Người thừa kế

22/05/2017 10:00

Thịnh biết chắc chắn về thói quen tự tay đi sắm “bông, thanh, hoa, trái”, đốt hương, hoá vàng vào ngày rằm hàng tháng có từ bao giờ. Hơn hai mươi năm nay công việc ấy là một phần đời sống không thể nào thiếu được. Bắt đầu từ rằm tháng chín năm ấy, năm anh được về đây nương náu dưới mái nhà này!

Hôm ấy là một ngày khô ráo sau những trận mưa thu tầm tã. Gió máy bắt đầu thổi ào ạt từng cơn. Gió lùa dọc theo những đường phố của một thị xã trung du. Thịnh đi sau người cán bộ già của sở quản lý nhà đất. Mái đầu của ông ta cứ cung cúc theo từng nhịp lẹt xẹt của đôi dày da để cờ-rếp đã mòn vẹt, áo sơ-mi bỏ trong quần ka-ky là phẳng phiu. Cái thắt lưng da sơn cũ. Chùm chìa khoá bỏ túi nối với cái dây đeo mạ kền mòn trơ cả lõi vàng khè… Hình ảnh người công chức thời Pháp thuộc mà Thịnh đọc đâu đó trong sách vở làm anh bật cười. Đến trước cửa ngôi nhà này ông ta quay lại bảo: 

- Bây giờ phần cậu, hãy gìn giữ cho cẩn thận. Đây là ngôi nhà vắng chủ, chúng tôi đã làm tốt điều đó nhiều năm rồi…

Cầm cái chìa khoá đồng to như cái búa của người thợ kim hoàn, Thịnh tần ngần cho vào ổ. Một tiếng “tách” mơ hồ vang lên đâu đó trong nhà, trước khi đẩy cửa bước vào chẳng hiểu sao Thịnh ngoái đầu nhìn lại. Một làn gió bất ngờ ào đến, cây bàng trước cửa hình như có một thoáng rùng mình, tả tơi rũ những phiến lá già đỏ tía màu huyết dụ xuống vỉa hè. Cuối phố, bóng người công chức già vừa khuất dạng vào một ngách phố đâm ngang. Chiều thu âm thầm buông xuống những đường phố vắng lặng.

Thịnh bàng hoàng, anh được ở trong ngôi nhà này ư, điều đó có thật không? Thịnh khẽ đẩy hai cánh cửa gỗ lim màu cánh dế nặng trịch, cửa quay êm du trên những khớp bản lề bằng đồng đỏ au. Thịnh với tay, điện bừng sáng, căn phòng mặt tiền ngôi nhà rộng thênh thang. Hình như chẳng có thứ đồ đạc gì được bày biện ở đây ngoài một bộ sa-lông cổ. Bộ sa-lông được trạm khảm theo kiểu “trúc hoá long” (trúc hoá rồng) nên thanh thoát, cao ráo và nghiêm trang. Án ngữ trước cửa chính quay ra phố là một chiếc tủ cao như tủ đứng, rộng như tủ ba buồng, được phân làm ba tầng. Tất cả bốn mặt tủ đều được bọc kính trong vắt. Một chiếc bình cổ men trắng trang trí hoa văn xanh tím để ở tầng giữa rất nhã, cái tủ vô tình như một bức bình phong. Nối với hai phòng trong là một hệ thống cửa hun hút làm thành một hành lang hẹp. Các phòng đều được lát bằng một thứ gạch men sứ thuần đen trắng, thứ gạch mà Thịnh biết chắc chắn nó được đóng trong những thùng gỗ thông, trở bằng tàu thuỷ, mang từ Pháp sang Việt Nam vào những năm đầu thế kỷ hai mươi. Thịnh đâu có ngờ đời mình lại được ở trong một ngôi nhà như thế!

Thịnh sinh ra trên một vùng bãi nổi giữa sông Hồng, vùng bãi quanh năm chỉ thấy ngàn ngạt xanh một màu lá mía. Mía mọc từ đầu bãi đến cuối bãi, mía trùm lấp lên những nếp nhà “nhất gian quây tam”. Cánh bãi được nối với đôi bờ bằng một bến đò cuối xóm. Từ xa nhìn lại, cánh bãi như một hòn đảo cô độc giữa bốn bề ào ạt nước chảy xuôi.

Thịnh lớn lên bên người cậu ruột làm thợ mộc, một người cậu hầu như quanh năm vắng nhà. Vào những năm sáu mươi (thế kỷ XX) cha anh lên đường theo đoàn quân Nam tiến. Mấy năm sau, mẹ anh mất trong một dịch sốt thương hàn. Mười lăm tuổi Thịnh đã phải cáng đáng phần việc trong gia đình người cậu như một người đàn ông thực sự. Không thể ngồi nhìn đàn em lít nhít bên cạnh người mợ mà suốt đời bà như đã mắc phải chứng sản hậu mòn… Chẳng còn cách nào khác, chỉ còn cách lao vào công việc thì mới mong thoát khỏi cái đói lúc nào cũng rình rập trước cửa nhà. Năm Thịnh mười tám tuổi, người cậu trở về trong những ngày mưa ngâu buồn bã. Sau mấy ngày ngồi bó gối trên chiếc chõng tre nhìn mưa và lo lắng cho số phận gia đình. Một đêm đã khuya, ông gọi Thịnh dậy, bảo:

- Cháu ạ! Mày phải lấy vợ thôi, bố mẹ mày có một mình mày, số bà ấy vất vả, không sống được đến bây giờ mà lo cho con đến đầu đến đũa. Bố cháu đi biền biệt hơn chục năm rồi không có tin tức gì, chiến tranh thì mỗi ngày một thêm ác liệt. Tình hình này rồi chẳng biết sẽ đi đến đâu. Họ hàng nội ngoại thì chỉ một mình cậu là ruột rà thân thích. Cậu không chu tất được cho cháu thì nay mai đến lượt các em mày biết tính thế nào.

Tháng mười năm ấy đám cưới Thịnh được tổ chức. Vài nón chè tươi, dăm lạng thuốc lào, vài tràng pháo tay cũng xong một đám cưới thời chiến. Anh và Thuỳ cô gái cùng xóm nên vợ nên chồng. Hai người ra đầu bãi dựng một nếp nhà theo lối truyền thống của người Bãi Nổi. Nếp nhà “nhất gian quay tam” tuy chật chội nhưng lúc nào cũng ăm ắp tiếng cười. Cuối năm đó Thịnh lên đường nhập ngũ, anh được bổ sung vào một đơn vị đóng quân tại một tỉnh biên giới.

Sau ngày giải phóng miền Nam, nhận được điện báo của gia đình. Thịnh xin phép đơn vị vội vã về nhà, lòng bồi hồi lo lắng. Chẳng biết có việc gì mà vợ anh lại gấp gáp như vậy. Về đến nơi, Thịnh ngã ngửa người vì được biết chính quyền chuẩn bị làm lễ báo tử cho cha anh. Thịnh gục xuống, bao nhiêu năm nay anh chờ đợi, chờ đợi một ngày nào đó cha anh sẽ về. Anh khao khát được gọi một tiếng “cha” bình dị như bao đứa trẻ trong làng, vậy mà suốt đời không bao giờ có được. Bao nhiêu năm nay vượt qua mọi gian khổ của đời sống, sự ác liệt của chiến tranh vì anh luôn cảm thấy có bóng dáng cha mình bên cạnh. Trước ông, anh luôn là đứa con bé bỏng, ông là niềm kiêu hãnh, tự hào cho mỗi bước đi của anh. Giờ đây Thịnh làm sao đứng vững trong cuộc đời này. Mất mát quá lớn, Thịnh suy sụp đến mức không ai có thể ngờ. Anh không còn đủ sức lực để trở về đơn vị.

Đã mấy ngày rồi mắt Thịnh ráo hoảnh và vô hồn trước mọi lời khuyên giải. Cứ đà này có thể Thịnh sẽ rơi vào một chứng trầm cảm thì hậu quả không biết đi đến đâu… Đêm đó là một đêm cuối tháng, sau rất nhiều đêm như thế, Thịnh vẫn ngồi bất động trước cửa nhà mình thì bỗng có một người đàn ông xuất hiện. Ông ta ngồi xuống bên cạnh, vòng tay ôm Thịnh vào lòng. Tay ông lần tìm tay Thịnh rồi xiết chặt. Thịnh giật mình bởi bàn tay to bè, thô tháp. Thịnh gục đầu vào vai người đàn ông khóc nức nở như một đứa trẻ và khẽ gọi: 

- Bác Kim Giang, bác ơi! Cháu biết làm sao bây giờ?

- Cháu hãy xứng đáng với cha cháu!

Nói rồi người đàn ông giao lại cho Thịnh bộ quần áo nham nhở cháy và đôi quân hàm trung tá. Qua ông, Thịnh được biết cha của Thịnh sau những năm “đồng khởi” là Trưởng ty Công an tỉnh BT, Phó bí thư tỉnh ủy trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng ở vùng đất ven đô ác liệt này. Ông đã bị địch phục kích trên đường đi công tác và anh dũng hy sinh. Sau khi tiếp xúc với bác Kim Giang, bạn chiến đấu cùng với cha mình, Thịnh như được tiếp thêm sức mạnh. Anh cảm thấy đời mình không chơi vơi, hụt hẫng nữa. Giờ đây bên cạnh anh có đồng đội của cha mình. Sáng hôm sau Thịnh khoác ba lô trở về đơn vị vừa lúc cuộc chiến tranh biên giới bùng nổ. Anh đã có mặt kịp thời trong đội ngũ của những người gìn giữ biên cương của Tổ quốc.

Khi chiến tranh biên giới kết thúc, Thịnh ra quân với một vết thương vào đùi, anh chuyển ngành sang đường sắt. Thịnh được phân công gác “ghi” ở một cái ga xép đầu thị xã, một cái ga hẻo lánh chỉ có hai cặp đường ray. Những con tàu về thường phải rẽ vào dừng lại nhường lối cho những con tàu đi. Những con tàu đi không bao giờ dừng lại ở ga này. Vào những đêm khuya khoắt, Thịnh ngẩn ngơ nhìn những con tàu tăng tốc rời ga băng băng trên đường sắt, vùn vụt lao vào màn đêm mênh mông. Thịnh quay về thao thức, trằn trọc trong cái trạm bốn mét vuông kín như một cái hộp… Những lúc như thế hình như không chịu đựng nổi mình, Thịnh có cảm giác nó như cái nhà mồ giam giữ cuộc đời anh. Thịnh cồn cào nhớ về vùng bãi nổi sông Hồng trong miên man trời nước. Nơi ấy là làng anh, nơi ấy có tuổi thơ anh lang thang mỗi buổi chiều về. Ký ức chỉ còn lại một vùng ào ạt gió thổi qua đầu trong bạt ngàn xanh lá mía…

Không thể quay về được, cái đèn tín hiệu phía cuối đường “ghi” đỏ lừ như một con mắt của đêm đen mách bảo lời khuyên tỉnh táo của lý trí: Anh sẽ là gánh nặng của gia đình với cái chân tàn tật! Vợ con anh giờ này đã ngủ chưa? Đang mùa thu hoạch mía nặng nhọc và cật lực… Mùi khói bã nghiền và mùi mật đang vào nước ngào ngạt thơm làm cho Thịnh như say lửa.

Thế rồi tai hoạ ụp xuống đầu Thịnh!

Hôm ấy anh về đến bờ sông thì trời vừa sâm sẩm tối. Thịnh phóng tầm mắt nhìn ra ngoài sông, chỉ còn lại trên những lưỡi sóng ngầu đỏ và những tàu lá mía héo úa lập lờ trên mặt nước. Thỉnh thoảng chúng lại khua lên như râu của một đàn tôm khổng lồ mừng nước lũ. Cả cánh bãi chỉ còn lại một màu tối sầm trước mắt Thịnh. Suốt cả một triền đê nháo nhác người và gia súc. Con chó nhà ai sủa inh ỏi trước một con trâu lạc từ dưới nước đi lên. Móng nó ngâm nước lâu ngày bị tuột hết cả, trơ ra những móng non đỏ loét. Nó lẩy bẩy bước rồi khuỵu xuống, mắt lồi ra, mũi thở phì phì, chân duỗi dài đau đớn…

Thịnh tìm thấy vợ con trong một mái lều dựng tạm, vợ anh nức nở giải thích: Đang đêm thì bất chợt lũ đổ về, em chỉ kịp tháo con thuyền nan ở trái nhà xuống. Thuyền cũ, nan mâu ải không chống lại được cơn lũ quái ác. Đến giữa sông thì nước ồ ạt chảy vào lòng thuyền tát không kịp, cơ hồ chết cả nhà. Thằng Thụ nhảy ra khỏi thuyền vừa bơi vừa đẩy, vào được gần bờ em quay lại chẳng thấy con đâu… Anh ơi! Đã bảy ngày rồi chắc con nó đang nổi trên mặt nước, đi tìm con đi anh… Vợ Thịnh khóc ngất đi, anh cúi nhìn hai đứa con nhỏ còn lại rồi ôm chúng vào lòng. Nước mắt anh chảy dài trên gương mặt dãi dầu khắc khổ.

Nửa tháng sau nước rút, cánh bãi hoang tàn khủng khiếp. Qua trận lũ, dòng sông chuyển mình thúc vào cánh bãi, cánh bãi trôi mất một nửa. Chính quyền sắp xếp di dời những hộ dân mất đất vào sát chân núi cách nhà mấy chục cây số. Thịnh quyết định đưa vợ con ra đi.

Anh quay lại nhìn vùng đất đã gắn bó với anh mấy chục năm trời, chẳng những tuổi thơ của anh mà với cả các con anh vẫn để lại những dấu ấn đau đớn xót xa. Thịnh cảm thấy chính mình là kẻ có tội, anh đã không che chở đỡ đần được vợ con mình, chúng đâu phải như anh, chúng có một người cha nhưng là một người cha… vô tích sự! Hình ảnh đứa con trai bị lũ cuốn trôi lúc nào cũng dập dềnh trong đầu anh như một cơn ác mộng. Thịnh đưa vợ con về cái ga xép đầu thị xã, tất cả chui rúc trong cái hộp bốn mét vuông. Anh vẫn gác “ghi” dẫn đường cho những con tàu về nhường lối cho những chuyến tàu đi. Chị mòn vai với gánh hàng rong luồn lách giữa các phố phường nhọ mặt người mới về đến nhà. Cuộc sống nhọc nhằn với chuyện cơm áo độ nhật. Song sự ồn ã thị thành đè nén những ám ảnh đau khổ về một vùng quê.

Những ngày tháng ấy kéo dài không lâu. Một hôm Thịnh nhận được giấy gọi về Tổng cục. Ông cán bộ tổ chức trực tiếp yêu cầu anh sắp xếp lại nội vụ để đảm bảo an toàn cho những chuyến tàu. Thịnh vô cùng bối rối, anh vò nẫu mình bằng trăm nghìn toan tính, rốt cuộc chẳng biết chui rúc vào đâu bây giờ. Anh đề nghị cơ quan giúp đỡ. Có hàng nghìn lẻ một những lý do cả về phía anh lẫn cơ quan làm cho Thịnh vẫn hoàn toàn bất lực. Cuối năm đó anh phải buộc thôi việc vì không hoàn thành nhiệm vụ! Như một kẻ cùng đường, vô vọng, Thịnh đưa vợ con mình đến chính quyền thị xã trình bày hoàn cảnh. Bằng cái bắt tay thắm thiết tình đồng chí, ông bí thư thị uỷ già, hoạt động cùng thời với bố Thịnh thân mật dặn dò: 

- Cậu về ở tạm đấy, chúng tôi sẽ có trách nhiệm…

Thịnh về tiếp nhận ngôi nhà số 62, phố Quang trung, thị xã HĐ. Khi vợ chồng con cái quây quần xì xụp vào bữa cơm tối bốc khói trong ngôi nhà này, Thịnh vẫn bàng hoàng như một giấc mơ. Anh tự hỏi lòng mình: Phải chăng đã có một bàn tay vô hình nào đó dàn xếp, hay Tạo Hoá vẫn thường hay bày đặt cho mỗi số phận một bước ngoặt bất ngờ!

Mấy ngày sau, Thịnh tìm hiểu và được biết rõ hơn về lại lịch ngôi nhà. Đây là một ngôi nhà hai tầng đã được xây cách đây gần một thế kỷ. Chủ nhà là ông bà An Khánh, chủ hãng buôn bán bánh kẹo và đường mật nổi tiếng một vùng. Gia đình giàu có này chỉ duy nhất có một đứa con trai. Học hết đip-lôm anh ta ở nhà buôn bán giúp cha mẹ. Tuy còn ít tuổi nhưng người con trai làm ăn rất chí thú, anh ta đã thay cha mẹ trong hầu hết những chuyến giao dịch, mua bán và thật sự trở thành một một người kinh doanh sành sỏi, từng trải của thương trường. Hãng An Khánh nhiều năm nay làm ăn thịnh phát, bỗng người con trai lăn vào những lạc thú chết người. Những canh bạc nghiêng bại gia sản, những trận rượu chè, thuốc sái triền miên… Sau rất nhiều lần khuyên răn ngọt nhạt nhưng người con vẫn chứng nào tật nấy. Hãng An Khánh cơ hồ phá sản! Vốn bản tính cứng rắn và quyết liệt của người làm ăn, người cha trong một lúc bực bội đã đuổi con mình ra khỏi nhà. Người con trai bỏ đi, một thời gian sau nghe nói anh ta đăng lính “tàu bay” (lính nhảy dù) trong quân đội Pháp. Sau 1954 anh ta vào Sài Gòn. Miền Nam hoàn toàn giải phóng, hoảng sợ với quá khứ của mình, anh ta đã cùng vợ con bỏ chạy ra nước ngoài.

Sau khi người con trai bỏ đi, ông bà An Khánh bằng kinh nghiệm vẫn đứng vững trên thương trường. Sản phẩm của họ vẫn lưu lại tiếng tốt trong lòng khách hàng, việc buôn bán không hề giảm sút. Trong “Tuần lễ vàng”, Chính phủ Việt Minh kêu gọi quyên góp, ông bà An Khách đã bỏ ra mấy chục lạng vàng lá “Kim Thành”, đứng đầu trong danh sách những người ủng hộ trong thị xã. Có người bạc khẩu bảo: Ông bà An Khánh sợ tội ác mà người con gây ra đã bỏ vàng ròng ra mua cảm tình của cách mạng, cầu lấy sự yên ổn… Bỏ mặc tất cả, hãng An Khánh vẫn tồn tại cho đến ngày “hoà bình lập lại” (1954). Trong công cuộc cải tạo “tư sản tư doanh”, ông bà An Khánh đã tự nguyện hiến toàn bộ các chi nhánh của mình ở các nơi cho nhà nước, chỉ xin được giữ lại ngôi nhà hai tầng trong thị xã, nơi có hai chữ đại tự “An Khánh” nổi tiếng một thời. Hai ông bà sống đến cuối đời trong ngôi nhà đó. Trước khi qua đời bà bảo ông: Chém con đằng sống chứ không ai chém đằng lưỡi…! Ông ngậm ngùi làm giấy tờ gửi ngôi nhà cho chính quyền thị xã, di chúc cho đứa con độc nhất khi biết ăn năn hỗi lỗi trở về. Nghe nói đám ma ông bà đông lắm, hình như cả thị xã đưa tiễn. Họ bảo nhau: Ông bà An Khánh ăn ở như bát nước đầy thế mà cuối đời lại như thế này! 

Hôm nay Thịnh được ở đây cũng là dựa vào tiêu chuẩn gia đình liệt sỹ, bản thân anh là một thương binh. Âu cũng là một cách giải quyết “chữa cháy” của chính quyền. Tuy được sử dụng ngôi nhà với danh nghĩa thuê lại của Sở quản lý nhà đất nhưng vợ con Thịnh chỉ dám sử dụng hai phòng ở tầng dưới. Với anh như thế là quá đủ, hai đứa trẻ con anh, chúng đang tuổi nghịch ngợm nhưng chẳng hiểu sao chúng rất ít lên tầng trên, hay chúng cũng như anh cảm giác rờn rợn bao nhiêu năm nay rồi vẫn không thể xóa nhoà đi được.

…Hôm đó sau bữa cơm tối, Thịnh bật tất cả đèn trong các phòng, căn nhà bừng sáng giữa con phố dài heo hút nhoè nhoẹt trong mưa. Trên tầng hai ở một căn phòng                   nghiêm trang nhất, mọi thứ vẫn y nguyên và bình thường như không hề có dấu hiệu của mấy chục năm vắng chủ. Trên mặt tủ thờ gỗ gụ, bộ đỉnh đồng trầm mặc uy nghi, đằng sau là hai giá ảnh thờ vững vàng đường bệ. Nổi bật trong hai khuôn hình bầu dục là hình ảnh ông bà An Khánh vẽ to hơn người thật. Người hoạ sỹ tài danh nào đó đã gửi cái thần vào ảnh, sống động đến mức Thịnh có cảm giác chỉ trong nháy mắt ông bà An Khánh sẽ bước ra trước mặt Thịnh. Thịnh lặng lẽ rút mấy thẻ hương cúi đầu, một lời nói từ sâu thẳm lòng anh bật ra một cách rất tự nhiên: Trăm lạy các cụ, các cụ sống khôn thác thiêng, chúng con là kẻ cơ nhỡ nay được nương nhờ bóng các cụ, cầu xin các cụ phù hộ che chở cho…! 

Hai phòng còn lại một là phòng ngủ, một phòng kê cái kệ sách. Cho đến tận bây giờ Thịnh vẫn không dám động tay vào. Thịnh vội vàng đi xuống, chân anh dường như không có tiếng động trên những mặt bậc gỗ lim. Tay anh lướt trên tay vịn cầu thang lành lạnh, cái tay vịn bóng loáng nhưng Thịnh vẫn cảm thấy gờn gợn dưới tay mình chi chít những vết bàn tay đã đặt lên trên đó. Từ bấy đến giờ, cứ rằm tháng chín âm lịch hằng năm, dù có bận đến đâu Thịnh cũng dành thời gian sửa một cái lễ. Từ trong thâm tâm anh coi đó là ngày giỗ một thân nhân của mình. 

Chẳng biết có phải do một sức mạnh thần bí nào giúp đỡ hay không, song chỉ với một cái tủ con buôn thuốc lào đặt ngay trước cửa ngôi nhà, vợ Thịnh đã nuôi sống cả nhà một cách tươm tất. Nhiều lúc Thịnh buột mồm bạc bẽo: Giàu ở nhà quê không bằng gánh nước thuê hàng phố. Nói vậy nhưng anh làm sao quên được những năm vợ chồng con cái anh sậm sụi ở cái ga xép thì chẳng nói làm gì, còn giờ đây những đêm mưa gió mịt mù được êm ấm trong mái nhà này anh lại nhớ về quê. Nỗi nhớ gặm nhấm rày vò chẳng mấy lúc Thịnh được nguôi ngoai. 

Vài năm gần đây không hiểu vì nguyên nhân gì giá đường tụt xuống quá thấp, một cân đường hai cân gạo. Người trồng mía quê anh tứ tán tha hương. Nhiều đêm Thịnh tự hỏi mình: Đêm nay bao nhiêu mảnh đời vẫn phải dầm mưa dãi gió, bao nhiêu đứa trẻ phải chịu phận hẩm hiu như con anh… Tất cả, tất cả cứ dập dềnh trong đầu anh chao đảo. Vợ anh sau nhiều lần khuyên nhủ mà anh vẫn cứ thế, như một người ốm đứng trong nhà. Chị bực bội: Ốc chẳng tha được mình ốc lại cứ muốn tha thêm cọc rêu.

Một hôm có một ngưòi khách ngoại quốc tìm đến trước cửa căn nhà, ông ta nói tiếng Việt lơ lớ, Thịnh loáng thoáng nghe, có hai từ “An Khánh” chạy qua tai, anh linh cảm thấy một điều bất thường. Thịnh chạy ra, lóng nga lóng ngóng trước điệu bộ của người khách. Mãi sau Thịnh mới lờ mờ hiểu người khách muốn mua bánh chè lam. Anh ta giải thích: Nó vẫn được bày bán ở cái tủ này, anh ta chỉ tay vào cái tủ kê ở phòng ngoài, cái tủ ba tầng bọc kính vẫn được kê ở đây như bao nhiêu năm nay… Thịnh hiểu ra tất cả, một ý nghĩ loé lên trong đầu. Từ hôm đó anh là một người khác hẳn, vui vẻ, hoạt bát và là một con người tràn trề hy vọng.

Sau vài năm “đổi mới” cuộc sống đột ngột tăng tốc. Chính quyền thị xã phải giải toả một dãy phố đối diện với phố này, một con đưòng thênh thang chay qua trước cửa nhà Thịnh. Khách du lịch nườm nượp đổ về, Thịnh khuyên vợ bỏ thuốc lào chuyển hướng làm ăn. Vợ anh tính toán lười nhác theo kiểu người nông dân được mùa: Cho thuê! Không, Thịnh kiên quyết.

Anh về quê, đến tận các lò đặt sản phẩm đặc chế từ mật mía, nhất là chè lam, mặt hàng đã được hãng An Khánh nhiều năm kinh doanh. Cái tủ bỏ không nay lại được bày bán những mặt hàng truyến thống. Tất cả đều được đưa từ quê anh ra. Như một sự may mắn tình cờ, Thịnh đã đúng hướng. Giá cả, tình cảm và chất lượng của Thịnh gửi vào hàng hoá đã làm cho bánh kẹo An Khánh hồi sinh. Lần đầu tiên trong đời Thịnh được học những bài học đầu tiên hoàn toàn không nằm nắm trong sách vở! Cả một vùng mía trên bãi nổi làng anh dần xanh lại. Thịnh không ngờ anh đã làm được điều mà rất nhiều đêm anh đã phải đau đầu nhức óc. 

Thấm thoắt đã vài năm trôi qua, Thịnh tíu tít trong cơ chế thị trường. Đêm đêm anh bàn bạc với vợ: Cố gắng làm, chi tiêu tằn tiện để dành tiền mua một khoảnh đất khác mới làm ăn lâu dài được. Hai vợ chồng Thịnh ăn vừa đủ, ngủ vừa tới. cách làm của họ đơn giản, lặng lẽ như mạch nước ngầm ngày ngày rả rích vun đầy cho những ước mơ của họ.

Bỗng một hôm Thịnh nhận được giấy của chính quyền buộc phải trả lại căn nhà, nghe nói người thừa kế từ nước ngoài trở về. Thịnh đổ xuống như một cây gỗ bị đốn ngang thân. Anh nằm bẹp mấy ngày liền, trong đầu lộn xộn bao suy nghĩ: Giá như thời gian này chậm thêm vài năm nữa thì vợ chồng anh đâu đến nông nỗi này. Những ngày sống qua vụt hiện về như một tai hoạ lơ lửng treo trên đầu ngày ngày đe doạ anh. Thịnh trăn trở tìm một giải pháp mới. Bế tắc vẫn hoàn bế tắc, như kẻ “kiệt lương vô kế”, Thịnh đau đớn tuyệt vọng! Thịnh đau với nỗi đau của kẻ sắp chết đói, nay có miếng ăn đến mồm bị kẻ khác ngang nhiên giật mất. Mà kẻ ấy là ai? Nó chính là thằng hai, ba lần phản bội cách mạng, sợ bị trừng trị, bỏ quê hương xứ sở mà chạy trốn. Nay không dưng lù lù mọc ra, có khi chỉ với món tiền tài trợ cho một tổ chức từ thiện nào đó lại trở thành “Việt kiều yêu nước”, thành người lương thiện. Rồi nó đòi hỏi, yêu sách này nọ… Nó chính là thủ phạm cướp giật cuộc sống của những người như anh. Những người đã từng mang máu của mình ra để có ngày hôm nay.

Nhưng dù sao đi nữa, lật đi lật lại mọi góc cạnh của vấn đề, Thịnh vẫn là người “tình ngay lý gian”, pháp luật là pháp luật anh làm sao có thể khác được. Vợ Thịnh bảo chồng: Không chừng thấy miếng mỡ, một ông “quan” nào đó nảy sinh ý “tham” bày ra màn kịch này để cướp trên tay vợ chồng mình cũng nên… Có thể lắm, thời buổi này hàng trăm thứ lắt léo mà những người dân như vợ chồng Thịnh làm sao có thể lường hết được. Thịnh tìm kế hoãn binh, cho đến khi Thịnh nhận được quyết định thi hành sau mười lăm ngày nếu không thi hành thì sẽ phải cưỡng chế. Anh như người ngồi trên lửa, anh chạy ngược chạy xuôi van vỉ, vật nài các cơ quan chức năng như một kẻ lắm điều. Đến ngày thứ mười, Thịnh bảo vợ: Đi tìm một chỗ nào đó, thuê! Vợ Thịnh tất tả ra khỏi nhà, anh ngồi bó gối tự cật vấn lương tâm mình. Tại sao tai hoạ cứ liên tiếp tìm đến anh mà giáng xuống, thật là bất công, anh có đến nỗi nào đâu. Là con một sỹ quan an ninh đã hy sinh trong chiến tranh, bản thân là thương binh… Hoàn cảnh đưa anh đến chỗ cùng kiệt. Vừa mới xây dựng lại cuộc sống, đang vào nhịp thì lại phũ phàng lỗi nhịp… Biết đến bao giờ anh mới bắt được vào cuộc sống bình thường được.

Vừa lúc đó một chiếc xe sang trọng đỗ xịch trước cửa nhà. Từ trên xe bước xuống là một người đàn ông tóc bạc trắng nhưng ăn vận lịch sự. Thịnh lẩm bẩm: Thằng khốn nạn đến để đuổi mình ra khỏi nhà đây. Anh liếc nhìn một thứ dụng cụ, mắt ngấu lên. Phải đập vào cái mặt phởn phơ kia, nó làm sao biết được cảnh cơ hàn... Thịnh giật thót mình thốt lên: 

- Bác Kim Giang!

Người đàn ông thoáng một chút lưỡng lự rồi định thần tươi cười bảo: 

- Bác đến thăm cháu, lâu quá rồi phải không?

Thì ra bác Kim Giang vẫn còn quan tâm đến anh, làm sao từ hôm ấy anh không nghĩ đến bác nhỉ, thật là lú lẫn… Nếu ngày ấy mà không có bác thì đến bây giờ không biết Thịnh sẽ ra làm sao. Như người chết đuối vớ được cọc, Thịnh vội vã trình bày. Bác Kim Giang im lặng ngồi nghe, bảo: Mai đến chỗ bác, bác cháu mình sẽ tìm cách khắc phục! Thịnh đưa bác đi thăm hết căn nhà, lên tầng hai đến trước bàn thờ, hình như bác Kim Giang cũng có cảm giác như anh mấy năm trước về đây. Gần như không giấu được xúc động bác thắp hương rồi lặng lẽ cúi đầu… Trước khi đi, bác Kim Giang trao cho Thịnh một tấm “các” và dặn: Nhớ ngày mai, vào buổi tối cháu nhé! Thịnh vô cũng mừng rỡ nói với vợ: Bác Kim Giang thật kịp thời, hình như bác là vị cứu tinh cho cuộc đời mình.

Chập tối hôm sau Thịnh tới cơ quan bác Kim Giang. Anh bị người lính cảnh vệ căn vặn đủ điều. Sực nhớ ra tấm “các”, người cảnh vệ xem xong dẫn anh lên tầng hai một toà nhà nằm sâu trong khu đất này, đó kà nơi Bác Kim Giang ở. Bác bảo Thịnh ngồi rồi rồi đi ra ngoài lấy nước. Thịnh ngồi một mình lặng lẽ quan sát xung quanh. Một căn phòng vừa là phòng làm việc vừa là phòng ngủ. Thịnh đoán thầm chắc nhà bác ở cách xa đây, anh liếc nhìn bộ quân phục treo trên mắc áo và dừng lại ở đôi quân hàm thiếu tướng. Lòng Thịnh bồi hồi. Nếu như cha anh còn sống đến bây giờ… Bác Kim Giang vào, ân cần mời Thịnh uống nước, bác hỏi: 

- Cháu nhất thiết phải ở chỗ đó sao, tìm một chỗ khác có hơn không?

- Cháu đào đâu ra tiền.

- Bác sẽ giúp cháu - Bác Kim Giang nói sau một lát suy nghĩ.

- Cũng chưa hẳn thế bác ạ! Căn nhà đó là cửa hàng của hãng An Khánh ngày xưa. Mấy năm nay cháu mượn tiếng của hãng mà tìm ra lối thoát không chỉ riêng cho cháu, mà là cả một vùng bãi nổi sông Hồng. Cháu chỉ cần một vài năm nữa thôi, khi ấy cứng cáp rồi tự bản thân cháu xoay xở, không dám mượn đến tiền của bác… Quan trọng là cái tiếng, cái tiếng của hãng An Khánh để lại lớn lắm, vang vọng đến cả khách ngoại quốc! Vả lại cháu không muốn người đời quên hãng của các cụ An Khánh, trong khi các cụ chỉ còn một người con trai duy nhất mà người con trai đó đốn mạt làm mất danh nghiệp của gia đình. 

- Thế thì sáng mai cháu vào ủy ban, bác sẽ sang đó trình bày với các đồng chí lãnh đạo tỉnh xem ý kiến họ thế nào.

Bác Kim Giang xiết chặt tay Thịnh, Thịnh thầm cảm ơn những người bạn chiến đấu của cha. Lòng anh dạt dào tình cảm, anh vững tin vào cuộc đời.

Sáng hôm sau, như có lệnh từ trước, Thịnh được đưa thẳng vào phòng làm việc, ở đấy đã có vài người ngồi đón tiếp bác Kim Giang. Sau đó nghe giới thiệu Thịnh được biết có ông Chủ tịch ủy ban, Bí thư tỉnh ủy và một số cán bộ ban ngành, Bác Kim Giang nói: 

- Thưa các đồng chí, tôi chính là bạn chiến đấu của bố cháu Thịnh, đồng chí Nguyễn Văn Thủ, trung tá Trưởng ty công an tỉnh BT. Lúc ấy tôi đang hoạt động hợp pháp trong nội thành… Nay tôi chuẩn bị nghỉ, xin các đồng chí giải quyết cho một nguyện vọng. Tên thật của tôi là An Bằng, người thừa kế của nhà An Khánh. Nay thấy cháu Thịnh tâm đầu ý hợp với ý định phục hồi lại các sản phẩm của gia đình. Hôm nay tôi xin bàn giao lại cho cháu ngôi nhà số 62, phố Quang Trung và coi cháu Thịnh là người thừa kế sau khi tôi qua đời…

Thịnh sững sờ chết lặng, mãi sau mới thốt lên được một tiếng: Cha! Những tưởng anh phải đè nén từ đó suốt đời. Một tiếng nói bình thường giản dị vừa quen vừa lạ từ đáy tim mình. Nước mắt Thịnh giàn giụa, nhưng anh cũng kịp nhận ra trên gương mặt bác Kim Giang cũng có sự biến đổi kỳ lạ. Có lẽ đây là lần đầu tiên ông nhận từ “cha” một cách đầy bất ngờ. Thịnh ngả đầu vào vai bác, bác Kim Giang vòng tay ôm Thịnh vào lòng. Bên bác, Thịnh thấy mình vô cũng nhỏ bé, mọi khó khăn gian khổ của ngày hôm qua như tan biến hết. Chẳng biết có phải Thịnh ngầm so sánh mình với các thế hệ cha anh mà thấy mình chẳng thấm tháp gì so với những thử thách mà họ đã vượt qua, đơn giản như chính đời sống này cần phải thế…

 

Hà Nguyên Huyến


Tìm kiếm theo chuyên mục - nội dung - ngày tháng

Tin Nóng
Tin tiêu điểm

Lịch công tác trống

Website liên kết
Thống kê truy cập
Hôm nay: 181
Đã truy cập: 295562