Di tích Lịch Sử Trận đánh Đồn Cao đêm 13/11/1945 của Đại đội Ký Con

13/07/2018 10:14

Đại đội Ký Con: Đại đội nổi tiếng của Liên khu 3 mang bí danh của Đoàn Trần Nghiệp (1910-1930), người tham gia lãnh đạo khởi nghĩa Yên Bái từ 9 đến 18-2-1930, một trong những đơn vị vũ trang tập trung đầu tiên của chiến khu Trần Hưng Đạo. Tổ chức tiền thân Tiểu đội Ký Con thành lập 1-7-1945 sau chiến thắng Bí Chợ, bắt sống cả đại đội địch, thu hơn 100 súng, rồi Trung đội Ký Con đơn vị chủ lực trong trận đánh chiếm tỉnh lỵ Quảng Yên 20-7-1945 và tham gia giành chính quyền ở Hải Phòng 23-81945. Cuối tháng 8-1945 phát triển thành Đại đội Ký Con với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền cách mạng ở Hải Phòng và Khu mỏ Hòn Gai   (1945 – 1946). Trong thời gian này, Đại đội Ký Con đã lập nhiều chiến công xuất sắc, tiêu biểu là đánh chiếm hai tàu Pháp Cơ ray xắc (7 – 9 – 1945). Ô đa xi ơ (11- 9- 1945), đánh dẹp quân Việt cách (9- 1945) tại Hòn Gai, cùng các đơn vị đánh lui hàng chục đợt tiến công của quân Pháp tại Hải Phòng (11- 1946). Tháng 8 – 1948 Đại đội Ký Con phát triển thành Tiểu đoàn Ký Con (Tiểu đoàn Cô Tô), tháng 2 – 1950 trở thành Trung đoàn Ký Con ( Trung đoàn 66, Trung đoàn chủ lực của Liên khu 3), Đại đội trưởng (trước đó là Trung đội trưởng, Tiểu đội trưởng) đầu tiên là đồng chí Lê Phú.

Giữa tháng 11 năm 1945 Đại đội Ký Con được sự chỉ đạo của Bộ Tư lệnh miền Duyên Hải, giao nhiệm vụ cho Đại đội Ký Con tổ chức lực lượng tiến đánh quân Pháp để giải phóng Cô Tô. Trận đánh quân Pháp để giải phóng Cô Tô của Đại đội Ký Con đã đốt cháy một kho quân trang, quân dụng, nhưng quân Pháp ở đấy mới được tăng cường đã phản công quyết liệt, do đó ta chưa thành lập được chính quyền Cách mạng ở đây, vùng đất Cô Tô vẫn nằm dưới ách áp bức bóc lột của thực dân Pháp. Trận đánh Cô Tô thể hiện ý chí tiến công địch, bảo vệ độc lập, chủ quyền của quân và dân khu mỏ. Trận đánh không giành được thắng lợi về quân sự nhưng ý nghĩa và bài học kinh nghiệm của nó đã có tác dụng sâu sắc trong cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp sau này. Trận đánh Cô Tô được ghi vào lịch sử của Đại đội Ký Con như một trận đánh biểu thị ý thức chấp hành kỷ luật nghiêm chỉnh của những người chỉ huy Đại đội.

Xuất phát từ lịch sử hình thành Đại đội Ký Con, từ trận đánh quân Pháp để giải phóng Cô Tô, với nội dung và ý nghĩa của sự kiện lịch sử nói trên chúng tôi đặt tên gọi: Di tích Lịch sử Trận đánh Đồn Cao đêm 13/11/1945 của Đại đội Ký Con.

Khoảng đầu tháng 10 năm 1945 Đại đội Ký Con rời Hải Phòng ra đảo Cát Bà, đây là hồn đảo lớn án ngữ đướng biển vào Hải Phòng, thị trấn Cát Bà chủ yếu là người Hoa sinh sống làm ăn, buôn bán. Các làng như Áng Sỏi, Trân Châu của người Việt, sau khi Hải Phòng giành được chính quyền Cách mạng đồng chí Nguyễn Văn Lợi phụ trách Hải Quan, được cử ra làm Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cách mạng Cát Bà và đồng chí Trần Văn Lộc là phó chủ tịch là người am hiểu về tình hình và có uy tín với nhân dân thị trấn Cát Bà đã giúp đỡ Đại đội Ký Con rất nhiều mặt và phấn khởi trước sự có mặt của một đơn vị vũ trang tập trung đầu tiên trên đảo Cát Bà. Ban chỉ huy Đại đội Ký Con cũng với cán bộ, chiến sỹ nhanh chóng và tự nhiên hình thành một tập thể lãnh đạo thống nhất để cùng nhau giải quyết các vấn đề về quân, dân, chính có liên quan đến đảo. Nhiệm vụ của Đại đội Ký Con lúc đó là trấn giữ một vùng biển trên đường vào Hải Phòng. Từ những ngày đầu ra đảo Đại đội đã bắt tay vào việc xây dựng đơn vị, hàng ngày các Trung đội học tập quân sự, chính trị, tuần tra, canh gác công việc diễn ra bình thường.

Trận đánh Cô Tô lần thứ nhất: Khoảng đầu tháng 11 năm 1945, một ngư dân trên con thuyền buồm nhỏ từ đảo Cô Tô về đảo Cát Bà (Hải Phòng) báo cho chính quyền và cách mạng của ta: Trên đảo Cô Tô có lính Pháp về đóng, đề nghị chính quyền cách mạng hãy cho quân đến đánh đuổi chúng đi. Từ Cát Bà đến đảo Cô Tô, nếu thuận buồm xuôi gió thì thuyền buồm phải đi mất một đêm, nếu không thuận lợi thì phải hai ngày và hai đêm, trước tin báo của người dân, Ban chỉ huy Đại đội Ký Con hộp bàn và thống nhất phải đưa quân đi đánh Pháp ở Cô Tô. Đại đội đã cử đồng chí Đinh Như Tâm, Trung đội trưởng Trung đội 3, theo thuyền người dân về báo tin, ra ngay đảo Cô Tô trinh sát, nắm tình hình của địch. Ba ngay sau được giúp đỡ của ngư dân đồng chí Đinh Như Tâm về báo cáo: địch chỉ có một Tiểu đội Pháp lên đảo chiếm đóng trên một đền nhỏ gần bờ biển, ngôi đền mà người Hoa thờ Mã Viện, hàng ngày cứ vào buổi sáng, hầu hết tiểu đội chúng ra tắm biển. Phương án đánh địch được bàn thống nhất trong Ban chỉ huy Đại đội: một là đánh địch bất ngờ vào ban đêm khi chúng đang ngủ, hai là đánh vào buối sáng khí chúng đang tắm biển. Ban chỉ huy Đại đội quyết định đánh quân Pháp trên đảo Cô Tô với lực lượng của ta 15 người , nhiều hơn địch vài người, cử đồng chí Lê Phú, Đại đội trưởng chỉ huy, trang bị đầy đủ vũ khí, khi đổ bộ lên đảo cách xa nơi địch, đi một vòng phía sau ngôi đền, chiếm ngay nơi đóng quân của địch. Phương án đánh địch một hoặc hai tùy theo thời gian thuyền của quân ta đến được đảo. Việc chuẩn bị thuyền được thực hiện ngay từ buổi chiều hôm trước ( Ngay sau khi đồng chí Đồng Như Tâm đi trinh sát nắm tình hình địch trở về). Chủ thuyền cùng hai thuyền viên sẵn sàng giúp đỡ đội quân đi đánh địch trên đảo Cô Tô.

Buổi sáng khi mặt trời vừa nhô lên khỏi mặt biển Ban chỉ huy Đại đội báo cáo về Bộ tư lệch miền Duyên hải rồi cho quân lên thuyền đi đánh, thuyền đang thuận buồm xuôi gió, chạy được khoảng 2 giờ, người chủ thuyền cho biết nếu thuận buồm xuôi gió thế này thì đêm nay ta sẽ đến đảo Cô Tô, thuyền đang chạy thì có một chiếc ca nô Tuấn Mã của Bộ tư lệnh miền Duyên hải, đang lướt sóng đuổi sát con thuyền, mọi người cùng nhìn lại phía sau, chỉ vài phút nó đến sát mạn con thuyền, đồng chí Hoàng Văn Tài người đi trên thuyền thông báo cho Đại đội trưởng Lê Phú chỉ thị của Bộ tư lệch miền Duyên hải: Phải chờ lệch đánh đảo Cô Tô cùng một đêm với Vạn Hoa. Chấp hành mệnh lệnh của cấp trên, Lê Phú cho thuyền quay về đảo Cát Bà để chờ lệnh của Bộ tư lệnh miền Duyên hải.

Trận đánh Cô Tô lần thứ hai: Sau khi nhận được chỉ thị phải chờ đánh quân Pháp đóng ở đảo Cô Tô cùng một đêm với đồn Vạn Hoa ( thuộc đảo Cái Bầu), đồng chí Lê Phú khi về tới đảo Cát Bà bàn với chính trị viên đại đội Lê Sỹ Chu về việc cử ngay cán bộ đi điều tra lại tình hình quân Pháp đóng ở đảo Cô Tô và Vạn Hoa. Trung đội trưởng Đinh Như Tâm và đồng chí Lê Nguyên Lộc được cử đi điều tra nắm tình hình quân Pháp đóng ở đảo Cô Tô, trung đội trưởng Nhâm Ngọc Bình và chính trị viên trung đội Ngô Huy ( Ngô Huy Bỉnh, tức nhà báo Như Mai ở Quảng Ninh hiện nay) được cử đi điều tra quân Pháp đóng ở đồn Vạn Hoa.

Đến khoảng 10h sáng ngày 10/11/1945, Bộ tư lệnh miền Duyên hải chỉ thị cho Đại đội trưởng Lê Phú: Mang một Trung đội đánh phá đảo Cô Tô ngay đêm nay. Nhận được lệnh gấp rút này, Lê Phú nhận thấy gặp nhiều khó khăn, tình hình biến động của địch trên đảo Cô Tô chưa nắm được, hai đồng chí Trung đội trưởng đi điều tra tình hình của địch ở đảo Cô Tô và Vạn Hoa chưa về, tàu thuyền của đơn vị không có một chiếc nào. Đánh địch trên đảo Cô Tô ngay đêm nay thật quá gấp rút, tìm cách nào đảm bảo được thời gian đổ bộ lên đảo, một cuộc đổ bộ lên đảo xa đất liền, khí giới nặng, phương tiện không có quả thật là khó! Sau vài giờ cân nhắc Đại đội trưởng Lê Phú báo cáo về Bộ tư lệnh Duyên hải với nội dung: Không thể đánh địch trên đảo Cô Tô ngay trong đêm nay được. Gần 5h chiều cùng ngày Bộ Tư lệnh miền Duyên hải lại chỉ chỉ tiếp: Phải tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh.

Mệnh lệnh được thi hành ngay, những khí giới tốt gồm: Súng Mousqueton, súng trung liên băng gộp (FM24-29), tiểu liên Mỹ (Thomson) băng tròn 50 viên, lựu đạn DF, lựu đạn VB, đạn dược, lương khô được trang bị đầy đủ cho Trung đội để chuẩn bị cho trận đổ bộ lên đảo Cô Tô đánh quân Pháp. Tinh thần cán bộ, chiến sỹ của hai Trung đội còn lại, ai đấy náo nức muốn được cũng Trung đội bạn tham gia trận đổ bộ này, thống nhất trong Ban chỉ huy Đại đội xong, đồng chí Lê Phú ra bến tìm con thuyền đủ sức chứa một Trung đội. Việc thương lượng sử dụng con thuyền buồm dùng chở đá, đủ cho một Trung đội được chủ thuyền nhận lời. Trời vừa tối Trung đội 1 của Đại đội Ký Con tập hợp trước cột cờ dưới sân, giữa hai tòa nhà hai tầng trong doanh trại, tiểu đội 1, tiểu đội 2 đến tiểu đội 3 hàng một nối gót nhau lặng lẽ rời doanh trại. Từ cổng trại qua cầu xi măng nhỏ, đi phía tay trái qua nhà Hải Quan đến cầu tầu, từ cổng trại đến bến thuyền sát cầu tầu chỉ vài trăm mét. Con thuyền đã đậu ở bến từ chiều các chiến sỹ của trung đội đứng nghỉ trong hàng ngũ trước mũi thuyền chờ lệnh, trên thuyền chỉ còn người phụ, người chủ thuyền và những người lái con thuyền lên bờ từ chiều để mua sắm các thứ cần thiết cho chuyến đi, đợi mãi không thấy người chủ thuyền trở lại có thể người chủ thuyền đã sợ nguy hiểm nên kiếm cớ từ chiều đi mua sắm vài thứ rồi trốn tránh luôn, tiếp đó có một cơn giông bất ngờ ập đến, thời gian còn lại không đủ để vượt tới đảo Trung đội buộc phải quay trở lại doanh trại. Trở về doanh trại Trung đội phân công người đi tìm chủ thuyền cho đến sáng hôm sau vẫn không tìm thấy. Thật may mắn một chủ thuyền khác đã tình nguyện đưa Trung đội đến Cô Tô, Trung đội lên thuyền đi ngay dưới sự chỉ huy trực tiếp của đông chí Lê Phú. Qua gần một ngày và đêm, sáng ngày 12/11/1945 thuyền tới đảo Quan Lạn thuộc Quần đảo Vân Hải, Trung đội lên bờ nghỉ chân, được cán bộ và nhân dân đón tiếp chu đáo, cơm nước xong Trung đội hành quân bộ từ Quan Lạn sang đảo Minh Châu khoảng 10 km đường rừng, thuyền chở Trung đội chạy men theo lạch nhỏ về Minh Châu để đón Trung đội, cả Trung đội và thuyền tập kết đến đảo Minh Châu vào buổi chiều cùng ngày, tại Minh Châu Trung đội cũng được đón tiếp như ở Quan Lạn, sau bữa cơm chiều Trung đội được anh em dân quân  tự vệ bố trí trú quân tại các nhà dân trên đảo, việc canh phòng ban đêm do anh em dân quân tự vệ đảm nhiệm.

Ngay sau khi Trung đội 1 do đồng chí Lê Phú chỉ huy đi đánh Cô Tô, các đồng chí Nhâm Ngọc Bình và Ngô Huy Bỉnh, cùng 2 chiến sỹ được phái đi nắm tình hình địch trên đảo Cô Tô và Vạn Hoa cũng về tới đảo Cát Bà vào chiều ngày 11/11/1945. Các đồng chí đi trinh sát về báo cáo tình hình địch ở đảo Cô Tô mới được tăng thêm gần một Trung đội đóng trên Đồn Cao và một Tiểu đội đóng tại ngôi nhà lá dứa quân trang quân dụng gần bến thuyền ra vào đảo, sát ngay dưới con đường đất dẫn lên Đồn Cao. Đồng chí Lê Sỹ Chu chính trị viên Đại đội và đồng chí Bùi Sinh – Đại đội phó ( đồng chí Lê Phú Đại đội trưởng đi đánh Cô Tô, đồng chí Bùi Sinh đại đội phó được cử thay đồng chí Lê Phú phụ trách) quyết định định tăng cường thêm một Tiểu đội và giao cho đồng chí Đinh Như Tâm và Nhâm Ngọc Bình dẫn đi ngay bằng con thuyền mà các anh từ đảo Cô Tô về. Tiểu đội đến được đảo Minh Châu thì gặp Trung đội do đồng chí Lê Phú chỉ huy, đồng chí Đinh Như Tâm và Nhâm Ngọc Bình báo cáo tình hình địch tăng cường trên đảo Cô Tô cho Đại đội trưởng Lê Phú biết và việc Đại đội ở Cát Bà tăng cường thêm cho Trung đội của đồng chí Lê Phú một Tiểu đội, các đông chí bàn bạc kế hoạch rồi tiếp tục hành quân tiến đánh Cô Tô. Việc đánh địch ở Cô Tô như vậy là phải đồng thời đánh địch ở ba điểm, cùng một lúc. Qua bàn đi tính lại các đồng chí chỉ huy trận này thống nhất phương án đánh địch, căn cứ vào quân số của Trung đội chia thành bốn mũi tiến công:

  1. Mũi tiến công phía trước Đồn Cao do đồng chí Lê Phú chỉ huy với số quân 15 người, đồng chí Khuê tiểu đội trưởng.
  2. Mũi tiến công phía sau Đồn là triền núi dốc do đồng chí Trung đội trưởng Nhâm Ngọc Bình và đồng chí Trung đội phó Đỗ Văn Chung chỉ huy với số quân 15 người.
  3. Mũi tiến công ngôi nhà lá là do kho chứa quân trang, quân dụng phía dưới chân đồi gần con đường đất dẫn lên Đồn Cao do đồng chí Trung đội trưởng Đinh Như Tâm chỉ huy với số quân 9 người
  4. Mũi tiến công ngôi đền thờ Mã Viện do đồng chí Trung đội phó Lê Hai chỉ huy với số quân 9 người, đồng chí Nguyễn Hòa tiểu đội trưởng .

Đánh địch trên Đồn Cao, chúng quanh có tường bao vây, phía trước có cổng vào Đồn và lỗ châu mai, có lô cốt ở góc tường nên tiến công khó khăn.

Hai điểm phía dưới không phải là đồn, trại nên tiến công đánh chiếm có nhiều thuận lợi hơn.

Khi có tiếng súng lệnh trên Đồn Cao, hai tiểu đội phía dưới phải chiếm nhanh hai vị trí đền Mã Viện và kho chứa quân trang, quân dụng, sau đó tăng cường hai mũi tiến công lên Đồn Cao.

Khi trời gần sáng, nếu không chiếm được đồn thì cùng rút xuống dưới chân đồi, bao vây địch cắt đường tiếp tế của chúng.

Kế hoạch được thống nhất, đồng chí Lê Phú gặp đồng chí Chủ tịch xã Minh Châu để đề nghị giúp đỡ cho mượn thuyền, đồng chí chủ tịch vội vã đi mượn thuyền của ngư dân, mượn được một con thuyền có sức chứa khoảng 20 người và một thuyền của gia đình đồng chí chủ tịch chở được khoảng 15 người thế là 2 thuyền của Minh Châu và 2 thuyền của Trung đội từ Cát Bà ra, cả bốn con thuyền chở bốn tiểu đội cùng một bác ngư dân làng Minh Châu dẫn đường cùng 4 người lái thuyền đã xuất phát.

21 giờ, ngày 13 tháng 11 năm 1945 thuyền của ta đến gần đảo Cô Tô thì thấy trên biển gần đảo Cô Tô có một cụm đèn rực sáng, đồng chí Lê Phú vốn là lính thủy, Pháp biết ngay đó là đền của một chiếm hạm Pháp trên biển và lệnh cho anh em tiếp tục áp sát và đổ bộ lên trên đảo Cô Tô. Từ chiếm hạm thỉnh thoảng địch lại quét đèn pha sáng rực lên đảo Cô Tô. Có lẽ đêm ngày 10/11/1945 quân ta đã đánh Vạn Hoa nên tàu Pháp này đến tăng cường bảo vệ Cô Tô.

Nửa đêm, quân ta tiếp cận mục tiêu. Hai tiểu đội đánh đồn cao gặp nhau ở gần đồn địch, dàn quân vào vị trí. Đồng chí Lê Phú lệnh cho chiến sỹ Bùi Văn Ngoạn bắn phát hỏa phóng lựu đạn vào Đồn Cao, mở cuộc tiến công trên toàn đảo Cô Tô. Địch từ vị trí Đồn Cao bắn trả, lúc đầu có phần rời rạc, sau dồn dập, đèn pha từ tàu chiếm hạm chiếu tập trung vào các vị trí quanh Đồn Cao, rồi những quả pháo sáng rực soi sáng khắp cả khu vực xung quanh Đồn, các chiến sỹ được lệnh giãn ra xa nhau. Ta đã có những đồng chí hy sinh trong những giờ phút tiến công đầu tiên khi xung phong vào Đồn Cao như đồng chí Trần Đức Thiện, đồng chí Khuê, đồng chí Lộc... Một số đồng chí khác bị thương như đồng chí Phùng Như Hổ bị thương ở gót chân, Đặng Ngọc Bình bị đạn xuyên qua khuỷu tay. Cứ mỗi lần ánh sáng đèn pha trên trên chiến hạm quét một lần và pháo sáng bắn vào vùng quân ta tấn công, tức thì những tràng đạn tiểu liên ở lô cốt góc phải Đồn cùng những lỗ châu mai quanh tường bắn ra dữ dội. Quân ta không tiến lên được, nằm sát trên mặt đất. Tiếp đến đồng chí Lê Văn Tam rồi đồng chí Đào Duy Hạnh hy sinh, thật dũng cảm và cảm động khi đồng chí Đồng Duy Hạnh bị đạn bắn trúng đầu, biết không thể sống được vội trao lại khẩu súng ngắn và túi thuốc cứu thương cho Nguyễn Văn Sỹ rồi hô: “ Việt Nam độc lập muôn năm”! Thế là đồng chí Đào Duy Hạnh và một số đồng chí đã vĩnh biệt đồng đội trên trận địa, đạn của địch vẫn nổ xung quanh Đồn Cao, hai tiểu đội tăng cường hỗ trợ cùng đánh Đồn Cao vẫn không có tín hiệu phối hợp. Trời đã gần sáng Đại đội trưởng Lê Phú lệnh cho từng tổ rút nhanh ra khỏi dốc Đồn Cao trên núi, tìm nơi ẩn nấp chờ đêm tìm thuyền vượt biển trở về.

Tiểu đội của đồng chí Đinh Như Tâm tiến công ngôi nhà lá là kho chứa quân trang, quân dụng phía dưới chân đồi gần con đường đất dẫn lên Đồn Cao, khi nghe thấy tiếng súng hiệu trên trên Đồn Cao nổ, tiểu đội Đinh Như Tâm cùng nổ súng và ném lựu đạn đồng loạt, địch bị tấn công bất ngờ la ó inh ỏi. Có một số tên chạy loạn ra xung quanh, pháo sáng bắn vào trông rõ cả Đồn Cao. Đạn đại bác và pháo sáng của địch bắn vào liên tục, khi biết được quân ta không chiếm giữ được Đồn Cao mà trời đã gần sáng ta đốt nhà kho bốc cháy và tìm đường rút lui.

Tiểu đội của đồng chí Nguyễn Hòa do Trung đội phó Lê Hai chỉ huy, khi nghe tiếng súng nổ trên Đồn Cao, đồng chí Lê Hai đã hạ lệnh cho tiểu đội nổ súng, cả tiểu đội đồng loạt bắn và ném lựu đạn vào đền thờ Mã Viện, địch bị tấn công bất ngờ, bỏ chạy tán loạn ra khỏi đền, cả tiểu đội vội xông vào trong đền, không còn bóng tên địch nào cả, quân ta vội quay ra bắn theo tiếng động của địch trên đường tháo chạy.

Trời gần sáng tất cả các lực lượng của ta rút lui theo kế hoạch về một địa điểm để chờ đêm tối xuống thuyền rút về Cát Bà, nhưng do không thuộc địa hình các tổ rút về không liên lạc được với nhau.

Mờ sáng chiến hạm của địch cho một thủy phi cơ bay thấp trên đảo Cô Tô quan sát và chỉ điểm cho pháo của chiến hạm bắn vào những mảng rừng núi nơi chúng nghi ngờ quân ta ẩn nấp. Nhưng nguy hiểm hơn là chiến hạm của địch đã bắn đắm hầu hết các thuyền bè đậu ở bến và quanh đảo Cô Tô bất kể đó là thuyền của dân hay là thuyền chở quân ta để hòng triệt đường rút lui của quân ta. Địch từ trên Đồn Cao xuống và địch từ chiến hạm lên càn quét vào các mảng rừng trên đảo. Quân ta vừa đánh trả vừa lẩn tránh nhưng lương khô và nước uống, lựu đạn cạn dần, cuộc chống cự của quân ta trong những ngày tiếp theo14, 15, 16, 17 và đến ngày 18 tháng 11 năm 1945 đần dần yếu đi và cuối cùng bị quân Pháp bắt. Riêng tiểu đội của đồng chí Lê Hai chỉ huy đêm ngày 14/11/1945 tình cờ gặp một chiếc thuyền nhỏ chèo vào bờ thế là cả tiểu đội mỗi người một mảng gỗ quanh đó vừa làm phao vừa làm chèo, sẩm tối hôm sau thuyền về đến đảo Minh Châu địa điểm xuất quân ban đầu.

Những tổn thất trong trận đánh Cô Tô lần thứ hai: Trong trận đánh này ta hy sinh 17 đồng chí và một bác ngư dân đảo Minh Châu tình nguyện dẫn đường. Bị bắt 22 đồng chí và 4 người lái thuyền, 12 đồng chí vượt biển trốn thoát về đảo Cát Bà, bị mất 40 khẩu súng.

Những đồng chí bị địch bắt, bị giam trong tầng dưới của lô cốt Đồn Cao, sau đó giam xuống một chiếc thuyền lớn. Đến ngày 19/11/1945 các chiến sỹ bị đưa ra chiến hạm và bị giam dưới hầm tàu để đưa vào Nam Bộ, chiều 21 tháng 11 năm 1945 chiến hạm cập bến Bạch Đằng, Sài Gòn, các chiến sỹ bị đưa ngay vào Khám lớn Sài Gòn giam giữ. Ngày 23/11/1945 thực dân Pháp mở tòa án binh xét xử, chúng kết án tử hình đồng chí Lê Phú- Đại đội trưởng và Nhâm Ngọc Bình- Trung đội trưởng, vì chúng cho rằng hai đồng chí này vốn ở hải quân Pháp trước kia, được học quân sự của Pháp, nay chống lại nước Pháp, làm phiến loạn, các chiến sỹ khác bị kết án tù chung thân khổ sai, các lái thuyền được tha bổng. Ngày 29 tháng 5 năm 1946 nhà tù Côn Đảo được lập lại lần thứ 2, đã nhận 56 tù mang án tử hình trong đó có Lê Phú và Nhâm Ngọc Bình cùng hơn 400 tù mang án chung thân khổ sai trong đó có 20 chiến sỹ của Đại đội Ký Con. Dù lãnh án tử hình hay chung thân khổ sai, các chiến sỹ Đại đội Ký Con và tất cả các anh em vẫn tiếp tục chiến đấu mới trong tù với những phương thức có thể làm được, kể cả vượt ngục, vượt biển.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, cuộc trường kỳ kháng chiến đã giành thắng lợi, ngày 22/7/1954, hiệp định Giơ-ne-vơ lập lại hòa bình ở Việt Nam và Đông Dương được ký kết. Quân xâm lược Pháp rút lui, các cuộc trao trả tù binh của hai bên được tiến hành, trong số 22 cán bộ, chiến sỹ Đại đội Ký Con, còn lại 15 người được trao trả trong đó có các đồng chí: Lê Phú, Trần Quốc Bảo, Đặng Thừa Hiền, Giang Doanh, Phùng Như Hổ... Còn 7 đồng chí đã hy sinh, trong đó có 1 đồng chí chết trong xà lim Lao 2; 6 đồng chí chết trong các cuộc vượt ngục. Riêng đồng chí Lê Phú và Nhâm Ngọc bình mang án tử hình, nhưng do tình hình thời cuộc thay đổi, ngày 28/2/1947 chúng hủy án tử hình xuống chung thân cho 5 người trong đó có các đồng chí Lê Phú và Nhâm Ngọc Bình.

Năm 1946 trong bài Vệ quốc đoàn chiến khu 3 tự kiểm thảo công tác báo quân Bạch Đằng, số đặc san 19/8/1946 có đoạn: Chúng ta chẳng ai quên được một đêm bộ đội Ký Con đã mạo hiểm xung phong đánh đảo Cô Tô, đốt cháy mấy kho lương thực, của Thực dâm Pháp trước hiệp định sơ bộ.

Hơn sáu mươi năm đã trôi qua dấu vết về trận đánh quân Pháp trên đảo Cô Tô đã dần phai mờ, nhưng trong ký ức của những chiến sỹ Đại độ Ký Con tham gia trận đánh đó không thể nào quên được, bởi chính tại nơi ấy cả tuổi thanh xuân của họ đã để lại nơi chiến trường , có người mãi mãi không bao giờ trở về, có người bị tù đày gian khổ. Nhưng không lịch sử sẽ mãi mãi ghi danh công lao của các liệt sỹ, chiến sỹ, các thế hệ hôm nay và mai sau quyết tâm làm những gì có thể để bảo tồn sự kiện lịch sự nói trên cũng như phát huy truyền thống các chiến sỹ của Đại đội Ký Con giáo dục cho thế hệ mai sai.

Vinh dự cho Đại đội Ký Con đã được Đảng và Nhà nước trao tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân , theo Quyết định số 160/QĐ-CTN. Ngày 28/4/2000. Tên tuổi của Đại đội Ký Con đã được ghi trong từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam.

Trận đánh quân Pháp trên đảo Cô Tô, đêm 13/11/1945 của Đại đội Ký Con là trận đánh thất bại đầu tiên và cũng là trận thất bại nặng nề nhất trong lịch sử chiến đấu của Đại đội, trận đánh không giành được thắng lợi, do vậy ta chưa thành lập được chính quyền cách mạng ở đây, vì thế đảo Cô Tô vẫn nằm dưới ách áp bức, bóc lột của thực dân Pháp. Trận đánh quân Pháp trên đảo Cô Tô đã biểu hiện lòng dũng cảm, khí tiết của các chiến sỹ Đại đội Ký Con, một truyền thống tốt đẹp của đơn vị, Đại đội được nhân dân địa phương che chở, đùm bọc, hỗ trợ trong điều kiện gay go ác liệt nhất.

Đảo Cô Tô không phải là nơi thành lập hay doanh trại của Đại đội Ký Con, mà chỉ là nơi diễn ra trận đánh đồn địch trên đảo nhằm giải phóng đảo Cô Tô, bảo vệ chủ quyền và lãnh thổ của đất nước trong những ngày đầu của cách mạng tháng Tám năm 1945. Có thể nói những ngày tháng đánh quân Pháp trên đảo Cô Tô thì toàn bộ đảo Cô Tô là một chiến trường, trong đó tập trung vào 3 địa điểm mà Đại đội Ký Con phải chiếm được đó là Đồn Cao, kho quân trang, quân dụng và đền thờ Mã Viện nơi một tiểu đội Pháp đóng quân.

Vì những ý nghĩa trên Trận đánh Đồn Cao đêm 13/11/1945 của Đại đội Ký Con trên đảo Cô Tô xứng đáng xếp vào loại di tích Ghi dấu sự kiện lịch sử.

Trận đánh Đồn Cao đêm ngày 13/11/1945 của Đại đội Ký Con trên đảo Cô Tô là di tích ghi dấu sự kiện lịch sử quan trọng chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với vùng biển, đảo Cô Tô, đồng thời là nơi giáo dục tinh thần yêu nước, yêu dân tộc cho thế hệ trẻ hôm nay và mãi mãi mai sau.

Trận đánh quân Pháp trên đảo Cô Tô của Đại đội Ký Con, trong đó phải kể đến sự hy sinh của 17 chiến sỹ đã hy sinh trên mảng đất này, những chiến sỹ đã bị bắt giam và tù đày. Vinh quang này thuộc về các anh hùng liệt sỹ, những chiến sỹ đã k tiếc máu xương của mình hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của người dân đất đảo. Trận đánh Đồn Cao đêm 13/11/1945 còn phải kể đến những đóng góp không nhỏ của lực lượng quần chúng nhân dân, sự hiệp đồng chiến đấu giữa quân và dân để tạo nên khí thế của trận đánh, chúng ta còn phải kể đến tinh thần cảnh giác và thông tin kịp thời của người ngư dân đảo Cô Tô đã kịp thời báo cáo cho chính quyền cách mạng về tình hình quân Pháp đóng quân trên đảo Cô Tô, hòng chiếm giữ đảo để từng bước tấn công vào đất liền, kể đến những người lái thuyền của đảo Cát Bà, đảo Minh Châu, đảo Quan Lạn, đảo Ngọc Vừng đã tham gia đưa chiến sỹ của Đại đội Ký Con đến đảo Cô Tô để đánh quân Pháp mặc dù đường xa, đi trên biển, phương tiện thô sơ lại đi đến những nơi chiến trường, tất cả họ đã bấp chấp nguy hiểm, sẵn sàng hy sinh tính mạng của mình để bảo vệ đảo Cô Tô cũng như bảo vệ vùng mỏ thân yêu trong những ngày đầu của cách mạng. Họ là tấm gương tiêu biểu, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của mỗi người dân trên các tuyến đảo của Quang Ninh.

Trận đánh quân Pháp trên đảo Cô Tô của Đại đội Ký Con tuy không giành được thắng lợi nhưng đã thể hiện ý chí tiến công địch, bảo vệ độc lập chủ quyền của quân và dân khu mỏ, trận đánh không giành được thắng lợi về quân sự nhưng nó đã biểu thị ý thức chấp hành kỷ luật nghiêm minh của những người chỉ huy Đại đội, biểu thị khí tiết, lòng dũng cảm của những chiến sỹ Đại đội Ký Con. Trận đánh cổ vũ khí thế cách mạng trong những ngày đầu lập nước, nó có tác dụng sâu sắc trong cuộc kháng chiến chống quân Pháp sau này.

Là bài học kinh nghiệm về đường lối lãnh đạo, chỉ đạo của những người chỉ huy trong việc ra mệnh lệnh chiến đấu, một mệnh lệnh đưa ra trong khi đánh một đồn giặc ở đảo xa dất liền, phương tiện tàu thuyền không có, đều phải dựa vào quần chúng nhân dân.

 


Tìm kiếm theo chuyên mục - nội dung - ngày tháng

Tin Nóng
Tin tiêu điểm

Lịch công tác trống

Website liên kết
Thống kê truy cập
Hôm nay: 466
Đã truy cập: 3661305