CHIẾC ĐÈN ÔNG SAO

20/09/2016 00:00

 Ngày ấy đã lâu lắm, gia đình tôi sống trong một phố huyện nhỏ xíu trên vùng núi tận biên giới xa xôi. Khi đó tôi cũng chỉ chừng lên bốn, lên năm. Nhà nghèo nhưng mấy anh chị em chúng tôi đều được cha mẹ cho đi học. Cha tôi nói : "Đói cơm còn chịu được, đói chữ thì khổ cả đời!" 

Thương cha mẹ vất vả anh cả của tôi đã giấu cha mẹ để đăng ký đi làm công nhân mãi tận mỏ Thiếc Tĩnh Túc. Cha tôi giận anh lắm. Ngày tiễn anh đi, cha chỉ nói với anh rằng: "Nếu có điều kiện thì con hãy gắng mà học tiếp, cố giữ gìn sức khỏe!". Anh tôi vừa làm vừa tự học và đã trở thành một Kiến trúc sư.

Mùa thu ở vùng núi phía bắc trời đã se lạnh. Sắp đến tết trung thu rồi. Người ta đã làm đủ các loại đèn để bán cho lũ trẻ con chơi tết trung thu. Lũ trẻ con nhà nghèo như chúng tôi đâu có tiền mà mua đèn, mua nến. Các anh chị tôi thường lấy hạt bòng, hạt bưởi bóc hết lớp vỏ cứng và vỏ lụa rồi lấy tăm tre xiên thành từng chuỗi đem phơi nắng cho khô. Hạt bưởi khi khô nước, chỉ còn lại tinh dầu, đem đốt cháy sáng thay cho nến. Chưa đến Rằm, lũ trẻ con đã rồng rắn nối đuôi nhau đi trên con đường nhấp nhổm đá. Những ngọn lửa lem nhem từ những hạt bưởi cứ vòng vèo vòng vèo theo tiếng trống tong tong vọng vào vách núi đá. Hai chị gái tôi thì thào với nhau chuyện gì đó, rồi cả hai cùng xuống nhà bếp. Tôi cùng anh trai ngồi bóc hạt bưởi. Ngọn đèn dầu hỏa tù mù, đỏ quạch. Cha tôi đi làm xa, chỉ còn mấy mẹ con ở nhà. Mẹ tôi hiền, không nói nhiều. Mấy anh chị em chúng tôi đều tự giác học và làm việc giúp mẹ. 

Hai chị gái của tôi đã lén làm một chiếc đèn ông sao cho chúng tôi. Ngày ấy giấy hiếm lắm. Giấy viết là loại giấy rất thô, dày, màu vàng rơm và chỉ nhẵn có một mặt, mặt còn lại nổi sần sùi những mảnh vụn của tre nứa. Sách giáo khoa không thay đổi chương trình nhiều như bây giờ. Một bộ sách giáo khoa được dùng từ chị lớm đến tôi là em út. Các chị tôi thường dùng những cuốn vở cũ từ những năm học trước đem ngâm nước vôi cho bay hết mực rồi phơi khô để dùng làm vở nháp. Vở nháp được viết đi viết lại nhiều lần với đủ loại mầu mực. Các chị làm xong khung đèn, nhưng không tìm đâu ra giấy để dán cho thành chiếc đèn hoàn chỉnh được. Chắc rằng tiếc nên không dám lấy giấy viết để làm đèn, hai chị cứ thì thào với nhau mãi. Sáng hôm sau, tôi thức dậy đã thấy một chiếc đèn ông sao rất đẹp để ngay bên cạnh. Giấy làm đèn là những tờ giấy mỏng tang có viết những chữ loằng ngoằng bằng mực đen. (Mãi sau này tôi mới hiểu đó là những tờ giấy dó và những chữ viết loằng ngoằng trên đó là chữ nôm).

Đêm trung thu, trăng to như một cái mâm đồng ló dần ra trên đỉnh núi. Các chị nhìn hai anh em tôi sung sướng hòa vào với lũ bạn cùng phố. Tiếng trống tung tung, bong bong khua vang, xen với tiếng hò hét của lũ chúng tôi. 

Trăng lên cao. Sương chùm kín những đỉnh núi. Ánh trăng xuyên qua màn sương cũng bị mờ dần. Những xiên hạt bưởi đã cháy hết. Tôi vẫn giơ cao chiếc đèn ông sao, miệng vẫn kêu tùng tùng thay cho tiếng trống. Anh em chúng tôi về đến nhà, trong nhà tôi tối om. Bỗng ánh lửa bừng lên từ que diêm in rõ hình cha tôi đang ngồi bên bàn nước. Rồi ánh lửa bừng lên từ ngọn nến trong chiếc đèn con thỏ. Một con thỏ màu trắng có đầy đủ hai mắt, hai tai và những sợi râu. Tiếng hai chị tôi cười vang. Mẹ đứng bên hai chị nhìn anh em tôi cười.

Hai anh em tôi nhào đến bên con thỏ. Tôi buông chiếc cán đèn ông sao. Cha tôi đưa tay kịp đỡ lấy. Cha tôi đưa chiếc đèn lại gần con thỏ. Ánh sáng từ con thỏ hình như cũng đã làm ông sao sáng lên. Cha tôi lẩm nhẩm đọc những chữ viết trên đèn. Tôi thấy cha khẽ cau mày. Hai chị gái tôi hốt hoảng nép vào sau lưng mẹ. Cha cười hỏi:

-  Hai anh em con đi rước đèn có vui không?

- Vui lắm Ba ạ!

- Mệt chưa? Các con đi rửa ráy rồi đi ngủ thôi, khuya rồi!

Cha lẳng lặng cài chiếc đèn ông sao lên vách nứa.

Sáng hôm sau, cha gọi cả bốn chị em chúng tôi lại bên bàn. Hai anh em tôi ngơ ngác không hiểu gì. Hai chị tôi mắt đã chớp chớp như muốn khóc. Cha bật diêm, rít một điếu thuốc lào rồi đứng lên, bước đến bên vách nứa nơi có giắt ngọn roi mây và chiếc đèn ông sao. Cha tôi rất nghiêm khắc và rất dữ đòn, Cha tôi vẫn nói: Thương con cho đòn cho vọt, ghét con cho miếng ngọt miếng ngon. Khi chúng tôi mắc lỗi, cha thường dùng roi mây vụt cho quắn đít. Sau trận đòn mỗi chúng tôi bao giờ cũng lĩnh đủ một đến ba “con lươn” vào mông để nhớ. Lần này cha tôi không rút roi mây mà ông từ từ rút chiếc cán đèn ông sao. Vừa quay lại bàn cha tôi vừa nhìn hai chị tôi hỏi:

- Các con! ai đầu têu làm chiếc đèn này?

- Thưa Ba ! con ạ!

- Thưa Ba! Con ạ!

Hai chị tôi vừa mếu vừa tranh nhau trả lời.

- Thưa Ba! Con thương các em không có đèn đi rước nên con đã làm.

- Thưa Ba! con đã lấy giấy trong quyển sách của Ba để làm đèn. Con biết lỗi rồi ạ!

- Chị em thương nhau là tốt. Như thế mới là chị em, nhưng không phải thương em thì được làm liều, làm bừa!

Cha tôi đưa tay chỉ những dòng chữ viết bằng mực đen đã bị lửa bắn thủng lỗ chỗ.

- Các con có biết đây là những chữ gì không?

Chúng tôi im lặng.

- Chữ của Thánh hiền đấy! Chữ dạy làm người! Làm người không bao giờ được coi thường chữ viết. Coi thường chữ viết là coi thường chữ của Thánh hiền. Việc học không chỉ là học ở trường ở lớp. Việc học còn là học ở đời, học làm người. Xé sách vở là không bao giờ thành người có học được đâu. Ngọc bất trác, bất thành khí. Nhân bất học, bất tri lí các con ạ!

Cha tôi giảng giải nghĩa của hai câu đó. Vừa nói cha vừa lấy mũi dao nhẹ nhàng bóc tách từng lớp giấy mà các chị tôi đã cắt dán làm chiếc đèn ông sao cho anh em tôi. Mấy chị em chúng tôi im lặng nhìn cha. Những tờ giấy chắp nối lại không còn được như trước nữa. Cha tôi lặng lẽ mài mực trong chiếc nghiên bằng đá, rồi lấy bút lông chỉnh sửa từng nét chữ. 

Chiến tranh biên giới bùng nổ, nhà tôi bị tàn phá. Cái phố nhỏ của tôi cũng tan nát. Những cuốn sách của cha tôi không còn nữa. Mấy chục năm qua đi rồi. Cha tôi rồi đến mẹ tôi đã về với tổ tiên, ông bà. Nếu còn sống đến bây giờ cha tôi đã ngoài trăm tuổi. Năm kỉ niệm cha tôi tròn một trăm tuổi. Chị gái tôi đã rưng rưng nước mắt dâng lên bàn thờ cha tôi một gói nhỏ bằng vải đỏ. Mấy anh chị em tôi cùng bật khóc vì trong đó là cuốn sách của cha. Cuốn sách mà gần sáu chục năm trước đã bị chị tôi cắt mất mấy tờ để làm chiếc đèn ông sao cho tôi. Những tờ giấy ấy đã được cha tôi ghép và sửa từng nét chữ, nhưng vẫn còn thủng lỗ chỗ vì ngọn lửa bắn ra từ những hạt bưởi. Khi cha tôi già yếu, chị đã xin cha cuốn sách đó để giữ làm kỉ niệm và bây giờ dâng lên trước bàn thờ của Người. Chị tôi đã hơn bảy chục tuổi rồi. Không biết có phải lời dạy của cha tôi ngày ấy đã khiến chị đau đáu nghĩ về cái chữ dạy làm người? Gia đình riêng của chị tôi gồm vợ chồng chị, các con gái và con rể của anh chị đều làm nghề dạy học, cái nghề có con chữ dạy làm người. 

 

Hoài Giang


Tìm kiếm theo chuyên mục - nội dung - ngày tháng

Tin Nóng
Tin tiêu điểm

Lịch công tác trống

Website liên kết
Thống kê truy cập
Hôm nay: 171
Đã truy cập: 295552