Nghệ nhân

25/10/2016 23:00

Khách là một ông già ở làng bên, năm nào cũng vậy, đã thành lệ, cứ rằm trung thu là lão lại đi bộ tắt ngang qua cánh đồng, từ làng Bùi sang làng Đồi đến nhà Sảng đặt một cái đầu sư tử. Lão bảo: Làng lão có cái hèm phải thế. Thành Hoàng làng là nhà trò, con hát, ngài hoá vào lúc tiểu nhi, chạm giờ thiêng nên ngài trấn giữ con trạch của làng… Sảng biết rõ lắm, trẻ con làng Bùi đông nứt, Ngày rằm tháng tám kiệu của các xóm đặt vòng quanh bờ, đèn đóm sáng rực như sao sa xuống mặt hồ trước cửa đình. Chẳng bù cho làng Đồi, nhất là xóm Mã nhà Sảng. Xóm ở lảnh ra một phía của trái đồi, mặt xây ra chợ. Chợ họp trước cửa chùa, trong chùa ngoài chợ, ngày tuần ngày phiên đông đúc là thế, chỉ nhảng có mấy bước vào xóm Mã, người ta như lạc vào một thế giới khác. Mà cũng khác thật, xóm định cư trên một sống đất vàng rười rượi như kén tằm, Khởi thuỷ tên chữ của xóm là Hoàng Thổ, cái tên này chỉ còn được nhắc đến trong văn tế của người đọc “chúc” (văn tế) vào ngày lễ Thánh sư. Còn người đời thuận miệng gọi xóm nhà Sảng là xóm Mã.

 

Ông lão đứng dậy, ống quần lá toạ phủ kín hai bàn chân gân guốc lấm bụi. cái áo lá sen cổ chữ “đinh” bó chặt lấy khổ người quắc thước. Lão đội cái nón chảo lên mái đầu bạc phơ phơ. Quai nón là một cật giang già chuốt óng, lâu ngày mồ hôi nhuộm lên nước đỏ au. Trước khi đi khách quay đầu lại hỏi: 
- Năm nay bác không nhận lời tôi sao?
- Thưa cụ, cụ thông cảm cho, nhà cháu độ này “bộn” quá. chẳng dám “cầm” vì sợ đến hẹn mà làm không “đoạn” lại phải mang tiếng làm nhỡ cả việc làng…
Ông lão bước xuống sân, cung cúc đi dưới cái nắng tháng tám sóng sánh. Lão đi tìm nhà khác. Sảng biết rõ lắm, cả xóm này chẳng ai làm được những món hàng tinh xảo ấy. Sảng nhìn theo, bùi ngùi tiếc người khách đã thuỷ chung với nhà mình mấy chục năm trời. Trong lòng Sảng có gì đó mất mát đổ vỡ! Có lẽ không phải là mất khách, mà Sảng đã đánh mất nghề nghiệp của tổ phụ. Biết làm sao được, Sảng buông một tiếng thở dài…
*
Nhà Sảng làm nghề này đã mấy đời, đến Sảng thì sự khéo léo như dồn tụ cả lại. Hai bàn tay hoa đã đẩy Sảng lên mức “nghệ nhân”. Dân làng Đồi đến bây giờ vẫn trầm trồ thán phục cái đèn kéo quân Sảng làm vào năm Mão. Đèn đặc biệt lắm, khung đèn làm bằng những dóng trúc quân tử thanh mảnh nhưng rất cứng cáp. Tám mặt đèn bưng bằng giấy hoa tiên. Sảng đã dùng những kỹ xảo tinh tuý nhất của nghề nghiệp, ép vào giữa hai lớp giấy bồi hình ảnh mờ ảo của “bát tiên long vân” (tám ông tiên cưỡi rồng mây qua sông), quân đèn độc đáo có một không hai. Sảng đã kỳ công ra tận mạn bể tìm xương cá mực về tạo dáng… sau năm, sáu tháng trời rong ruổi mới hoàn thành. Năm ấy Sảng vừa bước vào tuổi thành niên. Đêm rằm trung thu, Sảng mang cỗ đèn bày giữa sân đình. Ánh sáng tán quang qua mặt giấy với ánh trăng rằm lồng lộng làm cho cả khối đèn lung linh huyền ảo. Không khí trong đèn ấm lên, “hoả sinh phong” (lửa sinh ra gió), cái tán đèn từ từ chuyển động, quân đèn theo đó mà múa may nhìn như những con rối. Cả làng reo lên: Đèn máy! Sau rằm, chẳng biết vì cảm lạnh hay vì tốn công sức, Sảng lăn ra ốm. Lúc dậy được, Sảng nhìn cỗ đèn lắc đầu chán nản, nó như cái vật vô dụng, vô hồn nằm rúm ró nơi xà nhà cho nhện xây tổ. Sảng nói với bố giọng bực bội: Kiếm củi ba năm thiêu có một giờ… đúng là hàng mã! Bố Sảng bảo: Đó là niềm tự hào của gia nghiệp, mày còn muốn gì hơn nữa?
Năm sau biết tiếng, làng Bùi đến tận nhà Sảng đặt làm đèn. Sảng chối đay đảy, viện đủ lý do để khước từ. Bố Sảng nhắc, Sảng bảo: Khổ công nhọc xác mà chỉ được cái danh hão. Nghèo vẫn hoàn nghèo. Sảng bỏ nhà ra đi với những nắm bột nếp đủ màu. Cái biệt danh “nghệ nhân lang thang” cũng hình thành từ đấy. 
Sảng đi khắp chợ cùng quê, trẻ con người lớn thấy Sảng là xúm đến đông đặc với những tiếng xuýt xoa reo hò thích thú. Sảng ngồi ở giữa, trước mặt là cái mẹt, lòng mẹt có mấy cục bột, dăm bẩy que tre… Đôi bàn tay Sảng với những ngón tay dài trắng bợt, mềm oặt như những con đỉa, chỉ trong nháy mắt là thành Tôn Ngộ Không, thành ông tiến sỹ… Thành bất cứ cái gì nếu khách đặt tiền vào mẹt và cho một yêu cầu. Mấy năm sau Sảng trở về nhà, tay trắng vẫn hoàn tay trắng. Cuộc đời nay đây mai đó đóng lên mặt Sảng những nét dãi dầu. Sảng ngồi lì ở nhà vời vợi nhìn lại mình thì đã ở cái tuổi “tam thập” (ba mươi). Nghe lời bố, Sảng lấy vợ. vợ Sảng là người cùng xóm. Mấy năm sau bố mẹ Sảng qua đời. Sảng yên tâm với cái “nghiệp” của nhà mình. Sảng ngồi làm hàng cho vợ đi chợ. Vợ Sảng tần tảo với gánh hàng nhẹ bỗng ngồi trước cổng chùa. Cải mẹt đựng xanh đó dăm cỗ áo mụ, vài cái mũ ông công, mớ quần áo hoá, chục vàng, thẻ hương… Vợ chồng Sảng tùng tiệm qua ngày. Lấy nhau đã bốn, năm năm mà con cái chưa có. Căn nhà đã vắng  lại càng thêm vắng.
Hàng mã vốn không phải là mặt hàng cần thiết như cơm ăn nước uống hàng ngày. Dăm thì, mười hoạ mới bán được vài món lặt vặt. Năm tháng cứ trôi đi như có người cầm mà kéo. Sảng tiếc cho cái tài hoa của mình. Giá như ngay buổi đầu đời Sảng theo nghề thợ mộc, thợ chạm có khi hái ra bạc cũng nên… Kỷ niệm ảm đạm của một thời lang thang quyết chí kiếm tiền sống lại nhay nát Sảng.
Hôm ấy là một buổi chiều cuối tuần tháng chạp. Sảng gặp bố con người hát xẩm lê la ở dãy hàng gạo. Lão xẩm đang cò cưa kéo nhị với những khúc hát như đưa đám. Sảng buồn bã nghĩ: có lẽ lão đưa đám lão, hay lão đưa đám mình. Sảng bèn rẽ vào lều chợ. Hình như hai tâm hồn mệt mỏi, héo hắt cùng chung một cung bậc nên tâm đầu ý hợp lắm. Cả hai nâng lên đặt xuống mời mọc nhau. Men đã ngấm, lão xẩm cao giọng: Các cụ truyền dạy rằng: Trên thế gian này có ba nghề đại kiêng kỵ. Một là cầm đồ cho vay nặng lãi, hai là thiến trâu, thiến bò, ba là đồ tể. Ngừng lại chiêu một ngụm rượu lão lại tiếp: theo “mỗ” phải là năm, đó là nghề xẩm rong và nghề làm hàng mã, huynh thấy thế nào? Cả hai phá lên cười, tiếng cười đứt khúc. Cả hai gã cũng gục xuống, chẳng biết vì say rượu hay vì cảm khái cho cái cảnh của mình vào một ngày giáp tết… 
*
Những lúc châng lâng nơi đất khách, Sảng nhớ cái xóm Mã nghèo của mình lắm. Trong xóm mọc duy nhất một loài dâu da đất. Ra giêng trên những cành cây khẳng khiu, khô cằn tưởng như không còn sự sống bỗng phun ra ngàn vạn chồi tơ. Sang tháng hai cây nở lộc, khắp xóm biêng biếc một màu xanh. Tháng ba lá “bánh tẻ” (lá không còn non nhưng chưa già) xoè ra lợp dày không một hột nắng nào dột xuống mặt đất được. Đó là lúc cây đơm hoa kết trái. Sang tháng tư, tháng năm quả dâu da to như ngón chân cái căng tròn, từng chùm, từng chùm chồng chất lên nhau, che kín thân từ gốc lên đến lưng chừng cây. Có lẽ trên đời chỉ có loài dâu da đất là sai và nhiều quả đến thế. Ấy là lúc khách buôn chuyến đến đóng hàng trở về xuôi. Xóm Mã rộn lên tiếng mặc cả, tiếng nói cười… Hết mùa dâu da xóm lại âm ỉ buồn. Đường vào xóm luồn dưới những tán dâu da như cái vòm lợp bằng lá. Mặt đất ẩm ướt, giữa mùa hè mà không khí mát lạnh!
Ở vào cái tuổi năm mươi Sảng đành khoanh tay thúc thủ, cơ hội kiếm tiền coi như đã hết. Sảng ân hận và thầm trách tiền nhân sao lại trao cho mình cái nghề khó nhọc quá!
*
Cũng may trời còn cho Sảng một cơ hội. Chớp thời cơ Sảng nắm chặt lấy thời cơ như người “chết đuối vớ được cọc”. Hôm ấy là một buổi trưa, nghe tiếng còi xe và thoảng trong gió như có tiếng gọi tên mình. Sảng lật đật ra mở cổng, đậu ngay giữa lối vào xóm là một chiếc ô tô lộng lẫy và sang trọng. Khách là một đôi vợ chồng tuổi đã chầm chập nhưng cách ăn vận vẫn còn loè loẹt, kiểu cách như cố níu giữ lấy tuổi trẻ. Trên gương mặt họ, Sảng nhận thấy tuổi già đang sầm sập đến mà chẳng có gì có thể cứu vãn được. Người đàn bà mặt bự phấn vẫn không lấp đầy được những vết hằn, phân chia rõ rệt từng khu trên khuôn mặt. Sảng bảo khách: 
- Có lẽ ông bà nhầm nhà?
- Ông là Sảng, nghệ nhân lang thang… À quên, nghệ nhân dân gian!
- Không, tôi là Sảng - giọng sờ sợ - người làm hàng mã, có lẽ ông bà nhầm lẫn với ai chăng?
- Chúng tôi không nhầm! Vừa nói khách vừa bước vào. Sau khi kiểu cách chào hỏi, bà khách khẽ khàng đặt cái “bàn toạ” ôm khít lấy mặt ghế sa-lông nhà Sảng. Rồi vừa xoa, vừa vặn hai bàn tay, giọng nói lẫn với tiếng cười hít vào nghe như người có bóng đồng thiếp: Thưa… Thưa thầy, căn số ông nhà tôi nặng lắm. Hồi đầu năm đi lễ “Mẫu” xin quẻ thẻ. Quẻ thẻ xấu lắm, ngờ ngợ tôi đi xem bói. Thấy bói bảo: Năm nay nhà tôi lâm vào cung “Thái Bạch”. Thái Bạch là sạch cửa nhà. Lúc đầu tôi chẳng tin vào ba cái thứ lăng nhăng. Ông nhà tôi quyền lực là thế mà đến bây giờ cũng phải ngớ người ra. Năm nay nhà tôi lận đận, có làm mà chẳng có ăn. Ngày nào cũng thế, từ sở về nhà là mặt mày cau có, ủ rũ. Đêm nằm cứ vắt tay lên chán, trằn trọc vò đầu, bứt tai mãi mới ngủ được. Trong lúc ngủ đôi khi lại hét toáng lên, chân tay co quắp như bị ai đánh… Nhìn thấy thế tôi phải tin. Thôi thì… “thuốc tra, ma cầu”, mong thầy giúp cho. 
Tôi có phải là thầy phủ thuỷ đâu!
Thì vưỡn… Tôi đến là để nhờ thầy làm cho vài nghìn bộ mã, vài nghìn cối vàng thoi, vàng hồ. Đúng rằm tháng bảy, hôm nay là mười ba, hôm ấy là ngày “xá tội vong nhân” tôi quay lại lấy. Tôi phải “hoá mã, giải căn” cho ông nhà tôi thì may mới yên được. Thấy nhớ đúng hẹn, đứng có mà làm hỏng việc của tôi đấy nhé!
Sảng sững sờ trước cái đơn đặt hàng mà mấy đời nhà Sảng chưa bao giờ thấy. Khách đi rồi, xấp tiền dày kệp trên bàn như khẳng định điều đó là có thật. Sảng cầm tiền, mấy ngón tay rẻo quẹo, tờ nọ bắt tờ kia, Sảng đếm nhanh như máy. Sảng cất kỹ tiền vào buồng, còng lưng cúi cổ lo xong món hàng cho khách. Gần hết đêm ngày mười bốn, Sảng đã sắp xếp đâu vào đấy, gọn gàng cả nghìn bộ mã cho vợ chồng nhà nọ. Từ đó Sảng không bao giờ nhận những món hàng lặt vặt kỳ công, vừa tốn sức lại vừa không có tiền. Làng Bùi cũng bỏ nhà Sảng từ đấy!
Giao hàng xong, Sảng tò mò theo dõi khách. Khách đem mã, đem vàng ra bãi tha ma ở cuối làng, ở đấy đã sẵn một nồi “ba mươi” cháo đang bốc khói. Khách thuê mấy người trong làng bày những “bồ kề” lá đa khắp mọi nơi mọi chỗ, múc cháo đổ vào rồi bày biện hương hoa làm lễ. Bà khách xuýt xoa làm lễ cẩn thận lắm… Hết tuần nhang khách bắt đầu hoá mã. Số lượng mã phải mấy người gánh mới hết bốc cháy đùng đùng. Sảng ngấm ngầm tiếc và buồn cười cho bà khách lắm tiền, không dưng đem đốt cả bạc triệu. Song, nhìn vẻ mặt vợ chồng khách ra chiều hả hê lắm! Gió heo may nhè nhẹ thổi, cuốn đi những tàn tro tơi tả, vương vãi khắp nơi.
 Đêm. Sảng thao thức mãi không ngủ được. Câu chuyện bố Sảng kể lúc sinh thời như mọc chân bám vào tâm trí Sảng. Sảng không thể nào xoá nhoà được. Bố Sảng kể: Ngày đó chưa có Sảng, trận đói khủng khiếp kéo dài mấy tháng trời, người chết đói nằm la liệt khắp nơi. Riêng hai cầu chợ Đại quê nhà Sảng, sáng sáng thằng Mới quét chợ lôi xền xết ngưòi chết đói xếp thành đống suốt mấy gian cầu chợ. Phu phen đến giờ đi làm xếp lên xe bò, xe ba gác chở ra bãi tha ma. Có những xe người chết nhiều quá chân tay người chết còn thò ra lòng thòng quét trên mặt đất. chẳng biết người ở đâu mà dồn về nhiều đến thế. Qua đợt ấy, dân trong làng ai có dịp đi ngang qua bãi tha ma, thỉnh thoảng lại ngoái đầu nhìn rồi vội vã bước mau. Người ta cấm trẻ con nghịch ngợm, hoặc thả trâu lại gần. Họ bảo: Âm khí mấy chục năm rồi mà vẫn chưa tan, tháng ba gặp nắng chảng vẫn còn bốc lên ngùn ngụt. Bao nhiêu năm nay không có người đoái hoài đến. Nay bỗng nhiên có hai vợ chồng bà khách nọ… Có lẽ những hồn ma năm đói nay được một bữa no nê. Sảng thiếp đi trong giấc ngủ đầy mộng mị… 
Rồi những năm tiếp theo, không kể ngày tuần, ngày tiết mà bất cứ lúc nào khách cũng có thể tìm về nhà Sảng. Công việc của Sảng tíu tít cả năm. Xóm Mã lâm vào cái vòng “cung cầu” lúc nào không hay. Những hôm trời nắng, người trong xóm đem hàng ra phơi, thấp thoáng sau bờ rào là người nộm, là những con giống xanh xanh, đo đỏ… có khi còn nhiều gấp trăm lần người trong xóm. Khách toàn là những người béo tốt, họ đặt những mẻ hàng khổng lồ. Có kẻ hoá mã ngay ở ngã ba đường. Vẻ mặt họ phảng phất một điều gì không gọi được thành tên, thành tiếng, nhưng nhìn họ làm, Sảng đoán họ đang mưu đồ một việc gì đó hệ trọng lắm. 
Có một điều lạ là khách nào đến đặt hàng cũng tỏ ra hào phóng dễ dãi. Cũng con người ấy, Sảng gặp họ ngoài chợ, họ chặt chẽ và khảnh ăn lắm. Nếu có mua con cá, lá rau họ ỉ èo, oi ỉ hạch sách người bán đủ điều. Chê bai bải, chèo kéo từng xu. Nhưng mỗi khi nhận hàng họ chẳng thèm đoái hoài xấu tốt, đủ thiếu. Họ bảo: Việc đường âm, cốt cái tâm làm chính. Sảng cười thầm nghĩ bụng: Chúng mày cứ đốt, ông đây đếch cần biết. Ông chỉ cần tiền thật, tiền tươi thôi… Sảng tặc lưỡi: Xấu tốt cũng là bộ mã, cúng xong thì đốt. Đốt xong còn cái tàn tro, ai biết đường nào mà lần. Lâu dần, Sảng mất tính cách người thợ… Sảng giàu lên trông thấy. Sảng im lìm như một con trăn no mồi nhưng giấu kín bên trong một niềm mơ ước cháy bỏng. Đã ngoài năm mươi, lấy vợ hơn hai mươi năm rồi mà vẫn chưa được toại nguyện. Hơn vợ mười tuổi Sảng vẫn còn âm ỉ hy vọng. 
Sảng xây lại nhà cửa, sắm sanh đồ đạc bày biện lịch sự. Vợ Sảng béo phây phây. Vợ Sảng vốn con nhà nghèo. về làm dâu nhà Sảng lần hồi đầu chợ, cuối chợ nên lúc này thị như cái mo nang (mo cau) dấp nước. Thị thay đổi da thịt. Chưa có con, cửa nhà vắng vẻ rộng rãi…. Có hôm giữa ban ngày ban mặt, trước mặt khách hàng, vợ Sảng ôm bụng đau quằn quại. Từ trước đã thế, bây giờ lại thấy đau dữ dội hơn… Sảng lo lắm đưa vợ về tận bệnh viện trung ương, vào một chuyên khoa hiện đại để chữa trị.
Hôm ấy, Sảng gặp một tay bác sỹ trông nhẵn nhụi như một cái hột mít. Khuôn mặt hắn thoạt nhìn như mặt trộm. Sảng quan sát mãi mới nhận ra, tay này rất đặc biệt, hình như hắn không có lông mày, không có râu, khuôn mặt cứ thin thin. Nhưng cặp mắt thì rất kỳ lạ, nó cứ hùm hụp sau cặp kính trắng nhìn chòng chọc vào bộ ngực đồ sộ của vợ Sảng. Sảng vào khám trước, rồi ra ngồi ngẩn ngơ đợi vợ. Bệnh viện im phăng phắc. Một lúc lâu vợ Sảng ra khỏi phòng khám mặt đỏ rừ. Sảng nghĩ bụng: Rõ là cái đồ nhà quê! Mà có ai ngờ nửa đời người lại đi khám xét cái… đồ khỉ ấy? Một lát sau, tay bác sỹ xuất hiện. Hắn mủm mỉm cười bảo: Tiếc nhỉ…! Chị thì tốt nái lắm. Còn anh y học hiện đại bó tay, chẳng còn hy vọng gì! Sảng choáng váng như vừa bị một nhát búa đập vào đầu. Ngồi bệt xuống ghế, vã mồ hôi, mặt bệch bạc. Tay bác sỹ lại gần an ủi: Lo gì, y học bây giờ có thể làm được điều này một khá dễ dàng, miễn là phải có tiền. Vợ chồng Sảng đưa nhau về quê. Ra chỗ vắng vẻ, thị ấp cặp vú như vừa mới cương cứng lên vào lưng Sảng bảo: Mình đừng lo, có tiền là có cả thôi mà…
*
Sảng về nhà nằm vắt tay lên trán nghĩ ngợi mông lung, lục tìm trong trí nhớ, lần tìm tông tung tích tổ tông đến tận bây giờ xem có làm gì sai trái mà đến mình bị quỷ thần trừng phạt, mắc một thứ bệnh hiểm nghèo. Vợ Sảng cứ tươi như cái hoa, hơ hớ đi khắp các đình, đài xa gần cầu cúng mà chẳng thấy ăn thua gì. Thần thánh không giúp được việc ấy, chẳng lẽ có thể dùng tiền mà mua được? Một hôm Sảng vào buồng mở cái hòm khoá chuông gia bảo, ăm ắp một hòm tiền! Chẳng biết nghĩ ngợi thế nào mà Sảng ôm gối lăn lộn trên giường xót xa nghĩ: Tiền để làm gì, mình để cho ai? Nếu chỉ vì mình thì  việc gì phải nhọc công sớm tối? Sau đó Sảng ốm lăn, ốm lóc. Vợ Sảng phục thuốc cả mấy tháng trời mới hoàn hồn. Những lúc ngồi một mình, Sảng tự cật vấn lương tâm, rồi tự lý giải bào chữa cho mình. Chẳng qua cũng chỉ vì nghèo quá mà tham tiền nên bị quỷ thần trừng phạt. Thấy Sảng cứ ngồi thừ, vợ Sảng an ủi: Đừng lo mình ạ! Khoa học bây giờ hiện đại lắm. Nghe nói có thể sinh con theo ý muốn kia mà. Mình tin tưởng vào em, cho em đi một chuyến… 
Sảng đồng ý cho vợ mang gạo, mang tiền vào bệnh viện. Sảng đưa vợ đi, lúc quay về gần nhà thì trời đã tắt nắng. Sảng đi ngang qua làng Bùi, đến chỗ cây gạo thì cũng là lúc trăng lên. Bên kia cái hồ nước trước cửa đình trống thúc tùng tùng rộn rã, đèn đuốc như đêm hoa đăng. Hai chùm lửa ở hai đầu gậy như vẽ nên những đường quyền điêu luyện, quen thuộc quá… Sảng reo lên: Múa sư tử! Sảng đoán hôm nay làng Bùi vào đám, tiệc làng dứt khoát phải có múa sư tử. Đúng rồi, những năm trước cứ vào cữ này nhà Sảng phải hoàn chỉnh vài chục cái đầu sư tử cho các làng quanh vùng. Sảng lặng lẽ ngồi xuống mép hồ lẫn vào những người đi xem hội.
Lúc còn nhỏ, vào những đêm như thế này, dù bận thế nào bố Sảng cũng dành thời gian dắt Sảng đi. Trong muôn vàn lễ hội khắp cả năm của các làng, Sảng mê nhất là múa sư tử. Tính mạnh mẽ quyết liệt, sự mềm dẻo của cả thế võ dân gian, cùng với sự nhuần nhuyễn của các điệu múa truyền thống, đám múa sư tử là sôi động nhất, cuốn hút nhất… Thấm thoắt thế mà đã mấy chục năm rồi. Sảng buồn bã nuối tiếc một thời đã qua.
Nhưng tiếng trống thúc, tiếng hò reo, những đường quyền lửa vẫn tưng bừng rộn rã trong huyết quản Sảng. Sảng hoà nhập và cuộc vui lúc nào không biết. Đội múa của làng vẫn như xưa, nhưng hôm nay sao mà họ biểu diễn thiếu sức sống? Bản năng nghề nghiệp chợt bừng tỉnh trong con người Sảng. Sảng nhận ra ngay lỗi này là do người tạo dáng. Người thợ vụng về đã làm giảm uy linh của đêm hội. Lòng Sảng nhoi nhói đau trước một con sư tử chết… Nếu phải tay mình thì đâu đến nông nỗi này! Nhà Sảng đã mấy đời đúc rút kinh nghiệm, nên có một kỹ xảo đặc biệt về mắt “con giống”. Bằng những thủ pháp gia truyền, mắt sư tử nhà Sảng nhận lửa, nhận ánh trăng đêm rằm cứ loé lên lấp lánh theo những đường quyền. Lúc ngả sang tả, lúc lướt sang hữu, lúc chồm lên. Mãnh lực của chúa sơn lâm là sự kết tinh giữa tính mạnh mẽ, sự điêu luyện mang đầy chất nhân bản… Kèm theo những động tác đó, ánh huỳnh quang xanh lét như từng đàn đom đóm toé ra từ mắt sư tử. Ấy là Sảng đã gửi được cái tài hoa của mình vào trong đó. Sảng chới với, bồng bềnh trong cái đẹp đã đạt đến độ hoàn mỹ. Cái đẹp ấy đã chết lâu rồi trong lòng Sảng!
Trăng lên cao, cuộc chơi đã tàn. Sảng lẫn vào dòng người giã hội cứ thưa dần… thưa dần… Họ như bị nuốt vào những ngõ nhỏ như nanh sấu suốt dọc đường về. Âm vang của đêm hội tan chìm dưới ánh trăng thu lành lạnh. Một nỗi buồn mơ hồ dâng lên ngập lòng Sảng. Tâm trạng bồn chồn, bứt rứt về một đêm hội không hoàn thiện. Đó chỉ là một con bò ngu ngốc chứ đâu phải con sư tử? Sảng cảm thấy tự ái vì tư cách nghề nghiệp bị thoá mạ.
Bỗng có tiếng gọi: Bác Sảng, bác sang xem hội. Sảng quay lại nhận ra ngay ông khách quen đã mấy chục năm nay của nhà mình. Sảng bảo: Vâng! Ông khách nói như phân bua: Từ ngày ông không nhận hàng, chúng tôi phải đi chỗ khác. Không thể nào có một ông chúa sơn lâm như trước. Nhưng vẫn phải làm, bởi đó là cái “hèm” của làng lão từ xưa truyền lại… Rồi lão nói như chỉ nói với mình, giọng trầm ngâm xa xôi: Còn giữ được cho con cháu ngày nào thì phải cố mà giữ…
Sau đêm đó, Sảng về đóng cửa ngồi lỳ trong nhà, chẳng ai biết nguyên nhân vì sao. Bao nhiêu người đến đặt hàng Sảng đều từ chối hết. Xóm Mã trong cái vòng quay tít mù của cơ chế thị trường ngạc nhiên bảo: Cái lão này đóng cửa để luyện thuốc trường sinh chắc! Mặc kệ, Sảng bỏ ngoài tai, cổng nhà Sảng vẫn im ỉm đóng.
*
Vợ Sảng trở về nhà đúng mùa dâu da chín. Khách buôn trong xóm Mã tấp nập đóng hàng. Lòng thấy vui vui, vợ Sảng lượn khắp vườn rồi thị ngồi bệt bên một gốc cây, tay bứt từng chùm quả ăn ngon lành. Ai nhìn thấy cũng quay mặt rùng mình, cảm giác lỏng cả chân răng vì chua. Vợ Sảng ngồi lì ngoài vườn ngấu nghiến ăn. Thị khéo léo tách lớp vỏ dày như mở một cái nắp hộp tròn, móng tay nhuộm son đỏ chót, nhón từng múi mòng mọng đưa lên miệng lòng khấp khởi mừng thầm. Thị nghêu ngao hát những câu đồng dao mà thủa thiếu thời trong xóm thị cùng đám trẻ trong xóm vẫn thường hát:
Ăn quả dâu da,
Mọc ba cái mụn…

Hát xong, vẻ mặt thoả mãn tràn ngập trên khuôn mặt người đàn bà… Lạ quá… Vẫn không thấy Sảng đâu. Thị đẩy cửa bước vào nhà, giật nẩy mình kêu rú lên rồi ngây người chết đứng. Trước mặt thị, chồm hỗm giữa nhà là một con sư tử! Một con sư tử to lớn, lẫm liệt mà thị chưa bao giờ nhìn thấy trong đời. Ngoài cặp mắt lồi loé lên những tia hào quang, cái bờm mới kỳ lạ làm sao. Nó rung rinh làm thị có cảm giác như con sư tử sắp chồm tới. Thị biết ngay đây là những kỹ thuật độc đáo mà chỉ có Sảng mới làm được như vậy. Định thần nhìn kỹ, thị chợt nhận ra chồng mình cũng là một con sư tử ngồi ngay bên cạnh. Mọi tinh lực của anh ta dồn cả vào hai con mắt, lấp lánh, tinh anh, dũng liệt. Tóc tai loà xoà trùm lên gương mặt, râu ria đâm ra tua tủa… Thị giật mình đi giật lùi… giật lùi ra vườn. Trong xóm Mã xanh rờn những tán dâu da thoảng như có tiếng gầm muông thú!



Hà Nguyên Huyến


Tìm kiếm theo chuyên mục - nội dung - ngày tháng

Tin Nóng
Tin tiêu điểm

Lịch công tác trống

Website liên kết
Thống kê truy cập
Hôm nay: 197
Đã truy cập: 295578