Hội các cấp và hội viên Cựu chiến binh gương mẫu thực hiện quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn, cơ quan, doanh nghiệp… Tích cực tham gia phòng chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm. Phối hợp chặt chẽ với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể tham gia phản biện xã hội, giám sát thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, giám sát việc thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của cấp ủy, chính quyền các cấp; phối hợp chặt chẽ với cơ quan quân sự, công an nắm chắc tình hình an ninh trật tự đề xuất với cấp uỷ Đảng và chính quyền về những chủ trương, biện pháp sử lý kịp thời những vụ việc xẩy ra, đồng thời làm tốt công tác vận động nhân dân, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của địch. Phối hợp với Quân sự địa phương tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân, tuyên truyền vận động thanh niên thực hiện nghĩa vụ quân sự, tham gia huấn luyện dân quân tự vệ và lực lượng dự bị động viên, thực hiện chính sách hậu phương quân đội. Cựu chiến binh ở cơ sở cần nhạy bén phát hiện những vướng mắc, bức xúc của nhân dân nhất là trong việc thực hiện các chính sách đền bù giải toả mặt bằng... phân tích nguyên nhân, tính chất, mức độ của vấn đề, đề xuất với lãnh đạo để có biện pháp tháo gỡ, lấy đối thoại, thuyết phục, hoà giải và giải quyết từ cơ sở là chính. Ngăn chặn kịp thời không để kẻ xấu kích động và kẻ địch lợi dụng, kiên quyết đấu tranh với những hành động quá khích, cực đoan để bảo vệ tình đoàn kết trong nhân dân.

* Chủ động làm tốt công tác phối hợp với UBND tỉnh:

Căn cứ vào chương trình phối hợp của TW Hội với Chính phủ; từ tình hình nhiệm vụ của tỉnh, trong những năm tới, chương trình phối hợp với những định hướng sau:

Tham gia xây dựng chính quyền vững mạnh, đảng viên, hội viên  Cựu chiến binh là cán bộ công chức nêu cao tinh thần trách nhiệm trong việc tham mưu, đề xuất và gương mẫu thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ của người cán bộ công chức, góp phần thực hiện tốt đề án  30 về cải cách hành chính. Động viên cán bộ, hội viên các cơ quan sở, ban, ngành phát huy vai trò trách nhiệm trong việc tham mưu để xuất, thẩm định những chủ trương, chính sách lớn của tỉnh…

Phối hợp triển khai Luật Cựu chiến binh Việt Nam, các nghị định, thông tư các bộ ngành và thực hiện các chế độ, chính sách đối với Cựu chiến binh, Hội Cựu chiến binh. Phối hợp trong việc động viên Cựu chiến binh tham gia các chương trình, đề án, dự án  lớn của tỉnh như: xây dựng nông thôn mới; đền bù GPMB các dự án hạ tầng; các hoạt động tuyên truyền quảng bá về bảo vệ môi trường, an toàn giao thông, bảo vệ cảnh quan Hạ Long…

Nâng cao hiệu quả công tác phối hợp với UBND tỉnh, chỉ đạo các cấp Hội  ký kết chương trình phối hợp hàng năm với UBND cùng cấp; đăng ký đảm nhận những phần việc phù hợp với khả năng của Hội. Phối hợp cụ thể với các sở, ban, ngành, đoàn thể trên cơ sở những nội dung trong chương trình phối hợp với UBND tỉnh, Hội Cựu chiến binh tỉnh chủ động cụ thể hóa chương trình phối hợp với các sở, ban, ngành, đoàn thể của tỉnh, như:

Với Sở Lao động, TB & Xã hội: Phối hợp tham mưu cho cấp ủy, chính quyền lãnh đạo, chỉ đạo chăm lo cho các đối tượng chính sách, thương binh, gia đình liệt sỹ; phối hợp thực hiện các chính sách đối với Cựu chiến binh…(bao gồm cả những chính sách hiện hành và những chế độ, chính sách mới…).

Với Sở Tư pháp: Đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật, tư vấn, trợ giúp pháp lý, đồng thời tổ chức các lớp tập huấn cho cán bộ chủ chốt các cấp Hội nâng cao trình độ hiểu biết về pháp luật; phối hợp tổ chức tuyên truyền pháp luật trong hội viên và nhân dân, nhất là những văn bản pháp luật liên quan tới Cựu chiến binh, CQN…

Với Sở Y tế: Phối hợp tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng về công tác y tế; phối hợp tuyên truyền thực hiện kế hoạch hóa gia đình, phòng chống HIV/AIDS…; phối hợp chăm sóc sức khỏe cho cán bộ, hội viên Cựu chiến binh.

Với Ban Xây dựng nông thôn mới: Phối hợp tuyên truyền nâng cao nhận thức về chương trình xây dựng nông thôn mới của Đảng; vận động cán bộ, hội viên tích cực tham gia các chương trình cụ thể ở cơ sở về xây dựng nông mới mới…

Với Ban ATGT: Phối hợp tuyên truyền Luật, nghị định của Chính phủ về công tác đảm bảo an toàn giao thông; Bố trí lực lượng trực tiếp tham gia các tổ tự quản đảm bảo trật tự an toàn giao thông đường phố…

Với Đài PTTH và Báo Quảng Ninh: phối hợp tuyên truyền về xây dựng, hoạt động và kết quả các mặt hoạt động của Hội, những gương người tốt việc tốt…

Với Bộ CHQS tỉnh: Phối hợp tuyên truyền đường lối, nhiệm vụ quốc phòng toàn dân của Đảng, Nhà nước, Luật Nghĩa vụ quân sự, Dân quân tự vệ, Dự bị động viên; tham gia tuyên truyền nhiệm vụ quốc phòng, quân sự địa phương, xây dựng lực lượng vũ trang địa phương và diễn tập quốc phòng an ninh, tìm kiếm cứu nạn…

Phối hợp với Bộ đội Biên phòng tỉnh trong tuyên truyền Luật Biên giới quốc gia; Quy chế biên giới…; Tổ chức phối hợp tuần tra canh gác giữ gìn an ninh biên giới; làm tốt công tác đối ngoại nhân dân góp phần giữ vững quan hệ hữu nghị Việt Nam – Trung Quốc.

Phối hợp với Công an tỉnh trong vận động cán bộ, hội viên tích cực tham gia phong trào “Toàn dân tham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc”; tham gia phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội… góp phần bảo vệ trị an, giữ vững ổn định chính trị - trật tự an toàn xã hội.

Với MTTQ và các đoàn thể: Vận động cán bộ, hội viên tích cực các cuộc vận động, các phong trào do MTTQ phát động. Thực hiện tốt chức năng giám sát, phản biện xã hội: Lựa chọn cán bộ, bố trí đảm nhiệm chuyên môn…; Nắm, phát hiện vấn đề, tham mưu, đề xuất với cấp ủy, chính quyền…; Trao đổi thông tin… , sớm ký chương trình phối hợp với từng tổ chức, đoàn thể vào năm 2015 với các chương trình công tác cụ thể.

3. Động viên các thế hệ Cựu chiến binh nêu cao ý thức tự lực tự cường, tích cực giúp nhau giảm nghèo bền vững, phát huy tiềm năng của các Hội doanh nghiệp Cựu chiến binh và Hiệp hội Doanh nghiệp Cựu chiến binh tỉnh giúp nhau phát triển sản xuất kinh doanh, làm giàu hợp pháp, góp phần vào sự phát triển chung của tỉnh:

Giúp nhau phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững nhìn chung là một trong những nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu được các cấp Hội quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo… Những năm qua, tỷ lệ hộ nghèo của Cựu chiến binh toàn tỉnh giảm nhanh, đến cuối năm 2012 chỉ còn 1,4%, số hộ khá trở lên  đã đạt trên 50%. Toàn tỉnh đã có hàng ngàn trang trại, gia trại với những mô hình kinh tế giải quyết công ăn việc làm cho hàng vạn lao động là Cựu chiến binh, con em Cựu chiến binh, CQN và nhân dân. Cùng với các doanh nghiệp Cựu chiến binh, hiện có 178 doanh nghiệp vừa và nhỏ, hoạt động kinh doanh hiệu quả, ngày càng có đóng góp quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội địa phương… Tuy nhiên, hầu hết các trang trại, gia trại, các doanh nghiệp Cựu chiến binh còn sản xuất nhỏ lẻ, chưa có sự liên doanh, liên kết để tạo sức sản xuất hàng hóa với quy mô lớn, chiểm lĩnh, mở rộng thị trường.

Để làm tốt nhiệm vụ trên, cần tiếp tục tuyên truyền, quán triệt quan điểm, đường lối, chính sách, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng; các chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới.

Trong những năm tới, cùng với thực hiện Đề án phát triển của tỉnh “Phát triển nhanh, bền vững…, phát huy tiềm năng to lớn, lợi thế so sánh… để Quảng Ninh trở thành một tỉnh công nghiệp – dịch vụ theo hướng hiện đại vào năm 2015, định hướng 2020 và tầm nhìn 2030”, các cấp Hội cần nhận thức rõ đây là thời cơ lớn để các doanh nghiệp, doanh nhân Cựu chiến binh, các trang trại, gia trại định hình sự phát triển, sớm có quy hoạch, định hướng phát triển phù hợp kể cả dài hạn, trung hạn và ngắn hạn. Đối với các trang trại, gia trại, kinh tế hộ Cựu chiến binh mở rộng các mô hình đã được thẩm định, nâng cao chất lượng sản phẩm có sức cạnh tranh mạnh, hiệu quả cao. Hiệp hội Doanh nghiệp Cựu chiến binh tỉnh và các Hội Doanh nghiệp Cựu chiến binh các huyện, thị, thành phố sớm có đề án liên kết, kết nối các chủ trang trại, tạo thành các vành đai sản xuất, cung ứng các sản phẩm nông nghiệp ở các huyện Đầm Hà, Hải Hà, Đông Triều, Hoành Bồ, Yên Hưng… cho các trung tâm đô thị và mở rộng thị trường trong tỉnh, ngoài tỉnh với quy mô lớn, hiệu quả cao. Đối với các doanh nghiệp Cựu chiến binh hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ cần bám sát các quy hoạch, định hướng phát triển của tỉnh, coi trọng làm tốt công tác thông tin, tập huấn, tạo điều kiện tiếp cận vốn ưu đãi. Đối với  Hiệp hội Doanh nghiệp Cựu chiến binh tỉnh, các Hội doanh nghiệp Cựu chiến binh phải thực hiện tốt công tác liên doanh liên kết, phối hợp tạo điều kiện giúp đỡ nhau trong sản xuất kinh doanh, tạo uy tín, thực hiện đầu tư đón đầu vào các lĩnh vực chế biến, kinh doanh nhà hàng, khách sạn, du lịch... ở các trung tâm Hạ Long, Móng Cái, Vân Đồn…, nhất là các dự án hạ tầng, góp phần xây dựng nông thôn mới.

Cần nhận thức rõ đào tạo nguồn nhân lực là một giải pháp quan trọng để phát triển kinh tế trong thời kỳ 2012 đến 2020. Các cấp Hội cần phối hợp chặt chẽ với Hội doanh nghiệp Cựu chiến binh ở các huyện, thị, thành phố tạo nguồn nhân lực cho Cựu chiến binh, CQN và con em Cựu chiến binh, đồng thời tạo sự chuyển biến quan trọng về nhận thức từ các doanh nghiệp, cần đào tạo lao động theo khả năng sang đào tạo theo nhu cầu, gắn cung với cầu về lao động. Hợp tác chặt chẽ trong đào tạo giữa nhà trường, doanh nghiệp và các cấp Hội Cựu chiến binh. Tranh thủ chương trình đào tạo nghề, giải quyết việc làm của Nhà nước để đào tạo, kết hợp với chương trình xuất khẩu lao động để tạo nguồn và đưa con em Cựu chiến binh, CQN đi xuất khẩu lao động, nhất là ở các địa phương có nhu cầu chuyển đổi lao động, chuyển đổi ngành nghề, thu hồi đất đai… Tranh thủ kinh phí hỗ trợ của Nhà nước, của tỉnh và các địa phương bồi dưỡng và đào tạo cán bộ HTX do Cựu chiến binh làm chủ, đồng thời có giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực có tay nghề và kỹ năng để đáp ứng nhu cầu phát triển, xóa nghèo bền vững trong thời kỳ mới.

Cần có cơ chế để các cấp Hội, đặc biệt là Ban Kinh tế Tỉnh Hội, huyện, thị, thành Hội, Hiệp hội Doanh nghiệp Cựu chiến binh, Hội Doanh nhân Cựu chiến binh, nắm bắt kịp thời các thông tin kinh tế, tài chính, thị trường, giá cả, hàng hóa, xuất khẩu… để kịp thời cung cấp thông tin cho các doanh nghiệp, HTX, cơ sở sản xuất do Cựu chiến binh làm chủ.

Để chủ động nguồn vốn cho đầu tư phát triển, các cấp Hội cần hướng dẫn kịp thời cho Cựu chiến binh nắm bắt được các chính sách ưu đãi, hỗ trợ về vốn cho người  nghèo, hỗ trợ việc làm, hướng dẫn và chỉ đạo các cấp Hội, hoạt động của các tổ tiết kiệm vay vốn, giúp cho Cựu chiến binh nghèo vay được các nguồn vốn ưu đãi biết sử dụng vốn để đầu tư vào sản xuất, kinh doanh, làm kinh tế có hiệu quả, không để thất thoát, lãng phí hoặc bị xâm tiêu.

Các nguồn vốn vay do Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam quản lý được phân phối hợp lý cho Hội Cựu chiến binh ở các địa phương có nhiều khó khăn và có nhu cầu đầu tư phát triển kinh tế, đem lại hiệu quả kinh tế cao cần được ưu tiên trước, tránh phân phối dàn đều.

Sớm đề nghị các cấp chính quyền cấp, giao quyền sử dụng đất lâu dài cho các trang trại, gia trại doanh nghiệp do Cựu chiến binh làm chủ để chủ động đầu tư sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật và chính sách ưu tiên hỗ trợ của Nhà nước thì cần được vay các nguồn vốn ưu đãi của địa phương.

Vận động Cựu chiến binh “dồn điền đổi thửa” theo hướng tích tụ ruộng đất để có điều kiện đầu tư, mở rộng quy mô sản xuất ở những huyện đồng bằng (Đông Triều, Quảng Yên…)

Coi trọng và khuyến khích, vận động các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh của Cựu chiến binh cần tập trung đầu tư phát triển công nghệ ở các lĩnh vực tạo ra năng suất cao, đổi mới trang thiết bị theo hướng công nghệ hiện đại.

Tiếp nhận và chuyển giao khoa học kỹ thuật cho các doanh nghiệp và hội viên Cựu chiến binh, phát triển công nghiệp để phục vụ nông nghiệp, nhất là kỹ thuật chế biến, bảo quản, để tạo được nhiều sản phẩm sạch, an toàn, có thương hiệu và đảm bảo khả năng cạnh tranh trên thị trường. Hội Cựu chiến binh tỉnh cần phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn mở các lớp tập huấn và chuyển giao kỹ thuật về khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư cho Cựu chiến binh, giúp Cựu chiến binh nắm bắt được khoa học kỹ thuật, biết ứng dụng vào sản xuất, tạo ra các sản phẩm có năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế cao để làm giàu cho gia đình và góp phần phát triển kinh tế địa phương và đất nước trong tình hình mới.

4. Nâng cao chất lượng giáo dục truyền thống yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, ý chí tự lực tự cường cho thế hệ trẻ:

Giáo dục truyền thống yêu nước cho thế hệ trẻ vừa là một nhiệm vụ quan trọng vừa là trách nhiệm của Hội Cựu chiến binh.

Tác động của mặt trái kinh tế thị trường và sự tuyên truyền chống phá của các thế lực thù địch, coi thanh niên là đối tượng dễ lôi kéo, tác động nhất, nhằm làm cho thế hệ trẻ xa rời, từ bỏ lý tưởng cách mạng, sống thực dụng, vị kỷ, tha hóa… Do đó, trong những năm tới, cần tiếp tục chỉ đạo các cấp Hội  phối hợp chặt chẽ với  tổ chức Đoàn các cấp trong công tác tuyên truyền, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, truyền thống yêu nước cho thế hệ trẻ - thế hệ tương lai của đất nước, lớp người tiếp tục sự nghiệp cách mạng của thế  hệ cha anh. Đây vừa là tình cảm, vừa là trách nhiệm của các thế hệ Cựu chiến binh, vì vậy Hội Cựu chiến binh tỉnh cần  phối hợp chặt chẽ cùng với các cấp, các ngành chung sức, dày công trong giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ.

Để nâng cao chất lượng thực hiện nhiệm vụ này, trước hết phải xây dựng chương trình phối hợp giai đoạn 5 năm và được cụ thể trong chương trình hàng năm; chương trình phối hợp phải được xây dựng từ TW đến cơ sở, được tổ chức sơ, tổng kết đánh giá những ưu điểm, những mặt còn hạn chế, tìm những giải pháp khắc phục nhằm nâng cao chất lượng công tác giáo dục.

Tổ chức giáo dục truyền thống xây dựng thế hệ trẻ giàu lòng yêu nước, có lý tưởng cách mạng, có lối sống đẹp, có bản lĩnh văn hóa con người Việt Nam, phải được tiến hành  ở các địa phương, trong các nhà trường và cơ quan, đơn vị; nội dung giáo dục tư tưởng chính trị, giáo dục truyền thống cho thanh, thiếu nhi chủ yêu tập trung vào việc quán triệt, phổ biến các chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, pháp luật nhà nước; các thông tin thời sự, tình hình phát triển kinh tế- xã hội… nhằm củng cố niềm tin đối với Đảng trong sự nghiệp đổi mới; đặc biệt là giáo dục nâng cao ý thức cảnh giác, chống âm mưu “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, sẵn sàng thực hiện nghĩa vụ quân sự, tham gia xây dựng quân đội, bảo vệ Tổ quốc.

Thường xuyên tìm hiểu tâm tư, nguyên vọng, nắm tình hình diễn biến tư tưởng  và dư luận xã hội trong thanh niên và Cựu chiến binh; kịp thời cung cấp thông tin cho cấp ủy và các cơ quan chức năng; phối hợp tuyên truyền, giáo dục, ngăn chặn các biểu hiện dụ dỗ, lôi kéo thanh, thiếu niên vào các hoạt động chống phá cách mạng; vi phạm pháp luật và các tệ nạn xã hội…

Bằng sự gương mẫu và uy tín của Cựu chiến binh, tích cực tham gia tuyên truyền, vận động, cảm hóa, giúp đỡ và tạo điều kiện cho những thanh niên lầm lỗi hoàn lương tái hòa nhập cộng đồng.

Quá trình tổ chức thực hiện được tiến hành bằng nhiều hình thức phong phú đa dạng như: nói chuện truyền thống, kể chuyện chiến đấu, giao lưu với các nhân chứng lịch sử, hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao… nhân dịp các ngày lễ lớn của Đảng, của dân tộc, của địa phương, của Hội và của Đoàn Thanh niên.

Phối hợp tham gia thực hiện một số phong trào của Thanh niên như: “Tuổi trẻ Quảng Ninh học tập và làm theo lời Bác”; “Đồng hành với thanh niên trong lập thân, lập nghiệp”… quá trình thực hiện cần phát hiện và nhân rộng những cách làm hay, những mô hình hiệu quả; vận động các doanh nhân Cựu chiến binh, nhất là những Cựu chiến binh làm kinh tế giỏi chia sẻ kinh nghiệm và tạo cơ hội cho đoàn viên, thanh niên trong lập thân, lập nghiệp, xung kích xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trước mắt phối hợp với Tỉnh Đoàn thực hiện có hiệu quả chương trình phối hợp ngày 07/12/2012 giữa Trung ương Đoàn TNCSHCM với Trung ương Hội Cựu chiến binhVN, chỉ đạo các cấp tổng kết chương trình phối hợp 5 năm (2008-2012), ký chương trình phối hợp 5 năm tiếp theo (2013-2018).

Cán bộ, hội viên Cựu chiến binh phải gương mẫu vận động con cháu trong gia đình và thanh niên địa phương tích cực tham gia sinh hoạt đoàn; phối hợp tham gia củng cố các chi đoàn yếu, phát hiện, theo dõi, bồi dưỡng những đoàn viên ưu tú giới thiệu cho Đảng xem xét kết nạp.

5. Tham gia đối ngoại nhân dân, góp phần thực hiện tốt công tác đối ngoại của Đảng, Nhà nước.

Quán triệt sâu sắc đường lối, chủ trương, chính sách đối ngoại theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XI của Đảng và Chỉ thị 04/CT-TW ngày 06/7/2011 của Ban Bí thư “Về tiếp tục đổi mới và nâng cao công tác đối ngoại nhân dân trong tình hình mới”.

Tỉnh Quảng Ninh có Vịnh Hạ Long là kỳ quan thiên nhiên của thế giới và nhiều lợi thế du lịch khác, các đoàn khách quốc tế, trong đó có nhiều đoàn  Cựu chiến binh các nước khi đến với Việt Nam thường tới thăm Quảng Ninh. Hội Cựu chiến binh tỉnh căn cứ vào đối tượng và sự chỉ đạo, hướng dẫn của TW Hội Cựu chiến binh Việt Nam, kịp thời tham mưu cho lãnh đạo tỉnh, phối hợp chặt chẽ với Sở Ngoại vụ, Văn phòng Tỉnh ủy, UBND tỉnh chỉ đạo công tác đối ngoại nhân dân đối với Cựu chiến binh, góp phần mở rộng  mối quan hệ với bạn bè quốc tế, quảng bá hình ảnh của tỉnh Quảng Ninh và Vịnh Hạ Long với bạn bè thế giới có chiều sâu và hiệu qủa.

Lãnh đạo, chỉ đạo Hội Cựu chiến binh các huyện, thành phố có chung đường biên giới với nước bạn chủ động làm tốt công tác đối ngoại nhân dân, giữ gìn mối quan hệ truyền thống giữa nhân dân hai nước; phát huy nhiệt tình, tâm huyết của các ban liên lạc truyền thống quân tình nguyện và chuyên gia quân sự từng làm việc tại Việt Nam, làm tốt công tác đối ngoại nhân dân trong tình hình mới. Phát huy tinh thần đoàn kết, hữu nghị, hợp tác, vừa đấu tranh thực hiện tốt công tác tuyên truyền đối ngoại, vừa kiên quyết đấu tranh chống lại những quan điểm sai trái, những hành động, các luận điệu chia rẽ, phá hoại của các thế lực thù địch để bảo vệ quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và lợi ích, chủ quyền quốc gia, dân tộc… Về tổ chức, chậm nhất tới năm 2015 đề xuất với Trung ương Hội, Tỉnh ủy quy định phân công một đồng chí lãnh đạo Tỉnh hội phụ trách công tác đối ngoại nhân dân và xác định thêm nhiệm vụ cho Ban Tuyên giáo có chức năng, nhiệm vụ theo dõi, tham mưu, hướng dẫn cấp dưới trển khai thực hiện theo chỉ đạo của TW, của Tỉnh và của Hội cấp trên.

6. Tích cực chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Cựu chiến binh, nhất là các chế độ, chính sách của nhà nước đối với Cựu chiến binh, Cựu quân nhân:

Cựu chiến binh là những người một thời vào sinh ra tử chiến đấu quên mình giải phóng dân tộc, giành lại độc lập tự do cho Tổ quốc, mang lại cuộc sống hòa bình cho nhân dân. Từ chiến trường trở về với cuộc sống đời thường, các Cựu chiến binh gặp không ít khó khăn để tiếp tục cống hiến sức lao động, làm ra của cải vật chất lo cho cuộc sống và hạnh phúc gia đình. Những năm gần đây, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách đãi ngộ để giúp Cựu chiến binh có cuộc sống ổn định. Ngày 12/12/2006, Chính phủ đã ban hành Nghị định 150/CP và quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Cựu chiến binh như cấp thẻ BHYT, chế độ mai táng phí đối với Cựu chiến binh từ trần, chế độ trợ cấp đối với cán bộ thôi làm công tác Hội từ Hội cơ sở trở lên.

Trong quá trình thực hiện, Hội Cựu chiến binh các cấp tiếp tục làm tốt công tác tuyên truyền pháp lệnh Cựu chiến binh và Nghị định 150/CP, các thông tư, hướng dẫn của các cấp, các ngành đến tổ chức Hội và hội viên để thực hiện. Phối hợp chặt chẽ, thống nhất giữa các sở, ban, ngành, đoàn thể để giải quyết tốt những chế độ, chính sách cho Cựu chiến binh, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc về thủ tục, hồ sơ xét duyệt đúng người, đúng đối tượng, bảo đảm quyền lợi cho Cựu chiến binh.

Trong những năm tới, các cấp Hội Cựu chiến binh tỉnh Quảng Ninh cần tập trung thực hiện tốt những nội dung công tác sau:

- Về chăm lo đời sống cho Cựu chiến binh:

Tiếp tục động viên Cựu chiến binh nêu cao hơn nữa ý thức tự lực tự cường, dám nghĩ dám làm, vượt khó vươn lên, giúp nhau giảm nghèo làm giàu chính đáng. Động viên  các phong trào và hoạt động tình nghĩa tương trợ giúp đỡ nhau trong cuộc sống.

Tiếp tục thực hiện tín dụng đối với người  nghèo và đối tượng chính sách khác theo quy định tại Nghị định 78/2008/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của Chính phủ về “Tín dụng đối với  người  nghèo và các đối tượng chính sách khác”.

Tiếp tục thực hiện phong trào xóa nhà dột nát cho Cựu chiến binh nghèo, phấn đấu đến năm 2020 toàn tỉnh không còn nhà dột nát; cơ bản số hộ nghèo Cựu chiến binh thoát nghèo, số cận nghèo và có nguy cơ tái nghèo được giảm thiểu.

- Về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho hội viên:

Phối hợp với cơ quan chức năng theo dõi hướng dẫn các thủ tục giám định để thực hiện chính sách đối với nạn nhân chất độc hóa học/điôxin bảo đảm thuận lợi, chính xác, đúng đối tượng, tránh phiền hà, tiêu cực, đặc biệt là chính sách đối với các thế hệ  thứ 2, 3 bị phơi nhiễm diôxin.

Phối hợp với cơ quan chức năng hướng dẫn Cựu chiến binh và tham gia giám sát việc thực hiện chính sách đại ngộ với gia đình thương binh, liệt sỹ, người  có công với nước sau khi Chính phủ và các bộ, ban ngành TW có văn bản hướng dẫn bổ sung Nghị định 150/CP, Thông tư 114 liên bộ (Bộ Quốc phòng - Bộ Nội vụ). Phối hợp cùng Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh rà soát, thực hiện chế độ, chính sách cho các đối tượng theo Quyết định 142 và Quyết định 62 của Thủ tướng Chính phủ.

Theo dõi hướng dẫn việc thực hiện chế độ, chính sách tiền lương khi các bộ, ngành có thông tư hướng dẫn bổ sung sửa đổi (Nghị định 92/2009/NĐ-CP ngày  22/10/2009 và Quyết định 128 của Ban Bí thư TW Đảng và hưởng phụ cấp trách nhiệm 30% theo Thông báo 05 của Ban Tổ chức TW Đảng).

- Về công tác tuyên truyền:

Chỉ đạo Hội Cựu chiến binh các cấp và động viên các thế hệ Cựu chiến binh giữ gìn và phát huy bản chất truyền thống "Bộ đội Cụ Hồ", nêu cao tinh thần gương mẫu thực hiện chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tích cực tham gia xây dựng Đảng, chính quyền, đoàn thể, làm tốt công tác tuyên truyền vận động giải thích cho Cựu chiến binh và nhân dân nhận thức đầy đủ về các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và sự chỉ đạo điều hành của Chính phủ, tạo sự đồng thuận trong nhân dân, góp phần thực hiện tốt các chế độ, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với Cựu chiến binh, CQN.

 

Phần thứ tư

TỔ CHỨC THỰC HIỆN

 

1. Tiến độ thực hiện:

- Giai đoạn I từ năm 2013 đến hết năm 2017.

- Giai đoạn II từ năm 2018 đến năm 2020.

- Tầm nhìn đến năm 2030.

2. Trách nhiệm của các cấp Hội:

Thực hiện Chiến lược xây dựng tổ chức và hoạt động của Hội Cựu chiến binh tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn 2030 là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Hội. Để triển khai tổ chức thực hiện chiến lược có hiệu quả, yêu cầu các cấp Hội và mọi cán bộ, hội viên tập trung  thực hiện tốt các nội dung sau:

Cấp tỉnh: Có kế hoạch chỉ đạo việc tổ chức quán triệt nắm chắc nội dung đề án, tạo sự thống nhất cả về nhận thức và hành động trong các tổ chức Hội và cán bộ, hội viên. Hàng năm căn cứ vào nhiệm vụ được giao, tình hình thực tiễn của Hội, cụ thể hóa các nội dung chiến lược phải thực hiện trong năm và đưa vào chương trình công tác hàng năm cho phù hợp, tổ chức sơ kết đánh giá kết quả thực hiện đề án vào năm 2015, tổng kết vào năm 2017 (trước Đại hội nhiệm kỳ VI), đề ra phương hướng nhiệm vụ và những giải pháp thực hiện cho những năm tiếp theo.

Cấp huyện, thị, thành Hội và Hội Cựu chiến binh cơ quan Dân Chính Đảng tỉnh: Căn cứ nội dung, tiến trình thực hiện đề án, xây dựng chương trình hành động, chỉ đạo cơ sở tổ chức thực hiện.

Cấp cơ sở: Căn cứ  sự chỉ đạo của trên, xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện, quá trình tổ chức thực hiện bám sát sự lãnh đạo của cấp ủy, xây dựng chương trình phối hợp với các đoàn thể, các lực lượng có liên quan để việc thực hiện đề án đạt kết quả cao nhất.

3. Những kiến nghị, đề xuất:

- Đề nghị Đảng, nhà nước cần chỉ đạo, cho phép xây dựng và ban hành Luật Cựu chiến binh Việt Nam trên cơ sở Pháp lệnh Cựu chiến binh Việt Nam để tạo cơ sở pháp lý cao hơn trong giải quyết các vấn đề về Cựu chiến binh, và xem xét để sớm điều chỉnh chế độ, chính sách tiền lương đối với cán bộ Cựu chiến binh ở cơ sở.

- Đề nghị  Đảng, Nhà nước chỉ đạo các bộ, ngành có liên quan xem xét việc tiếp tục giám định và làm chế độ chính sách với  bạn nhân chất độc da cam/dioxin cho Cựu chiến binh

- TW Hội Cựu chiến binh Việt Nam nên đề nghị Đảng, nhà nước cho phép hình thành trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Hội Cựu chiến binh và  mở rộng đối tượng kết nạp vào Hội.

- Đề nghị TW Hội Cựu chiến binh Việt Nam cùng Ban tổ chức TW Đảng sớm nghiên cứu báo cáo Ban Bí thư, Bộ Chính trị  về thống nhất tổ chức biên chế cho cơ quan Hội Cựu chiến binh cấp tỉnh theo hướng tăng thêm, để đảm bảo ít nhất mỗi ban chuyên môn có 2 cán bộ, do đó tổng số cán bộ, nhân viên cơ quan Tỉnh Hội ít nhất là 15 người, thay vì từ 13-17 biên chế như hiện nay (Hội Cựu chiến binh tỉnh Quảng Ninh được biên chế số lượng tối thiểu 13 đồng chí. Đối với cấp huyện tổng biên chế = 48 đồng chí, cũng gần tương đương các đoàn thể khác).

- Đối với tỉnh Quảng Ninh: Đề nghị Tỉnh ủy, UBND tỉnh chỉ đạo các sở, ngành có liên quan, tạo điều kiện để chuẩn hóa đội ngũ cán bộ Cựu chiến binh, nhất là đối với cán bộ cơ sở chưa được qua đào tạo về chính trị và quản lý nhà nước, để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoạt động của Hội trước 2020./.

_____________________________

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO XÂY DỰNG ĐỀ ÁN:

 

1-  Văn kiện Đại hội IX, X, XI của Đảng.

2-  Nghị quyết số 09-NQ/TW  ngày 08/01/ 2002 của Bộ Chính trị (khóa IX) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác Cựu chiến binh Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới.

3-  Kết luận số 66-KL/TW ngày 04/3/2012 của Ban Bí thư (khóa X) về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 09-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác Cựu chiến binh Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới.

4-  Nghị quyết Đại Hội đại biểu Hội Cựu chiến binh Việt Nam lần thứ IV.

5-  Tài  liệu tổng kết 20 năm xây dựng và hoạt động của Hội Cựu chiến binh Việt Nam.

6-  Pháp lệnh Cựu chiến binh Việt Nam.

7-  Nghị định số 150/NĐ-CP ngày 12/12/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một một số điều của Pháp lệnh Cựu chiến binh Việt Nam.

8-  Điều lệ Hội Cựu chiến binh Việt Nam, các nghị quyết, hướng dẫn của TW Hội Cựu chiến binh Việt Nam.

9-  Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XIII.

      10- Đề án trình Bộ Chính trị  "Phát triển KT-XH nhanh, bền vững; bảo đảm vững chắc QP-AN và thí điểm xây dựng hai đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Móng Cái” của Tỉnh ủy Quảng Ninh./.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Thường trực Tỉnh Hội


Tìm kiếm theo chuyên mục - nội dung - ngày tháng

Tin Nóng
Tin tiêu điểm

Lịch công tác trống

Website liên kết
Thống kê truy cập
Hôm nay: 20
Đã truy cập: 53614