LINH HỒN VẪN SỐNG

26/07/2017 09:00

 Cho đến bây giờ, tôi vẫn là một cô gái! Mặc dù ngày dòng sông nhận tôi đã chảy một độ đường già nửa thế kỷ! Khi không còn nhìn thấy ánh nắng mặt trời, thì toàn thân tôi đã tê cứng. Linh hồn tôi bay lên, bỏ lại khối cơ thể bầm giập để về với thế giới vĩnh hằng tuổi hai mươi. 

Thời điểm tôi hoá thân, quê hương còn tăm tối và cùng cực. Trên con đường đi về phía ánh sáng Con Người, có kẻ đã sát hại, cướp mạng sống của tôi. Hắn còn đó, thỉnh thoảng vẫn được mời dự các hội nghị nói chuyện truyền thống với tư cách cán bộ lão thành cách mạng. Bộ mặt hắn đầy vẻ khổ hạnh, xót xa. Nên không ai biết bụng dạ hắn. Vì người đời đến nay vẫn còn thói quen nhìn cái vỏ bọc hào nhoáng, ngoan đạo để đánh giá, cất nhắc và xu nịnh lẫn nhau: đồng chí ấy có một lý lịch trong sáng, có một bề dày thành tích... Tôi đã một lần thất bại khi chọn hắn!

- Đây là nơi xác chị Hà Giang trôi dạt vào. Dân xóm ngày ấy lập miếu thờ... Trỏ tay vào cây đước già bên sông, hắn nói với những người trong đoàn cán bộ đi cùng: Tôi có diễm phúc là người hoạt động cùng thời với liệt sĩ Hà Giang. Chị đã hy sinh vô cùng gan dạ. Bọn giặc đã giết hại chị một cách dã man... Hắn bỏ kính, lau mắt. Hắn khóc? Hắn dễ xúc động đến thế ư? Tin hắn, mọi người cũng ngậm ngùi theo hắn. Sao lại tin hắn? Mới cách đây bốn mươi năm, hắn dẫn dân quân ra chặt cây đước và phá ngôi miếu thờ: “Để nơi này chỉ tổ phát sinh tệ mê tín dị đoan, tụ tập phường đồng cô bóng cậu!”... Trong tâm địa, hắn lợi dụng cơ hội cải cách văn hoá, bài trừ mê tín, hòng triệt tận gốc, xoá đi một dấu tích liên quan đến quá khứ không hay ho gì của hắn. Nhưng năm sau cây đước vẫn nẩy cành sinh ngọn. Những búp lá non tơ như bàn tay tí xíu của trẻ con vẫy vẫy nắng ban mai. Túp miếu vẫn được dân xóm lợp bằng những mảnh thuyền gỗ cũ che chở cho một bát hương leo lét khói trầm... Hắn lại huyên thuyên: Làng chúng tôi sẽ tôn tạo lại ngôi miếu to đẹp, khang trang cho vong linh chị thanh thản và đề nghị Nhà nước cấp bằng di tích lịch sử văn hoá. Nơi đây sẽ là một điểm tham quan du lịch, có thể thu lợi cho ngân sách xã, góp phần làm giàu đẹp quê hương?... Thảo nào năm nọ, sau một trận ốm thập tử nhất sinh, hắn lại ra đây quét quét dọn dọn. Đoàn người vẫn đi theo và nghe hắn thao thao bất tuyệt: Tôi sẽ bỏ tiền mời hoạ sĩ trung ương dựng tượng chị! Đất nước mở cửa, ta phải mạnh dạn đầu tư… Nghe tới đây, tôi rùng mình bay trở lại khoảng tối câm lặng.

*** 

Thời kỳ ấy thực dân Pháp và bọn tề ngụy săn lùng Việt Minh hết sức gắt gao hòng triệt phá các cơ sở cách mạng. Tôi và hắn cùng trong một tổ hoạt động của tổ chức Việt Minh nằm vùng. Tôi tổ trưởng. Hắn là một đội viên tháo vát, thông thạo địa hình. Chúng tôi phải luôn di chuyển, thoắt ẩn thoắt hiện, từng chung bát, tựa lưng dưới những căn hầm bí mật ẩm ướt. Cơm áo do cơ sở liên lạc cung cấp hằng ngày. Họ thường giấu khi một rá, lúc một đùm gói trong lá chuối, đặt dưới gốc cây duối, cây găng... Đúng ám hiệu, chúng tôi chỉ việc ra lấy. Tôi rất biết ơn họ. Đã nhiều người hóa thành thiên cổ. Chúng tôi vẫn gặp nhau, những bộ khung cốt gày guộc, nhìn mà không nói được. 

Gia đình ông Vệ Chẩm xóm Ao Miếu là một cơ sở bí mật tuyệt đối tin cậy. Ông Vệ Chẩm từng bị bắt đi lính cho Pháp, sang tận An giê ri. Ông bị thương, thọt một chân. Loại ngũ, trả về nước, ông về quê sinh sống. Sau được một cơ sở của ta giác ngộ và giới thiệu. Qua nhiều phen thử thách, tôi thực sự yên lòng. Ban ngày, ông vẫn đàng hoàng tiếp bọn Tây Phòng Nhì và bọn Việt gian đến chơi tổ tôm, xóc đĩa. Ban đêm, ông nuôi giấu cán bộ Việt Minh trong căn hầm bí mật đào khá rộng, sâu và kiên cố trong lòng đất khu vườn đầy chuối và ổi xum xuê, có lối thoát hiểm bí mật ra bờ sông chỉ riêng ông và tôi biết. Tại căn hầm này, ông Chẩm đã trở thành Đảng viên. Dưới cờ, ông thề và khóc: “Tôi đã hồi sinh! Quãng đời còn lại xin phụng sự Tổ Quốc, Đảng và nhân dân!” Gương mặt ông hồng hào, khảm những giọt nước mắt lóng lánh, khiến tôi vô cùng xúc động. 

Một lần chập tối vừa trong một ngôi chùa bước ra, đang men dưới bờ tre để ra bờ sông thì phát hiện bọn địch đi tuần phía trước. Chúng tôi vội đứng ép vào nhau như chết tại chỗ dưới lùm tre. Mùa mưa, đêm trước vừa mưa xong, nước dềnh đầy ruộng. Đỉa ngo ngoe bơi dày đặc trong màu nước đục ngầu, thoăn thoắt bám vào bắp chân, bắp vế chúng tôi. Những chiếc vòi được dịp tha hồ hút máu. Khiếp quá! Tôi nhắm chặt mắt không dám rung chân, động đậy kẻo gây ra vòng sóng nước. Ông Chẩm khẽ nhè bọt vào bàn tay, đưa xuống, lặng lẽ nghiến răng xoa vặn những con đỉa to mọng như quả chuối bụt, nhét vào túi ngực và bóp chặt lại. Ông ra hiệu cho tôi cũng làm thế, nhưng nhét đỉa vào túi ông. Cứ như vậy ông bặm chặt môi, một tay vừa bắt đỉa, một tay vừa giữ túi. Đỉa vẫn ở đâu bơi tới nhiều đến nỗi không còn bọt để nhìa. Phải đến nửa giờ sau bọn địch mới đi khỏi ngõ chùa. Chúng tôi ngột thở, hít mấy hơi không khí rõ dài mới bước được lên. Nhìn ông Chẩm lộn túi vẩy đám đỉa xuống ruộng, lúc này tôi mới thực sự phát sợ những cái cục tròn ứ máu, nhung nhúc kia. Lưng áo tôi ướt đẫm mồ hôi... 

Ông Chẩm còn từng một mình bảo vệ tôi, gỡ thoát cho tôi trong một đêm trên đường tôi vừa từ bãi sú lên gặp ngay ổ phục kích của tên Bang Hận. Từ một phía khác, bịt khăn đen kín mặt, ông đã sử dụng một lúc hai tay hai khẩu súng ngắn bắn tới tấp vào địch. Mấy tên gục tại trận. Thằng Bang Hận và đồng bọn hốt hoảng lăn xuống vạ đê, xả đạn loạn xạ lên trời. Lợi dụng sơ hở, tôi tụt vội xuống sông, lặn một mạch sang bờ bên kia... Trong chiến đấu, tôi thấy ông xuất quỉ nhập thần, đôi chân chạy như gió, không hề thọt tý nào. Về cơ sở, đã thấy ông bảnh choẹ trong bộ quần chúp bâu, áo “ba đờ xuy” ngồi tựa lưng trên bộ tràng kỷ với ấm trà Vân Hải vừa pha xong. Ông đứng dậy, đôi chân khập khiễng, miệng cười cười mời tôi. Chén trà nóng rẫy môi...

Để đón một cán bộ cấp trên từ Áng Dài, Cát Bà về kiểm tra và giao nhiệm vụ mới cho tổ chúng tôi triển khai công tác trừ diệt bọn hội tề ác bá, tôi quyết định tổ chức cuộc họp quan trọng này tại căn hầm của ông Vệ Chẩm. Ông khuyên tôi không triệu tập hắn, chỉ cần tôi, ông và hai đồng chí ở làng Lưu Thượng. Tôi bảo: “Phiên họp này cần đầy đủ các cốt cán!” Giọng ông vẻ đượm buồn: “Xin đồng chí hiểu ý tôi! Tôi thấy dạo này thái độ của đồng chí ấy khang khác, có nhiều điểm phải xem xét!” Tôi vỗ vai ông: “Đồng chí yên tâm. Trước hết phải đoàn kết nội bộ!” 

Nhưng không ngờ, cái đêm ấy lại là đêm định mệnh. Ngay sau lưng tôi, hắn đã phản bội. Hắn phi báo từ lúc nào mà bọn địch ém phục rất bí mật, không một tiếng chó sủa. Cuộc họp tan, ông Chẩm thận trọng mở nắp hầm. Chúng tôi lần lượt chui lên. Hai người lên trước. Tôi và hắn lên sau. Bất ngờ hắn ho rũ rượi như người sặc thuốc lào. Một tràng súng nổ. Nhanh như cắt, ông Chẩm ném luôn hai quả lựu đạn và tụt xuống đưa đồng chí cán bộ cấp trên thoát theo lối bí mật ra bờ sông. Căn hầm bị bao vây. Tôi và hắn trở tay không kịp, đã bị địch bắt! Lúc đó tôi lại chợt nghĩ: “Chả lẽ Vệ Chẩm giở mặt? Vệ Chẩm phản bội?...” 

Tôi bị nhốt tại lao Phòng Nhì Quảng Yên. Những ngày căng thẳng và nặng nề. Bọn địch thay nhau dụ dỗ, tra tấn. Vô ích. Chúng điên cuồng đánh đập tôi rất man rợ, bất chấp chỗ nào trên cơ thể yếu mềm của người phụ nữ. Trong một đêm, bất ngờ hắn xuất hiện trước mặt tôi khi tôi vừa tỉnh dậy sau trận đòn và những chậu nước lạnh hắt vào mặt. Người tôi tê dại và buốt nhói. Nhưng tôi vẫn đủ trí nhớ nhận biết hắn: “Con chó đã phản bội! Hóa ra lúc mày chống cự, chạy đến cuối vườn và cũng bị bắt... chỉ là một màn kịch... Đồ đê tiện!” Hắn ghé vào tai tôi nói nhỏ: “Khai đi. Không ai biết đâu! Tôi giữ kín cho! Cô trẻ đẹp, cuộc đời còn dài lắm!...” Tôi trừng mắt, nhổ vào mặt hắn. Hắn lùi lại lấy vạt áo lau bãi nước bọt lẫn những máu: “Không biết điều thì chớ trách! Cô lại tin thằng Vệ Chẩm hơn tôi? Nói cho mà biết, thực tình tôi rất thích cô. Nếu thuận, tôi và cô sẽ trốn đi nơi khác…” 

Đêm cuối cùng... Chúng trói tôi vào một tấm ván dựng đứng cạnh song sắt cửa sổ. Tên quan hai ngật ngưỡng đến gần. Nó trùm bộ mặt phì nộn, lởm chởm vành râu quai nón sặc mùi rượu mạnh vào mặt tôi. Nó cười gằn, liếc đi liếc lại trên tay một lưỡi dao sáng lạnh. Tôi nhìn nó trừng trừng, không hề run sợ. Bỗng nó xé phắt ngực áo tôi: “Ha ha... Bầu vú trinh nguyên! Bỏ phí tuổi xuân sao cô em?”... Nó vục cái mồm râu xuống, nghiến ngấu. Tôi cắn luôn vào chỏm đầu nó, đay giất như giất túm lông một con chó. Con chó rít lên. Thoắt cái, nó ấn lưỡi dao sắc lẹm vào ngực tôi. Tôi rú lên đau đớn. Bầu vú quí nhất của người con gái đã bị nó khoét mất! -Đảng Cộng sản muôn năm! Đảng Cộng sản muôn năm! Muôn... năm… Giây phút cuối cùng tôi vẫn cố thét thật to. Tiếng thét vang dội khu nhà giam. Chúng để nguyên cả tấm ván đầm đìa máu, cho tôi vào một chiếc hòm gỗ, đóng đinh lại. Gà gáy, chúng bí mật khiêng chiếc hòm ra bến sông rồi buông xuống. Dòng sông lập tức nhận tôi trong sức chảy cuồn cuộn rung chuyển cả đôi bờ. Thuỷ triều đang rặc mạnh. Xoáy ngầm va sầm sập qua những cồn đá. Dòng sông đưa chiếc hòm nhằm ra hướng cửa biển, dạt vào một vạt rừng sú vẹt, vướng vào một gốc cây. 

Sáng sớm, có hai cha con người câu cá đậu thuyền ở một cồn đá đang thả câu. Cậu bé bỗng giật tay cha: -Cha ơi! Có vật gì giống cái hòm gỗ từ trên kia trôi xuống! Nheo nheo mắt nhìn một lát, người cha vội quấn sợi dây câu vào tảng đá: -Đúng rồi! Một chiếc hòm! Nước rặc đã đáp vào rìa rừng!... Hai cha con gấp gáp chèo thuyền tới, gỡ chiếc hòm ra khỏi cành cây đước và vớt lên. Khi lưỡi mỏ neo vừa cạy được nắp hòm, họ ngã bổ chửng dưới lòng thuyền, khiến con thuyền chao mạnh suýt đắm. Cậu bé thất kinh hét lên: -Ối! Cha ơi! Xác chết! Một... một người con gái!... Người cha loạng choạng, song ông cố trấn tĩnh: -Bọn người nào mà ác độc thế này hả giời? Nó khoét mất đôi nhũ của người ta! Tội nghiệp cô gái! Chết cũng không toàn thây! Hẵng khiêng lên bờ đã con! Rồi chạy vào gọi dân làng!

Các đồng chí và dân làng nhận ra tôi. Họ khóc nấc, đầy căm uất. Hắn cũng ở đâu chân thấp chân cao chạy đến ôm mặt rống lên: -Ối trời ơi! Chị Hà Giang ơi... Bị địch bắt, chị vẫn một lòng kiên trinh, sắt đá. Thà chết, chứ không chịu khuất phục!... 

Mọi người bó liệm, chôn cất tôi dưới cánh đồng bên sông. Người thuyền câu làm một túp miếu nhỏ ghép bằng những mảnh ván và mui thuyền, cạnh gốc cây đước. Hàng ngày những nén hương thắp lên. Lòng dân xóm đê ấm lại. Linh hồn tôi có nơi đậu, từ bấy đến giờ... Ông Chẩm sau đó, sống dở chết dở vì hắn và một số cán bộ nhẹ dạ tin lời hắn đồn: “Vệ Chẩm vợ con rồi vẫn tình ý với Hà Giang. Không xơ múi gì nên mới chỉ điểm cho giặc bắt!” Còn hắn, vẫn giấu mặt, cay cú ông: “Phải bịt ngay đầu mối này!” Thế rồi... ông bị mất tích!

Hắn là con một bần nông không tấc đất cắm dùi. Cha mẹ hắn quanh năm lầm lụi đánh lưới ngoài sông. Hắn đi ở chăn trâu cho một nhà giàu dưới làng Vị Hương. Năm đói Ất Dậu, người các làng chết như rạ. Nhà hắn chẳng còn ai. Hắn như “cây lúa rài” sót lại cuối đồng. Ngày cả tổng kéo sang tỉnh lỵ cướp chính quyền trong tay thực dân Pháp, hắn cũng theo đoàn người vác gậy gộc, dao mác vượt sông. Như chiếc lá cuốn vào cơn lốc, hắn gia nhập Thanh niên cứu quốc, ngày ngày chạy liên lạc, tối tối xách gậy tuần phòng khắp xóm thôn. Ngày tôi về đây, được cơ sở giới thiệu, qua mấy lần thử thách, tôi đã tin hắn. Nhờ đi theo cách mạng, hắn có được ít chữ nghĩa và nhiều người nhờ vả. Vốn lợi khẩu, hắn trở nên khôn ngoan, biết cách ăn nói, diễn thuyết chỗ đông người. Hắn được cử làm đội trưởng đội cải cách ruộng đất. Hắn lôi kéo, thúc ép bà con bần cố nông đấu tố các gia đình địa chủ, thân hào chí sĩ và tìm cách hại cả những người từng có công nuôi hắn. Hắn sai người trói bà Vệ Chẩm điệu ra đình: “Chồng mụ từng đi lính, làm tay sai cho giặc! Đang thời kháng chiến lại tự dưng mất tích. Chắc chắn là theo giặc, di cư vào Nam âm mưu phá hoại cách mạng. Vệ Chẩm ở đâu, mụ phải biết!...” Bà Vệ Chẩm chỉ khóc, gập lưng xuống lạy, không thành lời.

***

Sau năm máy bay B52 Mỹ rải thảm bom xuống Hà Nội, Hải Phòng... Theo lệnh của huyện mở rộng phong trào nuôi trồng thủy sản, các xã đưa người sang Đầm Nhà Mạch đắp đầm thu bắt cá tôm. Trong khi lấy đất, đội 202 làng Hoà Phong bập phải một vật cứng khiến lưỡi mai khựng lại. Đào hố đất rộng ra, thấy trơ một bộ hài cốt. Nhưng rất lạ: bộ hài cốt chôn đứng, chằng buộc vào một cây cột gỗ đóng thẳng trong lòng đất trông chẳng khác gì một bó củi đâng trơ lũa. Bên trên là một hộp sọ như một cái gáo dừa bạc phếch. Đám phụ nữ yếu bóng vía bỏ chạy tán loạn. Lúc hoàn hồn, người ta đem bộ hài cốt lên gò cao và cho người mua tiểu sành mang sang, chôn cất cẩn thận. 

Tin bộ hài cốt chôn đứng bay về làng. Hắn, lúc này là chủ nhiệm HTX Hòa Phong, đang uống rượu trong tiệc mừng ngôi nhà mới vừa xây xong, bỗng trợn mắt, ngất xỉu tại chỗ. Mọi người hốt hoảng đưa đi cấp cứu. Cả làng cũng không hiểu vì sao lại như vậy! Hắn bất tỉnh, chết giấc hàng giờ. Hồi lại. Xong lại ngất. Đôi mắt hắn đờ đẫn như ai vừa lấy mất thần sắc. Cả nhà cuống cuồng lo sợ. Làng nước tha hồ đồn thổi. Những gì dư luận ấm ức bấy lâu, nay được dịp bung ra: Tại làm nhà, đào chân móng chạm long mạch chăng? Hay do tháng trước chặt cây, phá ngôi miếu ngoài bờ sông? Cũng chẳng oan! Có đục khoét, mới nhà cao cửa rộng, vợ đẹp con khôn, của nả bề bề như thế. Ai bảo Trời không có mắt?... Nhưng chẳng ai biết được căn nguyên những gì hắn chôn giấu từ những đêm đen ngày xa ấy? Chỉ có hắn biết! Chỉ có tôi biết! Và cái người cùng hành quyết ông Vệ Chẩm biết. Nhưng tay này đã chết đuối trong đêm canh đê vì say rượu lao đầu xuống cống. Bữa rượu do chính hắn đãi... 

Hãy xem hắn tỉnh lại. Hắn lờ mờ nhận ra mình vừa chết bên mâm rượu. Đầu óc như tờ giấy thấm ướt nhoè... 

Biết Vệ Chẩm là người tinh thông, là tay súng lợi hại, hắn không khỏi lo lắng. Linh tính mách bảo: Vệ Chẩm đã nhận biết ra ta là kẻ chỉ điểm căn hầm bí mật! Phải diệt ngay con người này! Ngay trong một đêm trực giỗ ở một nhà nọ, lúc ra khỏi ngõ đến một bụi chuối rậm, Chẩm bất ngờ bị quật ngã, trói gô, nhét giẻ vào miệng và bị dẫn đi. Một chiếc thuyền nan đã chờ sẵn dưới bến Cống Trộm. Thuyền vượt sông. Như một mũi tên hun hút. Cập bãi. Chẩm biết mình bị đưa sang Đầm Nhà Mạch. Chúng lôi Chẩm lên một gò đất cao. Một bóng đen hỏi: -Thế nào? -Trên bảo y án! Tháo mắt tháo mồm cho nó nhìn! Người đứng bên nói, giọng rít như hai thanh sắt mài vào nhau. Chẩm nhận ra hắn. Hắn đã lừa Chẩm, bắt gọn. 

-Tôi không có tội. Sao các anh lại bắt tôi ra đây? Cách mạng xử! Không! Hắn đổi giọng: Tao xử! Không cách mạng nào hết! Bây giờ tao tuyên bố rõ: Mày là vật cản của tao! Vì mày mà tao không chiếm được Hà Giang. Tao biết mày đã biết tao chỉ điểm! Không ăn được, tao phải đạp đổ. Tao phải ra tay trước, nếu không sẽ chết vì mày! Đồ chó đểu! Đồ rắn độc! Tiếng Chẩm hét lớn, vỡ vào đêm. Bầy vạc đâu đó trong đầm nước giật mình vột lên quang quác. 

Đôi mắt ông phát tia lửa vào mặt hắn: Đồ phản bội! Quả là tao không sai khi đã nghi ngờ... Tiếc rằng Hà Giang cả tin mày và không nghe tao... Cho mày chửi! Mày muốn chết kiểu gì? Chọn! Xuống đấy mà gặp Hà Giang! Bắn! Bắn tao đi! Không! Bằng giá mày xui tao “tôi ở bụi này”! Cho mày hưởng “lộc nước” từ từ...

Trói Chẩm vào gốc cây, chúng đào một cái hố. Một cây cọc gỗ được đóng sâu xuống. Chúng kéo Chẩm tới, cột chặt đứng vào cây cọc... 

-Đảng Cộng sản muôn năm! Hồ Chủ Tịch muôn năm! Cách mạng muôn năm! Bất ngờ Chẩm hô to, tưởng vỡ ngực, làm cả hai thằng giật nẩy. Bỗng những chuỗi âm thanh rào rào... ào ào... như tiếng gào thét của loài thuỷ quái từ đâu đó ngoài cửa biển vọng tới chuyển động rùng rùng cả một vùng rừng bãi. 

-Nước lên! Rút mau! Ra lệnh cho thằng kia hắn còn ngoảnh lại mỉa mai: Vĩnh biệt đồng chí! Chiếc thuyền biến vào trong đêm. Tiếng hô của Chẩm vẫn rền rền như những viên đạn đuổi theo: Trời Phật sẽ trừng phạt chúng bay... bay...

***

Già nửa thế kỷ. Một chớp tay. Tôi vẫn trẻ như cái ngày không nhìn thấy mặt trời. Ông Vệ Chẩm vẫn đứng dưới ngợp ngàn làn nước sông quê và những ngọn gió hú rít từ những cánh rừng. Còn hắn. Dưới ánh mặt trời, hắn được nhiều thứ quá. Ngực hắn lấp lánh những tấm huân, huy chương. Nhưng có cái mất mà hắn không biết, hay cố tình không biết? Con cái hắn là những tên đầu cơ, những thằng đội lốt những cán bộ xã, phường do hắn tìm cách luồn lọt và chạy chức quyền... Thằng lớn, nhờ tiền cha rải, giành được chức phó chủ tịch kiêm trưởng công an. Thằng hai, con sâu mới đang bò vào lừa đảo và bòn rút các dự án. Cuộc đấu thầu công trình xây dựng, đấu thầu đầm thuỷ sản nào trong vùng cũng có bàn tay nó. Vợ chồng đứa con gái thứ ba có một nhà hàng karaoke ở Móng Cái, thực chất là một tụ điểm hành nghề mại dâm và bí mật buôn bán phụ nữ qua biên giới. Thằng thứ tư chuyên buôn bán nhà đất. Sang tên người nọ, mượn họ người kia, lúc bên chồng lúc bên vợ. Ngoài những biệt thự ở Vân Đồn đang nghén thành bạc tỷ, nó đã có bốn, năm lô đất đầu Cầu Mới. Thằng út chở động vật hoang dã trên ô tô, bị công an phát hiện, truy đuổi. Trong lúc chạy trốn, hoảng loạn, xe nó gây tai nạn giao thông, thiệt mạng người vô tội. Anh chị em chúng đang tuồn của tìm mọi cách chạy án cho nó. Người làng ít ai biết vụ việc này, vì hắn giấu rất kỹ như từng giấu quá khứ dưới những trang lý lịch màu hồng. Hắn tưởng phù vân ma thuật và thời gian sẽ vùi lấp đi quá vãng, dòng sông sẽ nhấn chìm, cuốn trôi đi tất cả tội lỗi cho hắn... Sau vụ phát hiện bộ xương chôn đứng, hắn ốm lơ lửng một thời gian dài. Vợ con chạy chữa cho hắn đủ thứ thuốc men, đủ đường cúng bái. Thằng cả bảo đàn em: “Bằng mọi giá phải cứu bố, để làm chỗ dựa. Vì ảnh hưởng của ông vẫn còn có lợi cho đường làm ăn của chúng ta...” 

Còn ông Vệ Chẩm? Ông cũng như tôi, bị mất nhiều thứ quá! Và đến hôm nay, ông từng nói với tôi, bằng thứ ngôn ngữ dẫn qua âm thanh của ngọn gió, của sóng bãi triều: “Chỉ vì chủ quan mà tôi mất một ván cờ!” Nhìn ông, tôi rất buồn, đau đớn và tủi hổ, vì hơn năm mươi năm trước, tôi từng nâng đỡ kết nạp hắn vào tổ chức! Tôi ân hận, có những ý kiến của ông nhận xét về hắn, tôi đã không để ý. 

Tôi đành an ủi ông bằng sự truyền cảm qua những đốm lửa nhỏ: “Anh đau chín, tôi đau mười. Nhưng vẫn còn đó Đức tin. Cái quả của hắn rút từ ruột dân mà có. Đấy là cái thiểu đức, toàn những hạt đắng và thối! Còn cái quả của anh tuy bị hắn đập vỡ, nhưng lại còn cái hạt phát tán đi, lại đâm chồi nẩy lộc thành những thứ vô giá.”

Một buổi sáng cuối thu. Bầu trời đầy mây đang mỏng dần sau ánh nắng. Dòng sông tráng một lớp bạc lấp lánh, đột nhiên vắng lặng. Bỗng xuất hiện một người đàn ông béo tốt, da ngăm đen, chèo một chiếc thuyền gỗ. Chiếc thuyền cứ vật vờ trên mặt sông, quanh quẩn chỗ nước xoáy trước cửa ngôi miếu. Ông ta hết nhìn sông nước, bầu trời, lại ngửa mặt cười sằng sặc như điên như dại, nói những gì lảm nhảm. Chiếc thuyền đang lòng vòng bỗng bị dòng nước xoáy lật úp.

-Ối làng nước ơi. Có người chết đuối... chết đuối... 

Mấy thuyền lưới trên thượng lưu lao tới. Cái xác chết dưới đáy sông được vớt lên, nhợt nhạt. Ôi! Ông chủ nhiệm làng Hòa Phong!

Vòm mây rạn từng mảng lớn, tụ về cuối chân trời. Dòng sông rỡ ràng, lấp loá nắng trưa. Chiếc bát hương trong ngôi miếu đùng đùng bốc cháy!


Tìm kiếm theo chuyên mục - nội dung - ngày tháng

Tin Nóng
Tin tiêu điểm

Lịch công tác trống

Website liên kết
Thống kê truy cập
Hôm nay: 177
Đã truy cập: 295558