NGUYỄN BÌNH - TỔNG CHỈ HUY “ VIỆT MINH QUÂN” TRONG CUỘC KHỞI NGHĨA THÀNH LẬP CHIẾN KHU ĐÔNG TRIỀU NGÀY 8 THÁNG 6 NĂM 1945 VỊ TƯỚNG TÀI BA VÀ HUYỀN THOẠI

06/06/2022 09:29

Nguyễn Bình sinh năm 1908, tuổi Mậu Thân, tên thật của ông là Nguyễn Phương Thảo, thường được gọi là Ba Thảo. Quê ông : Làng Tịnh Tiến (nay thuộc xã Giai Phạm, huyện Mỹ Văn,tỉnh Hưng Yên) xưa là chốn quê giáp sông biển dân tứ xứ tụ tập khai hoang, lập ấp nổi tiếng là dân trại, dân nghịch. Cụm dân cư này có 7 làng Bần nên gọi là Tổng Bần. Mảnh đất này cũng sinh ra Tán Thuật (Nguyễn Thiện Thuật) với khởi nghĩa Bãi Sậy đã được ghi trong sử sách. Cũng chính nơi đây là quê hương của Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh.
Nguyễn Bình tham gia Việt Nam Quốc dân đảng năm 1927, sau bị thực dân Pháp bắt tù 5 năm khổ sai tại Côn Đảo, giam chung với các chiến sỹ cộng sản như Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Tại đây ông đã được chứng kiến những tấm gương đấu tranh kiên cường, tinh thần lạc quan, đoàn kết của các tù nhân Cộng sản, được giác ngộ và dần nghiêng hẳn sang lập trường vô sản. Trong một cuộc ẩu đả tại Côn Đảo để bảo vệ các đồng chí tù Cộng sản ông bị hỏng một mắt nên sau này thường xuyên đeo kính dâm, vì vậy quân Pháp và tay sai thường gọi ông là “tướng độc nhãn Long”. Năm 1935 hết hạn tù Nguyễn Phương Thảo bị địch đưa về quản thúc tại quê nhà, song ông vẫn tìm cách bắt liên lạc với các bạn tù khi xưa như Tô Hiệu,Trần Huy Liệu, Lê Phùng, Tô Quang Đẩu (sau này làm thứ trưởng bộ Nội vụ). Đầu năm 1943 ông được xứ ủy Bắc Kỳ giao nhiệm vụ xuống Hải Phòng xây dựng phong trào cách mạng, tìm sắm mua vũ khí để xây dựng lực lượng vũ trang.
Cũng bắt đầu từ đây Ba Thảo lấy bí danh là Nguyễn Bình. Từ Hải Phòng Nguyễn Bình cùng với các đồng chí của mình mở rộng phong trào cách mạng ra vùng Đông Bắc xây dựng được nhiều cơ sở Việt Minh trong công nhân, ở các chùa, các đồn bảo an của địch. Ông còn chỉ huy nhiều trận đánh và đều giành được thắng lợi. Chùa Phương Mỹ (huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng) là một cơ sở cách mạng, tại đây ngày 10/4/1945 Nguyễn Bình và Sư Tuệ (Nguyễn Kiên Tranh-người đang gây dựng cơ sở Việt Minh ở Đông Triều) đã gặp nhau nhất trí sáp nhập hai tổ chức của hai đường dây Việt Minh- Đông Triều và Hải Phòng- làm một, tập trung mọi khả năng khẩn trương xây dựng chiến khu. Hai ông đã có sự phân công: Nguyễn Bình phụ trách quân sự, binh vận và trang bị vũ khí cho nghĩa quân, chọn người thích hợp đưa vào Đông Triều để huấn luyện quân sự và làm lực lượng nòng cột cho chiến khu. Sư Tuệ phụ trách dân vận, xây dựng cơ sở cách mạng, lo đặc trách về lương thực cả trước mắt và lâu dài. Giữa tháng 4/1945 Nguyễn Bình đã vào Đông Triều cùng Sư Tuệ và Nguyễn Văn Đài bàn kế hoạch hoạt động chuẩn bị xây dựng chiến khu. Ngày 20/4/1945 đội võ trang tuyên truyền Việt Minh đầu tiên ở Đông Triều được thành lập, Đỗ Duy Phúc (Một Lộc) do Nguyễn Bình cử vào làm đội trưởng.
Đến giữa tháng 5/1945 lực lượng vũ trang tập trung được thành lập tại chùa Bác Mã dưới sự chỉ huy trực tiếp của Nguyễn Bình. Chùa Bác Mã trở thành đại bản doanh của ban cán sự Việt Minh khu căn cứ cách mạng Đông Triều.Nhiều cuộc họp quan trọng giữa Trần Cung, Hải Thanh, Sư Tuệ, Nguyễn Bình, Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Hữu Hiền đã diễn ra để chuẩn bị cho ngày khởi nghĩa, và quyết định: Ngày khởi nghĩa Đông Triều là ngày mồng 8 tháng 6 năm 1945. Đánh chiếm huyện lỵ Đông Triều do Nguyễn Bình trực tiếp chỉ huy, có Nguyễn Hữu Hiền (đồn trưởng đồn bảo an Đông Triều) làm nội ứng.
Ở Mạo Khê và Tràng Bạch do Trần Cung và Nguyễn Văn Đài cùng phối hợp. Hải Thanh phụ trách đánh chiếm Chí Linh. Sư Tuệ phụ trách việc tước vũ khí ở phủ lỵ Kinh Môn. Đông Triều là hướng chính, đồng thời cũng là trọng điểm nên phải tập trung lực lượng lấy cho được huyện lỵ. Vì là đội quân tiêu biểu cho lực lượng cách mạng ở cả khu vực nên mỗi đội viên đều đeo một băng tròn ở cánh tay trái, nền vải đỏ thêu ba chữ vàng “Việt Minh Quân”. Nguyễn Bình là tổng chỉ huy cuộc khởi nghĩa trực tiếp phụ trách lấy huyện lỵ Đông Triều đeo trên ngực miếng vải đỏ thêu tắt ba chữ T. C. H. (tổng chỉ huy). Năm giờ sáng ngày 8/6/1945 từ chuà Bác Mã Nguyễn Bình ra lệnh xuất quân, Vũ Đình Thiệp là thư ký riêng của Nguyễn Bình và là cán bộ của huyện Đông Triều (người xã Hồng Phong, nay là Phường Hồng Phong) được giao nhiệm vụ dẫn đường. Đoàn quân đi tắt từ rìa phía Nam của chùa Bác Mã hướng thẳng ra đường18 đoạn Cổ Oeo dưới dốc Bình Lục. Trời mưa lất phất,đường trơn khó đi,phải lội qua sông Đạm và một con ngòi. Đoàn ra đến đường 18 thì mặc quần áo chỉnh tề và sắp xếp đội ngũ. Tổ cầm cờ có 3 người đi đầu, tiếp đến là 4 tiểu đội, mỗi tiểu đội có trên 10 người đi theo đội hình hàng dọc, hai tiểu đội đi trước, hai tiểu đội đi sau.
Đi đầu mỗi tiểu đội có một súng trường. Người nào cũng tự giác đứng vào đội ngũ, tất cả đều là cán bộ, đều là đội viên. Nguyễn Bình đi theo đường chính đã lên đến đồn Đông Triều trước với đội Hiền. Khi đoàn quân khởi nghĩa tiến đến trước cửa nhà thờ nhỏ của phố Đông Triều Nguyễn Bình xuống đón. Qua ngã tư phố thấy nhà dân còn đóng cửa Nguyễn Bình cho đoàn quân dừng lại, bảo Nguyễn Đình Thiệp nói thật to cho dân biết đây là đoàn quân Việt Minh về cùng đồng bào giải phóng Đông Triều. Đồng bào thấy cờ Việt Minh, vì trời mưa nên sao vàng nhuộm nghệ chảy ra loang lổ cả, tưởng là thổ phỉ nên sợ phải đóng cửa. Khi biết chắc là quân Việt Minh về nhà nào cũng mở toang cửa chào đón quân giải phóng. Theo lệnh của Nguyễn Bình mỗi khẩu súng được bắn một viên đạn làm hiệu lệnh, mọi người đều hô xung phong và chạy thẳng lên đồn. Lúc này là khoảng 7 giờ 30 phút ngày 8/6/1945. Nguyễn Hữu Hiền- đồn trưởng đồn bảo an Đông Triều được Nguyễn Bình và sư Tuệ giác ngộ trở thành cán bộ Việt Minh- đã đứng đón ở cổng đồn và cùng Nguyễn Bình ra lệnh cho lính gác mở cổng to cho quân Việt Minh vào trong đồn.( tác giả bài viết này đã có cuộc trao đổi với đ/c Nguyễn Quang Nhạ nguyên tỉnh ủy viên, bí thư huyện ủy Đông Triều-nay là thị xã.Đông Triều- đ/c cho biết đồn bảo an lúc đó gọi là đồn Trung,địa danh đó chính là khu trụ sở làm việc của thị ủy Đông Triều bây giờ-NQL).
Dưới sự chỉ huy của Nguyễn Bình nghĩa quân đã vào kho lấy súng rất nhanh chóng và thuận lợi. Mỗi người một súng trường có đầy đủ lưỡi lê,dây da bao đạn.Những người vào sau phải lấy 2 khẩu mới hết súng. Sau khi được trang bị đầy đủ súng đạn đoàn quân tỏa ra huyện đường và nhà dây thép (bưu điện) có sự trợ giúp của tiểu tổ Việt Minh phố Đông Triều gồm Nguyễn Văn Giác, Tạ Bá Bến, Phạm Văn Đông, các anh Kha, Sỹ bắt tri huyện Đỗ Văn Cang, thu các giấy tờ tài liệụ.Toàn bộ binh lính trong đồn đều đi theo cách mạng. Một cuộc mít tinh của quần chúng đã được tổ chức ngay tại cổng huyện lỵ, Nguyễn Bình thay mặt ban chỉ huy quân khởi nghĩa tuyên bố giải tán chính quyền tay sai Nhật và kêu gọi nhân dân tích cực tham gia mặt trận Việt Minh, nhập hàng ngũ cách mạng quân.
Đông Triều khởi nghĩa thành công, xóa bỏ bộ máy ngụy quyền huyện; ngụy quyền cấp xã hoàn toàn bị tan rã. nhân dân đã giành chính quyền từ tay phát xít Nhật. Đông Triều là huyện được giải phóng đầu tiên của tỉnh Hải Dương và vùng Đông Bắc Tổ quốc. Các cánh phối hợp như Chí Linh, Kinh Môn, Thủy Nguyên tuy chưa được giải phóng, nhưng nhân dân cũng đã làm chủ được nhiều khu vực trong từng huyện.
Chiều ngày 8/6/1945 ban lãnh đạo khởi nghĩa đã thành lập Ủy ban quân sự cách mạng do Nguyễn Bình đứng đầu. Sáng ngày 9/6/1945 tại đình làng Hổ lao (xã Tân Việt) một cuộc mít tinh lớn đã được tổ chức, Trần Cung thay mặt ban lãnh đạo khởi nghĩa tuyên bố thành lập chiến khu cách mạng mang tên “Đệ tứ chiến khu” hay còn gọi là “chiến khu Đông Triều”,“chiến khu Trần Hưng Đạo”, lực lượng vũ trang mang tên “du kích cách mạng quân”, bộ đội tập trung do Nguyễn Bình làm chỉ huy trưởng. Ngày 20/7/1945 Nguyễn Bình chỉ huy các lực lượng của chiến khu đánh chiếm tỉnh lỵ Quảng Yên, 500 lính bảo an đầu hàng, ta thu toàn bộ vũ khí cùng quân trang, quân dụng, Quảng Yên là tỉnh lỵ đầu tiên của cả nước được giải phóng trong thời kỳ tiền khởi nghĩa. Ngày 23/8/1945 lực lượng của chiến khu dưới sự chỉ huy của Nguyễn Bình phối hợp với các lực lượng địa phương giải phóng Hải Phòng, tỉnh lỵ Kiến An, tiến tới giải phóng hoàn toàn miền duyên hải Bắc bộ. Cuối tháng 9/1945 ông chỉ huy đánh tan bọn phỉ Đường Thế Dân, chiếm tàu chiến Cray-rắc của Pháp trên vùng biển Hòn Gai, sau đó các chiến sỹ dùng tàu này (được đổi tên thành tàu Ký Con) chiến đấu và bắt sống tầu Auddacieux của Pháp, thu toàn bộ vũ khí.
Cuối tháng 10/1945 Nguyễn Bình được Bác Hồ và Trung Ương Đảng cử vào Nam với tư cách là phái viên quân sự của Trung Ương, (Ủy viên quân sự toàn Nam Bộ,Tư lệnh Bộ Tư lệnh Nam Bộ kiêm Tư lệnh trưởng bộ Tư lênh khu 7) nhằm tăng cường lãnh đạo, chỉ huy các lực lượng vũ trang. Trước khi đi Bác Hồ nói với Nguyễn Bình: “Tôi giao nhiệm vụ cho đồng chí Nguyễn Bình ái quốc, ái dân và bình thiên hạ cho an sinh hòa mục. Bác giao việc chỉ huy bộ đội Nam Bộ cho chú đó. Chú hãy tỏ ra xứng đáng với lòng tin cậy của Bác và của đồng bào”. Không phụ lòng trước sự tin yêu, ủy thác của Bác Hồ; với tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức kỷ luật cao, tận tụy thực hiện nhiệm vụ, tác phong sâu sát; với lòng dũng cảm và cả tính ưa hành động Nguyễn Bình đã nhận được lòng mến mộ, tin tưởng và kính trọng của đồng bào, đồng chí Nam Bộ và của các lực lượng trung lập; kẻ thù vừa khiếp sợ, vừa kính nể mệnh danh Ông là “tướng độc nhãn long”. Trong hồi ký của mình Thượng tướng Trần Văn Trà viết: “anh Bình là người có tài và rất anh dũng. Rõ ràng anh Bình là một nhân vật lịch sử, hay nói cao hơn nữa là một danh nhân quân sự”. Nhiều lần Nguyễn Bình vào Sài Gòn để nghiên cứu tình hình và đã thành lập Ban công tác nội thành, tiền thân của lực lượng biệt động Sài Gòn. Sau này ngày 6/1 hằng năm được lấy làm ngày truyền thống của lực lượng biệt động Sài Gòn. Năm 1947 ông vinh dự được đứng trong hàng ngũ của Đảng sau nhiều năm tự nguyện xả thân chiến đấu cho lý tưởng cộng sản.
Ngày 25/11/1948, Nguyễn Bình đã được chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh /SL phong quân hàm Trung tướng. Ông trở thành vị trung tướng đầu tiên và duy nhất của quân đội ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp. (Đây là sắc lệnh đầu tiên phong quân hàm cấp tướng cho 11 cán bộ chỉ huy quân đội ta, trong đó có 9 người được phong Thiếu tướng, một người được phong hàm Đại tướng là Võ Nguyên Giáp, một người hàm Trung tướng là Nguyễn Bình). Nhân dân và các lực lượng vũ trang Nam Bộ đều coi đó là vinh dự của Nam Bộ. Ngày 29/9/1951 trên đường ra Bắc công tác trung tướng Nguyễn Bình đã bị địch phục kích và hy sinh tại phum Xen Cơ Lông, huyện Lang Phát, tỉnh Ra Ta Na Ky Ni, ven bờ sông Sê San vùng Đông Bắc Căm Pu Chia, khi đó ông mới 43 tuổi. Ông mất đi là một tổn thất lớn cho nhân dân và Quân đội nhân dân Việt Nam. Ghi nhận công lao to lớn của Trung tướng liệt sỹ Nguyễn Bình tháng 2 /1952 Hồ Chủ Tịch và Chính phủ truy tặng Ông Huân chương Quân Công hạng Nhất.
Nói về trung tướng Nguyễn Bình, đại tướng Võ Nguyên Giáp từng viết: “Trung tướng Nguyễn Bình là một vị tướng có công lao lớn với quân đội và nhân dân, không những ở chiến khu Đông Triều mà cả trong thời kỳ đảm nhiệm trọng trách ở Nam Bộ. Chính tôi theo chỉ thị của Bác đã trực tiếp nói chuyện với đồng chí và chuyển lệnh nhận nhiệm vụ vào Nam, đồng chí đã phấn khởi và khẩn trương lên đường vào miền Nam và đã có những cống hiến quan trọng trong nhiệm vụ mới”. Gần 50 năm sau ngày Trung tướng Nguyễn Bình hy sinh, đầu năm 2000 đoàn công tác của Bộ quốc phòng đã tìm thấy hài cốt của Ông và quy tập về nghĩa trang liệt sỹ thành phố Hồ Chí Minh, được đặt ở vị trí trang trọng nhất. Ngày 11/3/2000 lễ viếng và truy điệu Trung tướng liệt sỹ Nguyễn Bình diễn ra trong không khí trang nghiêm với sự tham dự của nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Bộ quốc phòng, bạn bè và gia quyến của Ông. Trung tướng Nguyễn Bình đã được Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang và Huân chương Hồ Chí Minh. Ông cũng được đúc ba pho tượng bán thân bằng đồng, được đặt tại ba nơi: Thành phố Hồ Chí Minh, quê hương ông và nhà lưu niệm Chiến khu Đông Triều.
Ngày nay có một con đường lớn thuộc trung tâm phường Đông Triều- thị xã Đông Triều tỉnh Quảng Ninh mang tên ông: Đường Nguyễn Bình; một ngôi trường Trung học phổ thông của thị xã mang tên Ông: Trường THPT Nguyễn Bình. Đó chính là biểu tượng của lòng tự hào, sự biết ơn, sự kính trọng một con người, một vị tướng tài đã cùng đồng chí, đồng đội làm nên sự kiện lịch sử trên quê hương Đông Triều trong những ngày tiền khởi nghĩa cách mạng tháng Tám năm 1945. Kết thúc bài viết này xin được trích lời điếu của Đại tướng Phạm Văn Trà, nguyên ủy viên bộ chính trị, bộ trưởng Bộ quốc phòng trong buổi lễ truy điệu Trung tướng Nguyễn Bình tại Bộ tư lệnh Quân khu 7 thành phố Hồ Chí Minh: “Đó là một người cộng sản kiên trung, một tướng lĩnh quả cảm, nghĩa hiệp, giàu đức hy sinh, lòng dũng cảm và tài thao lược. Đồng chí đã có những cống hiến to lớn đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Tên tuổi Nguyễn Bình luôn luôn gắn với chiến khu Đông Triều, chiến khu duyên hải Bắc bộ, với Sài Gòn- Chợ Lớn, Đông Nam bộ và Nam Bộ. Cuộc đời và sự nghiệp của đồng chí là một tấm gương sáng cho các thế hệ cán bộ, chiến sỹ quân đội nhân dân Việt Nam học tập, noi theo. Công lao và tên tuổi của đồng chí mãi mãi sáng ngời trên Đài Tổ Quốc Ghi Công”.
Trung tướng Nguyễn Bình sống mãi trong tâm thức các thế hệ người dân Đông Triều.

Nguồn truyền hình thị xã Đông Triều



Gửi ý kiến phản hồi

Tìm kiếm theo chuyên mục - nội dung - ngày tháng

Tin Nóng
Tin tiêu điểm

Lịch công tác trống

Website liên kết
Thống kê truy cập
Hôm nay: 145
Đã truy cập: 136823